QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 3)

ĐẺ NGANG : Đứa bé không lọt ra được khỏi bụng mẹ vì nằm ngang, đôi khi cánh tay lọt ra trước. Đây là trường hợp sinh khó, ngày xưa, có thể làm chết mẹ lẫn con. Ngày nay phải mổ. Xưa, người mẹ không biết thai nằm như thế nào trong bụng, ngày nay nhờ siêu âm, thấy rõ, nên có thể điều chỉnh thai nhi. Ngày xưa, các bà mẹ mang thai kiêng ăn cua, sợ SINH NGANG, vì cua bò ngang. Đó chỉ là một lối giải thích không có cơ sở khoa học.

ĐẺ NGƯỢC : Đứa bé lọt lòng mẹ chân ra trước, thông thường đầu lọt ra trước, nên gọi là ĐẺ NGƯỢC. Đây là trường hợp sinh khó, đứa bé bị ngộp thở, có thể chết. Ngày nay phải mổ. Xưa, người mẹ không biết thai nằm như thế nào trong bụng, ngày nay nhờ siêu âm, thấy rõ, nên có thể điều chỉnh thai nhi.                       

ĐẺ NON : Còn gọi là TIỂU SẢN, đẻ con trước ngày tháng quy định, thường trẻ chết sau vài ngày sinh. Nếu sống, trẻ rất ốm yếu, sinh nhiều bệnh.

ĐẺ SINH ĐÔI : (Xem SONG SINH)

ĐẺ XUÔI : Đầu thai nhi ra trước, là sinh thuận, không như ĐẺ NGƯỢC.

ĐEM CON BỎ CHỢ : Một trong những cách làm cho trẻ khó nuôi, tránh được ma quỷ ám là đem con bỏ chợ. Người mẹ bế con đến chợ, đặt con nằm đó rồi bỏ đi. Một lát sau, có người được cha mẹ đứa bé nhờ từ trước tới ẵm đứa bé về nhà mình. Ngay chiều tối hôm đó hay vài ngày sau, người mẹ sẽ đến xin chuộc đứa bé về. Như thế, tin rằng đứa bé sẽ hết đau yếu, dễ nuôi. Tại sao lại phải đưa đến chợ ? Có người cho rằng Chợ, đọc trại là trợ. Trợ là trợ giúp. Đứa bé cần sự trợ giúp của một người để khỏi đau yếu, béo tốt, dễ nuôi. Vậy, người trợ giúp cũng được chọn lựa là người có đông con, con đứa nào cũng khỏe mạnh, béo tốt, dễ nuôi. Đứa bé về nhà đó sẽ được truyền sang những điều tốt đẹp. Trong Ký họa Việt Nam thế kỷ 20 có bức tranh Đem con bỏ chợ, đứa con nằm trong nôi, được quấn tã đắp chăn. Cả mẹ lẫn con nét mặt thể hiện sự vui vẻ. Người mẹ đã sửa soạn chu đáo cho con thì không thể hiểu rằng từ Đem con bỏ chợ có nghĩa Ví trường hợp dìu dắt, giúp đỡ ai nửa chừng rồi bỏ mặc, làm cho người ta bơ vơ như Tự điển Tiếng Việt (sđd) của Viện Ngôn Ngữ – Viện KHXH Việt Nam đã giải thích. Ngày nay không ai đem con bỏ chợ như thế.

ĐEM CON BỎ NGÃ BA ĐƯỜNG : Như ĐEM CON BỎ CHỢ.

ĐỔ PHONG LONG : Nói đến PHONG LONG hay CUNG LONG là chỉ những gì ô uế, xấu xa, xui xẻo của người đàn bà mới sinh vào những ngày đầu tiên. Quan niệm cho rằng họ thường mang những sự không may đến người khác, vì sinh dữ tử lành. Vì thế nhà có người sinh, thường treo trước cửa một nhánh gai xương rồng để báo hiệu, khách biết không đến thăm vì sợ mắc phong long. Sau khi ĐẦY CỮ, sản phụ phải đi ĐỔ PHONG LONG hay ĐỔ CUNG LONG, bằng cách mua bán gì đó tại chợ. Đồng tiền sản phụ mua hàng, mang phong long, nên khi trả tiền cho việc mua bán là đổ được phong long, tức là xả được sự xui xẻo. Còn người nào đến thăm sản phụ hay gặp sản phụ ngoài đường mà sản phụ chưa đổ phong long, tức là người đó đã CHẠM CUNG LONG, hay MẮC PHONG LONG, người đó cũng phải thực hiện việc đổ phong long, nghĩa là phải mua bán thứ gì đó để tống khứ sự xui xẻo đi. Người xin tin rằng phong long đưa đến xui xẻo, như làm cái gì cũng đổ vỡ, học bài không thuộc, thi rớt, buôn bán ế ẩm ...

