QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đắng chát… đời làm muối!

Giọt mồ hôi lăn dài trên gò má đen trạy vì rám nắng của diêm dân rơi xuống những ô thửa chứa đầy nước biển sóng sánh. Dưới cái nắng gay gắt, những hạt muối kết tinh có lẫn mồ hôi, công sức của họ sẽ trắng tốt và nồng nàn hơn. Vậy mà hiện nay, mọi cố gắng của cả muối và người làm ra nó hầu như đã bị đối xử bạc bẽo hơn bao giờ hết.

° KHỔ CẢ MỘT ĐỜI

Giọt mồ hôi lăn dài trên gò má đen trạy vì rám nắng của diêm dân rơi xuống những ô thửa chứa đầy nước biển sóng sánh. Dưới cái nắng gay gắt, những hạt muối có lẫn mồ hôi, công sức của họ sẽ trắng tốt và nồng nàn hơn. Vậy mà hiện nay, mọi cố gắng của cả muối và người làm ra nó hầu như đã bị đối xử bạc bẽo hơn bao giờ hết.

Muối đã vào chính vụ, nhưng sau những trận mưa kéo dài vào cuối tháng 5, bà con diêm dân vẫn còn bần thần chưa muốn dọn lại ruộng để làm. Bởi lẽ, giá trị hạt muối đã hạ xuống thấp nhất so với từ trước đến nay.

Tôi đã có cuộc hành trình đến với vùng muối Hòn Khói - một nơi từ bao đời nay, người dân 3 xã Ninh Thủy, Ninh Diêm, Ninh Hải đã cùng “sống chết” với muối. Cũng như các địa phương làm muối khác, trên những ruộng muối, diêm dân thưa thớt, lặng im với nét mặt buồn rười rượi. Chốc chốc, họ lại ngẩng lên nhìn xa xăm ra những nơi ruộng muối đã được chuyển sang nuôi trồng thủy sản như có gì tiếc nuối. Trong số những người đang dọn ruộng ở Ninh Hải được hỏi chuyện, ông Nguyễn Hữu Thành ở thôn Đông Hà không ngại kể ra những nỗi đau của diêm dân: “Ngày xưa, đời ông bà - bố mẹ chúng tôi chỉ làm muối chứ có thêm nghề ngỗng gì đâu mà vẫn sống được. Còn bây giờ, sống bằng hạt muối… Ôi! Đắng lắm chú ơi! Làm cả ngày không đủ nuôi miệng mình huống gì nói tới gia đình, vợ con. Giá muối đã thấp lại còn có nhiều cách thu mua rất kỳ lạ. Hiện nay, đầu nậu có 2 cách mua muối: mua bằng cách đo hoặc mua bằng cách cân. Muối đo giá 150 ngàn đồng/tấn, còn muối cân thì giá từ 70 đến 80 ngàn đồng/tấn. Thực ra, giá cả cũng chẳng có gì mới hơn. Đây chỉ là một hình thức đánh lừa cảm giác diêm dân; vì, tính ra 1 “tấn” muối đo bằng 1,5 đến 1,7 tấn muối cân. Do đó, đường nào diêm dân cũng lỗ mà không biết kêu ai, thôi thì có người mua cứ bán chứ muối đâu thể nào thay cơm được. Nếu nhà nào có lao động còn có thể lấy công làm lời, chứ thuê là kể như mất ăn luôn… Cả tấn muối cân chỉ bán được 7 - 8 chục ngàn thì làm gì hả chú? Tiền này còn phải chia cho bạn cào, bạn gánh chứ đâu chỉ có mình mình. Trong khi đó, một trận mưa to trút xuống là muối tan hết chẳng còn gì. Phải đợi đến 15 - 20 ngày sau mới có thể làm lại được; vậy thì sống bằng gì hả chú? Thôi, chú cứ đi tìm hiểu một vòng cho biết nỗi khổ của diêm dân rồi chiều ghé lại nhà, tôi kể chuyện làm muối cho nghe”.