ĐỘNG THAI : Cái thai trong bụng mẹ có vấn đề, không yên ổn do bà mẹ bị té hay có va chạm mạnh ở bụng chẳng hạn, biểu hiện máu thoát ra ngoài.

ĐỐT VÍA : (Xem SÀI CHẠM CỮ)

G

GIÁO DỤC TỪ TRONG THAI : (Xem THAI GIÁO)

H

HIẾM HOI : Người đàn bà có chồng nhưng suốt đời không có con, hay có thai nhưng không giữ được. Người xưa tin rằng nguyên nhân do phúc đức, do số phận, do bị tà ma ám ảnh, do bị quả báo, do bị tiền oan nghiệp chướng, do vợ chồng không hợp tuổi, xung khắc nhau ... Có người lại tin bị giặc Phạm Nhan quấy nhiễu. Phạm Nhan là tướng nhà Nguyên sang xâm chiếm nước ta, bị giết, nên oan hồn theo đuổi dân ta, hãm hại đàn bà sinh đẻ (Xem SÀI CHẠM CỮ). Ngày nay, theo khoa học, hiếm hoi là do cơ quan sinh dục vợ hay chồng có vấn đề, do bệnh tật ... của chồng hoặc vợ. Những cặp vợ chồng hiếm hoi, có người xin con người khác về làm CON NUÔI, hay người VỢ CHÁNH ngày xưa thường đi cưới VỢ LẼ cho chồng để có con nối dõi tông đường. Ngoài ra, họ thường đi am miếu, đền chùa CẦU TỰ, cúng kiếng,  hay làm nhiều điều thiện, mời thầy về tổ chức cúng trừ tà ma, dán bùa yểm ... hầu mong giải được nghiệp chướng, cầu mong Trời Phật thay đổi số mệnh cho một mụn con. Ngày nay, khoa học tiến bộ, có thể thụ thai trong  ống nghiệm.

HOÀI THAI : Mang thai, có chửa.             

HOANG THAI : Người đàn bà mang thai, nhưng cái thai đó không biết người cha là ai, còn gọi là CHỬA HOANG. Xã hội xưa phạt nặng trường hợp này có khi phạt 30 đến 40 quan tiền. Lại còn phải vật heo gà để đãi làng.

HỚT VÍA : (Xem SÀI CHẠM CỮ)

HƯ THAI : Cái thai chết trong bụng bà mẹ do nhiều nguyên nhân.

K

KÉO LÊ CON QUANH NGÔI MẢ MỚI : Toan Ánh trong Nếp cũ, con người Việt Nam (sđd) có viết:” Con mắc sài mòn, mang con ra kéo lê chung quanh một mả mới để bỏ cái sài lại nơi mả này” (trang 41)  (Xem thêm BẾ CON CHUI QUA LINH CỮU).

KHAI SINH : Tờ giấy xác nhận của chính quyền địa phương về sự ra đời của một con người. Xã hội xưa, đứa con sinh ra, sau 3 ngày phải làm giấy khai sinh. Gia đình nào không làm sẽ bị phạt. Tiền phạt tùy từng làng.

KHÓC DẠ ĐỀ : Trẻ khóc nhiều vào ban đêm, suốt ba tháng mười ngày. Người xưa không tìm được thuốc chữa, chỉ biết cúng bái hay mượn một người khác  lấy chiếc cọc chuồng lợn ném xuống gầm giường. Có người đi tìm một người nào đó vía có oai  tới dọa đứa trẻ. Nhiều khi không tìm được người nên trẻ cứ khóc cho đến một trăm ngày thì tự nhiên hết khóc. Có người tin rằng trẻ khóc vì gặp người lạ có vía dữ, người ta thực hiện việc ĐỐT VÍA khi người lạ đi khỏi hay khi người lạ còn có mặt : lấy bó lửa ném vào trước mặt người này, tin rằng trẻ sẽ hết khóc. Tin như thế, chứ càng ngày trẻ càng lớn, việc khóc đêm giảm đi, đâu cần những phương cách đầy mê tín trên.