Những câu hỏi dồn của ông Thành cứ lởn vởn trong đầu, kích thích tôi phải cất công tìm hiểu nghề làm muối một lần cho biết - cái nghề mà từ xa xưa thế hệ cổ nhân đã sống nhờ nó. Đến xã Ninh Thủy, giữa đồng muối mênh mông hơn 2 ha, anh Trịnh Văn Mách ở thôn Phú Thạnh lặng lẽ lội bì bõm đánh nước trong cái hồ chịu để tạo nồng độ cho muối kết tinh. Anh Mách cho biết: “Trung bình, muốn có được 1 lứa muối phải dang từ 4 đến 5 nắng. Một sào (500m2) phải bỏ ra từ 15 - 20 công mới thu được khoảng 5 tạ muối đo, nhưng chỉ bán được với giá 150 ngàn đồng/tấn nên diêm dân lỗ hết chỗ nói. Hơn 20 năm nay, tôi mới thấy hạt muối bị đối xử tệ như thế”. Thật ra từ hồi nào đến giờ tôi mới nghe đem muối đo mà biết được chính xác trọng lượng thay vì dùng cân. Một vài diêm dân cho hay: Mặc dù đưa ra giá 150 ngàn đồng/tấn muối đo nhưng tính ra nó cũng như 7 - 8 chục ngàn/tấn muối cân. Được biết, cách đo muối của những đầu nậu dựa vào cách đo thể tích rồi đem quy ra tấn. Điều đáng buồn là diêm dân biết được cái kiểu ép giá rất tế nhị đó nhưng không làm gì được. Vì cả khu Hòn Khói chỉ có một vài người mua mà người làm thì không tính hết. Còn nếu trữ muối thì diêm dân không có tiền để trang trải cuộc sống.

Tối đến, tôi quyết định ở lại nhà ông Thành để nghe ông kể chuyện về muối. Dưới ánh đèn điện, nét mặt rầu rĩ của ông khi kể hình như đủ gợi lên nỗi khổ của hơn 800 con người lao động nghề muối ở khu vực Hòn Khói. Ông cho biết: “Nghề muối không thể làm giàu được. Mỗi khi được mùa thì no lưng lửng, còn mất mùa thì cái đói là không tránh khỏi. Đồng ý là lấy nước của trời, nhưng đâu phải mà tự nhiên mà có muối được. Muốn muối kết tinh phải làm đúng theo quy trình kỹ thuật, có hệ thống: từ hồ dang cấp 1 đến hồ dang cấp 2 qua hồ chứa vào hồ chịu rồi mới cho ra ruộng kết tinh; nhưng còn phải chờ đến 4 - 5 nắng mới cào được hạt muối chứ đâu có dễ ăn như mọi người vẫn nghĩ”. Nói ra kỹ thuật làm muối, hình như ông muốn giải thích về cái cực của đời diêm dân và cũng trút bớt được phần nào gánh nặng trong lòng…

Tờ mờ sáng, khi trên bầu trời trong veo vẫn còn lơ lửng một vài vì sao le lói báo hiệu một ngày nắng gắt. Tự lúc nào, gia đình ông Thành đã dậy chuẩn bị bữa ăn sáng để kịp tháo con nước cho lứa muối sẽ cào vào cuối tuần. Tôi cũng theo ông ra ruộng. Như ngày hôm trước, trên các ruộng muối, mọi hoạt động vẫn lặng lẽ, buồn đến khó tả. Ông Thành liên tục đưa tay kéo nhanh cái trang để đẩy các tạp chất vào bờ. Ông giải thích: Nếu còn lẫn tạp chất, khi kết tinh sẽ cho ra hạt muối không tốt. Rồi cứ thế, ông lẳng lặng làm công việc của mình. Dáng ông đổ dài trên ruộng muối dưới cái nắng gay gắt của buổi sáng mùa hè. Những giọt mồ hôi lăn dài trên gò má đen trạy của ông do cả đời chịu ảnh hưởng của nắng và hơi mặn chát của nước biển. Đó cũng là màu da đặc trưng của diêm dân - màu da của sự khắc khổ và lòng kiên trì trong cuộc đời họ. Thật không ngoa khi người ta vẫn thường nói: “làm cho kịp chứ để hết nắng” để chỉ nỗi vất vả của người làm muối.

° CÓ CÒN HƯỚNG ĐI NÀO CHO DIÊM DÂN?