KIÊNG CỮ CHO TRẺ SƠ SINH : (Xem CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH)

KIÊNG CỮ KHI MANG THAI : Khi mang thai, cũng như khi sinh con, sau khi sinh, người đàn bà xưa phải bắt buộc kiêng cữ rất nhiều việc.

Trong thời kỳ mang thai, về việc ăn uống, người đàn bà tránh ăn uống nhiều, tránh ăn nhiều thức ăn bổ dưỡng vì sợ thai phát triển quá lớn, khó sinh. Ngoài ra, sản phụ phải kiêng ăn một số thức ăn, vì sợ làm hư khí huyết, dễ sẩy thai, ảnh hưởng khi sinh nở, gây nhiều bệnh cho trẻ khi sinh nó ra ... Sản phụ phải kiêng ăn cua, sơ SINH NGANG, vì con cua chỉ bò ngang (một cách giải thích của người xưa về sự SINH NGƯỢC, SINH NGANG). Kiêng ăn trai sò ốc hến, sợ con có nhiều dãi nhớt, vì các thứ hải sản này có nhiều dãi nhớt. Không ăn mực, tránh hư huyết. Kiêng ăn thịt thỏ vì sợ con sứt môi, như môi con thỏ (cũng là một cách giải thích tật sức môi của trẻ). Kiêng ăn thịt con lừa, tránh con chậm như ... lừa. Kiêng ăn thịt chó tránh con sau này sinh hung hãn. Kiêng ăn thị trâu vì sợ ... CHỮA TRÂU, mang thai lâu quá thời gian. Kiêng ăn hột vịt lộn tránh SINH NON. Kiêng ăn thức ăn, bánh trái ở đám tang vì sợ con sau này bị SÀI đẹn. Tránh đi ăn đám cưới, tránh trẻ khỏi bị vô duyên. Kiêng ăn những quả dính đôi sợ sinh đôi (cũng là một cách giải thích việc SINH ĐÔI). Kiêng ăn những thịt ươn, quả úa, có hại cho sức khỏe. Khi có mang CON SO, kiêng hái quả trên cây (rướn người lên hái, sợ ĐỘNG THAI). Kiêng ăn những thức ăn được chế biến không rõ nguồn gốc, thành phần. Mẹ ăn gì con ăn nấy. Chớ ham những đắng cùng cay, của hiếm vật lạ khác tay không màng .. hay miễn cho con đặng an khương, cao lương mỹ vị ắt thương vị tỳ  (Gia huấn diễn ca, sđd)

                     Trong cuộc sống hàng ngày, người mang thai tránh chứng kiến những cảnh hãi hùng, thương tâm, đau đớn. Kiêng gần tử thi và đưa tang sợ hơi độc và đau buồn ảnh hưởng đến thai nhi. Tránh gần gủi người gian ác. Tránh làm điều gian tà. Tránh nói những lời thô bỉ, xấu xa cũng như tránh nghe những lời thô tục. Tránh sự giận dỗi hay quá buồn phiền. Tránh xem tranh ảnh ghê rợn, xấu xa. Nếu có mang, kiêng cưới con dâu, sợ khi con dâu trái tính, nổi giận, hại đến thai nhi. Gia huấn diễn ca (sđd) có câu: Từ ngày mẹ mới có thai / Thời đà dạy tự mẫu hoài (trong bụng mẹ) dạy ra / Mắt dừng ngó kẻ gian tà / Lời dâm tiếng dại cũng là đừng nghe…

                     Khi nghỉ ngơi, tránh năm ngữa, sợ NHAU THAI bám chặt khó lóc ra khi sinh. Khi nằm, tránh trẻ con leo trèo trên bụng, có thể gây thương tổn cho bào thai. Sản phụ phải đi đứng khoan thai, nhẹ nhàng, không nhảy nhót, xoay vặn người { Khi đi khi đứng phải dè / Nằm ngồi chẳng khá ép đè một bên (Gia huấn diễn ca, sđd) }. Tránh gần trâu bò (sợ CHỮA TRÂU, thực ra sợ trâu húc), tránh bước qua lưng chó, sợ con chậm mở mắt sau khi sinh, thực ra tránh sự nguy hiểm, như bị chó cắn. Không vuốt ve mèo, sợ con bị khò khè (khi ôm con mèo vào lòng, mèo thường nằm im và khò khè trong cổ họng), thực ra sợ mèo quào gây vết thương. Không bước qua sợi dây căng trên mặt đất, sợ dây rốn quấn quanh cổ trẻ, thực ra tránh bị vấp ngã.

                    Áo quần mặc phải rộng rãi cho máu huyết dễ lưu thông. Không mang đồ trang sức, không mang vòng kiềng ở cổ sợ dây rốn quấn quanh cổ đứa trẻ. Về vệ sinh thân thể, người xưa không cho sản phụ mang thai từ tháng thứ tư trở lên tắm rửa nhiều, vì sợ thai thỏa mái, phát triển lớn, khó sinh. Sản phụ cũng không được tắm sông, tắm biển.

                    Những kiêng cữ trên, ngoài những điều mê tín dị đoan, những thứ kiêng ăn, kiêng những hành động, đối xử, giao tiếp trong cuộc sống, không những giữ sức khỏe cho bà mẹ trẻ em mà còn để cho trẻ khỏi tiêm nhiễm những thói hư tật xấu, góp phần cho THAI GIÁO có hiệu quả.

                    Người chồng có vợ mang thai cũng phải kiêng: không sát sinh, kiêng đóng cọc. Đóng cọc, theo người xưa là hành động yểm bùa để hại người khác. Còn nhổ cọc là hành động phá bỏ bùa chú do người khác yểm.

                    Ngoài những điều phải kiêng cữ trên, sản phụ còn phải thực hiện những điều cần thiết như ăn nhiều trứng gà để da dẻ trắng, trắng như trứng gà bóc, hay ăn nhiều hành để trẻ khỏi bị toét mắt, ăn đu đủ, uống nước dừa mong cho cuộc sống sau này của trẻ sẽ no đủ, dư thừa. Trong cuộc sống, phải năng lễ chùa, làm nhiều việc thiện, phải dịu dàng, khoan thai, vui tươi, giữ tâm hồn ngay thẳng trong sạch, nghe xem những lời tốt đẹp, những hình ảnh đẹp.

KIÊNG CỮ SAU KHI SINH : Nhà có người sinh, thường treo ở trước nhà một nhánh xương rồng còn tươi hay treo một cái lá môn buộc một cục than và 7 đồng tiền (nếu con trai) hay 9 đồng tiền (nếu là con gái), làm hiệu cho người ngoài đừng đến thăm, vì sợ người xấu vía làm cho đứa trẻ hay khóc, đau ốm, vì sợ người đến thăm mắc PHONG LONG, xui xẻo cho họ. Ở Nam Bộ, trong Gia Định Thành thông chí (sđd) của Trịnh Hoài Đức có chép tục “khi nhà có người sinh đẻ thì dùng một đoạn củi đã tắt rồi chẻ đầu cây cán gỗ kẹp ngang dựng ngay trước cửa, nếu sinh con trai thì trở đầu củi đã tắt lửa vào trong nhà, con gái thì trở đầu củi ra ngoài để làm hiệu ngăn cấm (tục gọi là cấm khem) “ (trang 185).                

                    Sau khi sinh, người mẹ vẫn phải tiếp tục kiêng cữ đủ thứ, nhằm bảo vệ sức khỏe cho mình và cho trẻ sơ sinh. Thời kỳ hậu sản kéo dài đúng ba tháng mười ngày. Tuy nhiên, có gia đình quá khó khăn, sau khi sinh, năm bảy ngày sau là người mẹ phải trở lại công việc hàng ngày để kiếm sống.

                   Ngày trước, sản phụ cần kiêng cữ nhiều điều: Nằm nghỉ hoàn toàn trên giường, hạn chế đi lại và ngồi dậy. Phòng nằm phải tránh gió, yên tĩnh, nằm lửa (than hồng phủ tro trong cái trả lớn để dưới giuờng), hơ lửa. Quan niệm xưa cho việc nằm lửa, hơ lửa là để ngăn khí độc, giúp da thịt sản phụ được rắn chắc, hồng hào, giúp khí huyết lưu thông điều hòa.

                   Trong thời gian ở cữ, sản phụ hạn chế tiếp xúc người đến thăm viếng, sợ họ mắc PHONG LONG và tránh trẻ sơ sinh tiếp xúc với người có bệnh. Tránh những điều gây kích động, buồn phiền, liên quan đến bệnh tật, cái chết... tránh sản phụ dễ bị lên máu hậu sản (cuồng sản). Tránh “quở” (khen) trẻ sơ sinh, sợ tà ma thấy tốt, bắt đi.