Ở Ninh Hòa, làm muối được xem như nghề truyền thống; bởi từ rất lâu đời, nơi đây đã có các địa danh như: Ngọc Diêm (Ninh Ích), Ninh Diêm và nhiều cái tên chỉ nghe thôi đã đủ cảm nhận được vị mặn của biển. Nhưng qua thời gian, sự hấp dẫn của nghề nuôi trồng thủy sản đã thôi thúc nhiều diêm dân phá ruộng muối để làm đìa nên diện tích đã bị thu hẹp nhiều. Hiện nay, toàn huyện chỉ còn khoảng trên 700 ha ruộng muối nhưng vẫn không được các ngành chức năng quan tâm đầu tư thích đáng. Theo ông Lê Minh An - Chủ tịch UBND xã Ninh Diêm: “Tính từ tháng 2 đến nay, thu nhập của một diêm dân chỉ đến 300 ngàn đồng. Giá muối thấp lại còn bị ép trong khi cân nên đời sống nhân dân rất khó khăn. Nếu được cân chính xác, đồng thời giá muối cao từ 250 đến 300 ngàn đồng/tấn thì diêm dân mới có thể sống được. Nhưng hiện nay, Nhà nước chưa có ưu tiên gì thích đáng cho người làm muối”. Còn các ông Nguyễn Thành Công - Chủ tịch UBND xã Ninh Thủy và Nguyễn Văn Chín - Chủ nhiệm Hợp tác xã Muối Ninh Hải thì có cùng ý kiến: “Nhà nước cần đặt ra khung giá sàn mua muối để diêm dân bớt khổ. Đồng thời, muốn dễ quản lý trong việc mua bán muối cần quy định cho các công ty muối mua muối của diêm dân để dễ kiểm soát và tránh thất thu thuế như việc bán cho đầu nậu hiện nay. Về lâu dài, rất mong các ngành chức năng có chính sách đầu tư thích đáng cho diêm dân sản xuất muối công nghiệp. Vì khu vực này vẫn có đủ khả năng đáp ứng được các công đoạn sản xuất muối công nghiệp”.

Tôi đã đem ý kiến của chính quyền địa phương và những thắc mắc của bà con về việc hỗ trợ giá thu mua muối như tỉnh Bạc Liêu đã làm, đến gặp ông Tống Trân - Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Ông Trân cho biết: “27.700 tấn muối là chỉ tiêu huyện giao cho các xã có làm muối. Nhưng đến thời điểm này, lượng muối thu được chẳng được bao nhiêu. Thực tế trên địa bàn, diện tích ruộng muối không ổn định vì nhiều diêm dân cứ chuyển qua lại giữa nuôi trồng thủy sản và làm muối nên rất khó quản lý. Hiện nay, Liên hiệp Hợp tác xã Ninh Hòa đã đại hội xong, trong nghị quyết có đưa ra định hướng thu mua muối để tạo đầu ra cho sản phẩm của diêm dân nhưng vẫn còn một số vướng mắc giải quyết chưa xong. Nếu Liên hiệp Hợp tác xã hoạt động thực sự và khống chế được giá sàn mua muối thì mới có hy vọng cứu được diêm dân”. Ông Trân cũng tỏ ra rất lo ngại cho hoàn cảnh của diêm dân: “Diện tích muối ngày càng bị thu hẹp nhưng lao động nghề muối khá đông, dễ xảy ra tình trạng dôi dư, nhàn rỗi. Không biết rồi đây sẽ giải quyết lực lượng lao động này thế nào? Thay đổi được nếp sống diêm dân là cả một quá trình; về lâu dài, khi khu du lịch vịnh Vân Phong mở ra thì cũng cần có chiến lược giải quyết việc làm cho diêm dân vùng này”.

Trên thực tế, vùng muối Hòn Khói chỉ sản xuất muối ăn. Những năm trước, khi Công ty Muối Khánh Hòa chưa thực hiện cổ phần, Công ty đã tiến hành mua muối của dân nhưng đến nay thì không còn mua nữa. Vậy là diêm dân cứ bán trôi nổi được khoản nào hay khoản đó. Chỉ cần tư thương đồng loạt ngừng mua muối là muối sẽ bị rớt giá thậm tệ. Chúng tôi đã thử so sánh giữa giá muối hiện nay tại ruộng và giá muối I-ốt thì giá thành 2 loại chênh lệch nhau hơn 100 lần. Vì giá muối ở ruộng hạ chỉ còn 60 - 70 đồng/kg nhưng giá muối I-ốt vẫn giữ nguyên 1.000 đồng/kg.

Rời Hòn Khói khi trời chiều đang chuyển giông, nhìn trời mây xám xịt, hình ảnh những diêm dân cả một đời “bán mặt cho nước, bán lưng cho trời” cứ lại hiện ra trong tôi. Văng vẳng bên tai vẫn còn đọng lại giọng nói của ông Thành: “Khổ mấy cũng được, miễn là muối có giá”. Mong sao những cơn giông đừng làm mưa quá sớm mà tan đi những hạt muối được kết tinh từ mồ hôi, công sức lao động và nước biển; đừng làm tan đi hy vọng sống nhờ vào hạt muối của họ. Tôi thầm hỏi: Không biết đến bao giờ hạt muối mới được quan tâm đúng mức, diêm dân được đối xử công bằng với công sức họ đã bỏ ra?… Chỉ có điều, trong cuộc sống hàng ngày, ai ai cũng dùng đến muối; nhưng không biết họ có tạm quên đi nhịp sống xô bồ của cuộc đời để nghĩ về nguồn gốc những hạt muối?

Hòn Khói, tháng 6-2003.

LÊ HOÀNG TRIỀU

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net