                   Về ăn uống, sản phụ ăn cơm với muối rang hoặc với nước mắm chưng, vài ba bữa sau khi sinh mới dám ăn đến thịt nạc heo rim với nước mắm, hồ tiêu thật cay. Ăn thức ăn khô, cay, người xưa cho rằng giúp cho huyết mạch lưu thông điều hòa, tránh bị phù thủng. Kiêng ăn trái cây chua chát, tránh ăn các chất lỏng, kiêng ăn đồ lạnh, có khi phải uống nước tiểu trẻ con (đồng tiện) để trục máu xấu, máu uế ra khỏi cơ thể, hay sắc cây chó đẻ để uống. Khi ĐẦY CỮ thì xông bằng một số lá cây, muối sống và xoa mình bằng củ nghệ, rồi mới dám ra ngoài.

                   Để chuẩn bị cho những lần sinh sau, người xưa thường dùng việc hơ nóng bụng sản phụ để bụng sản phụ khỏi bị xệ xuống, làm biến mất những những vết nhăn, cho thành bụng săn. Người dân thường dùng lá trầu non hơ nóng áp sát bụng, hoặc dùng một túi đựng muối hơ nóng, hoặc dùng chai nước đựng nước nóng ... Sản phụ trong thời gian ở cữ, còn được xoa bóp bằng gừng tán nhỏ hòa với rượu trắng, hơ nóng, cho máu huyết lưu thông, cơ, xương, khớp được thư giản.

L

LÂM BỒN : Thời gian người mang thai đau bụng tới lúc CHUYỂN BỤNG ĐẺ. Có người mang thai trước hay sau chín tháng mười ngày vài ngày thì đau bụng sinh. Nhưng có người quá thời gian mà vẫn chưa sinh, người ta gọi là CHỬA TRÂU, LÊN THÁNG. Có lẽ vì tính ngày tháng lầm, hay lý do bệnh tật. Có người sinh chưa đủ ngày tháng, đã đau bụng đẻ, gọi là SINH NON. Có người đến ngày tháng, đau bụng muốn sinh, nhưng không sinh được, gọi là SINH CHẬM. Muốn sinh mau, người xưa có nhiều phương cách.

LỄ ĐẦY CỮ : Lễ tạ ơn 12 Bà Mụ. Có nơi ĐẦY THÁNG mới cúng.(Xem CÚNG 12 BÀ MỤ).

LÊN THÁNG : Sinh quá ngày tháng quy định, còn gọi CHỬA TRÂU.

LỘN KIẾP : (Xem CON RANH CON LỘN).

M

MẮC PHONG LONG : CHẠM CUNG LONG (Xem ĐỔ PHONG LONG)

MƯỜI HAI BÀ MỤ : Những người đàn bà được cho là những thần linh có nhiệm vụ nặn hình trẻ trong bào thai, giúp đỡ và phù hộ trẻ khi sinh ra đời. Thần tích 12 BÀ MỤ được Nguyễn Đổng Chi kể trong sách Lược khảo về thần thoại Việt Nam (sđd) : “Sự tích của 12 vị nữ thần này hiện nay chúng ta chỉ còn biết một cách lờ mờ. Có thuyết nói đó là các thần giúp việc cho Ngọc Hoàng từ lúc ông ta có ý định sáng tạo ra loài người. Nhưng cũng có thuyết lại cho đó là những thần được Ngọc Hoàng giao phó trách nhiệm sau khi ông đã sáng tạo ra đủ số lượng người và vật ở hạ giới”, tức là “Mười hai Bà Mụ chỉ là những vị thần có trách nhiệm nắn lại cơ thể cho một người nào đó khi được lệnh đầu thai ? “.

                   Còn tại sao lại mười hai ? Có người giải thích đó là một tập thể chịu trách nhiệm chung trong việc nắn các bộ phận của con người : người nắn tay chân, người nắn mũi miệng ... hay công việc dạy: người dạy trẻ cười, người dạy trẻ nói, người dạy trẻ đi đứng ...Còn có cách giải thích khác về con số 12: Mười hai Bà Mụ là 12 vị thần luân phiên nhau lo công việc thai sản trong 12 năm, tính theo thập nhi chi, tức là 12 con giáp : chuột, trâu, ....(Xem thêm CÚNG 12 BÀ MỤ).

N

NẠ DÒNG : Người đàn bà sinh đẻ nhiều lần, đã đứng tuổi.

NẰM NÔI : Khi trẻ đầy tháng, thường các bà mẹ cho trẻ nằm nôi. Người xưa cho rằng chiếc nôi, nếu được chiếc nôi cũ của các trẻ khỏe mạnh nằm trước đây thì tốt nhất. Vì, như thế, đứa trẻ sẽ được “hơi hám” của trẻ mạnh khỏe, nó cũng sẽ mạnh khỏe. Còn nếu mua nôi mới, phải nhờ người khỏe mạnh, vui vẻ, có nhiều kinh nghiệm nuôi trẻ, như thế, sẽ giúp cho trẻ không đau ốm. Khi mua nôi về, có nơi lấy chổi xể đốt, hơ dưới nôi, coi như xua đuổi tà ma. Thực ra, chiếc nôi ngày xưa thường đan bằng mây hay tre già, việc rà lửa quanh nôi cũng là một cách để sát trùng, làm cháy sạch các xơ tre, khỏi châm vào người em bé. Nôi được trải bằng chiếc chiếu nhỏ, và treo lên bằng dây dừa. Lần đầu tiên đặt đứa bé vào nôi, cũng phải chọn người đặt: người có tuổi, dễ ăn, dễ ngủ và nhất là phải mạnh khỏe. Khi con tròn một năm, đứa trẻ ngủ giường, đứa trẻ thôi nằm nôi, THÔI NÔI và tổ chức CÚNG THÔI NÔI.

NGHÉN : Ý chỉ người đàn bà có chửa, có mang, thường bị ỚN NGHÉN.

NHAU THAI :  Còn gọi là rau, bánh rau là cơ quan liên hệ giữa cơ thể mẹ với phôi thai trong quá trình phát triển cơ thể non trong dạ con. Qua nhau thai, phôi thai có thể hấp thụ các chất dinh dưỡng và oxi từ máu của cơ thể mẹ, bài xuất được khí CO2 và các chất bã, sản phẩm của trao đổi chất. Nhau thai người ở ngoài có hình đĩa, phần trung tâm dày nhất khoảng 3-4 cm, phần ngoại biên mỏng, đường kính khoảng 18 cm; nặng bằng 1/6 – 1/7 trọng lượng thai nhi (khoảng 450 – 500 g). Mặt quay về phía thai nhi thì trơn, là do có màng ối dính vào, có dây nhau cắm vào gần giữa mặt nhau và có các mạch máu nổi rõ lên bề mặt. Mặt quay về phía mẹ xù xì, có các múi nổi lồi, được giới hạn bằng các rãnh sâu; trong các múi có các nhung mao, chứa các mao mạch của thai nhi; máu của thai nhi tiếp xúc với máu mẹ chứa đựng trong các hồ huyết và được coi là nhúng trong máu mẹ, nhưng màng nhung mao rất mỏng, có thể để lọt vào trong máu thai nhi các chất dinh dưỡng, oxi và các yếu tố có hại như vi rút, độc tố và thải loại khí carbonic, các chất thải nitơ ... từ máu thai nhi vào trong máu mẹ. Nhau có thể bong non, tức là bánh nhau bị tách rời khỏi thành tử cung trước khi sổ thai vào một nguyên nhân nào đó có thể do chấn thương va chạm vào thành bụng. Có khi bánh nhau bám vào vị trí bất thường, không bám vào đáy tử cung, gọi là nhau tiền đạo. (Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, quyển 3, 2003, trang 229). (Xem thêm CHÔN NHAU CẮT RÚN (RỐN) ).

                    Khi sinh, đợi nhau tróc ra một cách tự nhiên là tốt. Các nữ hộ sinh bệnh viện ngày nay chờ nhau tróc, khi nào lâu tróc, họ mới can thiệp, nhưng không làm cho sản phụ kinh sợ như các BÀ MỤ VƯỜN. Thấy nhau lâu tróc, có bà mụ vườn nhét tóc vào miệng sản phụ để làm cho sản phụ nôn oẹ, tin rằng có nôn ọe thì cơ thể bị động và từ đó nhau mau tróc. Có bà ngồi lên bụng của sản phụ và cựa quậy dữ dội, cũng ý như trên.

                    BỆNH SẢN HẬU là bệnh xảy ra sau khi sinh, có thể làm chết người, nguyên nhân là do còn sót lại vài mảnh rễ nhau trong dạ con. Chính những mảnh rễ ấy sẽ sình thúi lên, vì nó là chất hữu cơ đã chết, không còn được cơ thể tiếp tục nuôi dưỡng nữa. Sự sình thúi đó đã làm bụng sản phụ chướng lên, cơ thể bị nhiễm độc gây sốt cao. Các bệnh viện có thể cứu được, nhưng ngày xưa, nhiều sản phụ chết vì bệnh này.

O

ỐM NGHÉN : Còn gọi là ỚN NGHÉN, trạng thái mệt nhọc, khó chịu, hôi cơm tanh cá của người đàn bà mới vừa có thai, có khi bị ói mửa. Thường thèm chua hay thèm ăn món ăn nào đó. Từ NGHÉN thường chỉ người đàn bà bắt đầu có thai.

ỚN NGHÉN : (Xem ỐM NGHÉN)

P

PHÁ THAI : Tự làm hay nhờ người khác làm cho HƯ THAI bằng cách uống thuốc cho thai trụt ra ngoài. Người đi phá thai có nhiều nguyên nhân: - Người đàn bà mang thai không phải từ chồng mình. – Nghèo khó quá không đủ sức nuôi nhiều con. – Theo kế hoạch hóa gia đình. – Có thai còn quá trẻ, do một phút lỗi lầm. Phá thai  nhiều tháng hay phá không đúng phương pháp, không đủ dụng cụ y khoa, có thể nguy hại đến tính mạng người mẹ. Phá thai nhiều lần tiến đến chỗ không có con được, sức khỏe ngày càng sa sút.

PHONG LONG : (Xem ĐỔ PHONG LONG).

Q

QUÁI THAI : Đứa trẻ mới sinh ra có nhiều cấu tạo cơ thể quái dị, thường chết khi mới lọt lòng mẹ.

S

SÀI CHẠM CỮ : Chứng la khóc của trẻ con trong khi chưa ĐẦY CỮ. Người xưa tin rằng giặc Phạm Nhan là tà thần, chuyên gây bệnh tật, tai họa và bắt trẻ đi. Trong Việt điện u linh (sđd) của Lý Tế Xuyên, viết Chuyện Trần Hưng Đạo có đoạn nói về giặc Phạm Nhan do Trần Hưng Đạo chém chết. Nguyên Phạm Nhan gốc họ Nguyễn, tên chữ là Bá Linh, cha là người Trung Quốc, mẹ là người Việt ở xã An Bài, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Phạm Nhan đỗ tiến sĩ bên nhà Nguyên Trung Quốc, lại giỏi thuật phù thủy, thường vào hậu cung vua làm bậy, bị bắt, sắp đem chém thì vua tha cho, sai làm hướng đạo dẫn quân Nguyên về xâm lăng nước ta thời Trần. Y bị bắt sống ở trận Bạch Đằng và đem hành hình. Có điều, chém đầu này thì mọc đầu khác ra. Trần Hưng Đạo mới dùng thần kiếm chém. Khi sắp thọ hình, Phạm Nhan hỏi “Đại Vương cho ăn gì”, Hưng Đạo Vương phát cáu thét lên:” Cho mày ăn sản huyết thiên hạ”. Sản huyết thiên hạ chính là máu đẻ của đàn bà, coi như thế là điều rất sĩ nhục cho tên giặc này. Đầu Phạm Nhan khi chém xong, liền ném xuống sông. Thuyền chài chài được, đem đầu lâu chôn cất bên sông. Từ đó, thuyền chài đánh bắt được nhiều cá và mời Nhan đi theo thuyền chơi. Nhan gặp đàn bà thì chọc ghẹo, gặp sản phụ thì hớp hồn họ ngay. Sản phụ bị bệnh triền miên, phải nhờ thầy pháp vào đền Trần, lấy chiếu cũ cho người bệnh nằm lên, rồi đem chân nhang của đền đốt ra tro quậy nước cho uống thì bệnh lành ngay. Như thế, tà thần Phạm Nhan không những hại trè sơ sinh mà còn hại đến sản phụ nữa.

                  Có thầy, trị tà thần Phạm Nhan, bằng cách  giết một con chó đen, lấy máu vẫy xung quanh buồng sản phụ và tẩm vào giấy bản để tối tối đốt, lầy tro xoa lên đứa trẻ và hoà lẫn sữa cho trẻ uống. Tục này thật là nguy hiểm cho sinh mạng trẻ. Có người đưa trẻ đút vào miệng voi hay để dưới cái chuông lớn trong chùa, cho voi rống, cho đánh chuông làm cho tà thần giật mình, phải bỏ đi (Xem BẾ CON QUA BỤNG VOI)

                  Có khi bất thần trẻ khóc nhiều không phải SÀI CHẠM CỮ, người ta cho là trẻ chạm phải vía dữ của một người nào đó, nên phải thực hiện việc ĐỐT VÍA. Người ta đốt vía bằng cây chổi xuể hay chiếc nón lá gồi cũ. Trong khi đốt vía, người ta đọc câu chú : Đốt vía đốt van / Vía lành thì ở / Vía dữ thì bước.

                  Có khi trẻ bị ngã rồi sinh ra chứng khóc nhiều hay trở nên ngớ ngẩn, tàng tàng, lúc ngủ thường hay giật mình. người ta bảo nó bị lạc vía, vía của trẻ có thể xuất ra khỏi thể xác. Muốn cho trẻ trở lại bình thường, phải cần thu lại những vía lạc của nó trở về, gọi là HỚT VÍA. Thực hiện việc HỚT VÍA bằng cách nắm cơm bằng hòn bi, trai bảy nắm, gái chín nắm (tin rằng nam bảy vía, nữ chín vía), và quả trứng luộc cắt ra bảy hay chín miếng, đặt vào chiếc rổ con, thắp mấy nén hương, mang tới chỗ trẻ bị ngã, cầm rổ chao đi chao lại nhiều lần, vừa chao rổ vừa gọi : Hỡi ba hồn bảy vía (hay chín vía) tên ....  xin mau trở về... Sau khi thực hiện xong, các nắm cơm và các miếng trứng cho trẻ ăn hết, nếu trẻ còn nhỏ, người mẹ sẽ nhai mớm cho trẻ. Người ta tin rằng trẻ ăn cơm và trứng sẽ lấy lại được vía và sẽ trở lại bình thường.

SÀI MÒN : Bệnh xanh xao vàng vọt ốm yếu của trẻ con. (Xem KÉO LÊ TRẺ CHUNG QUANH NGÔI MẢ MỚI và BẾ CON CHUI QUA QUAN TÀI)

SẢY THAI : Hư thai.

SINH CON SO : Sinh con đầu lòng. Dân ta có tục Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng. Vì sinh lần đầu, người con gái chưa biết ăn uống, tắm giặt, kiêng cữ sau khi sinh như thế nào. Hơn nữa, muốn nhờ chuyện gì, mẹ mình dễ nhờ, dễ nói hơn là nhờ mẹ chồng. Tục ngữ có câu: Một con so, lo bằng mười con rạ. Những lần sinh sau, đã có kinh nghiệm nên sinh ở nhà chồng, có thể tự lo liệu được. Đây là một phong tục rất tốt. Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng thực hiện được việc này, trừ trường hợp ở rể, người con gái không được sinh ở nhà cha mẹ mình. Muốn sinh ở nhà cha mẹ mình, phải có sự thỏa thuận giữa mẹ chồng và chàng rể với gia đình cô gái. Có vùng, cho rằng sinh dữ tử lành, nên ngoài con dâu ra, không được bất cứ ai sinh ở nhà mình, dù là con gái của mình. Trong trường hợp con gái mình có mang về thăm, nếu trở dạ sắp sinh, không kịp về nhà chồng thì phải sinh ở góc chái nhà hay tại chiếc lều tạm ở góc vườn. Trường hợp người con gái mồ côi mẹ, không thể về nhà mình sinh, phải sinh con so ở nhà chồng.

SINH CON TRAI CON GÁI : (Xem CON TRAI NỐI DÕI)

SINH NHẬT :  Lễ mừng, kỷ niệm ngày tháng mình sinh ra trong ngày tháng ở năm trước, còn gọi là ăn vía.  Lê Quý Đôn, trong Vân Đài loại ngữ (sđd) có viết về nguồn gốc ngày kỷ niệm này :” Tháng 8 năm Khai nguyên thứ 17 (729) đời Đường, là ngày sinh vua Đường Huyền Tông, vua ban yến cho các quan ở dưới lầu Hoa ngạc. Trương Duyệt và Nguyên Kiền Diệu tâu xin vua, cứ hàng năm lấy ngày mồng 5 tháng 8 làm tết Thiên Thu, ban bố cho thiên hạ đến ngày ấy được yến tiệc, nghỉ ngơi 3 ngày. Tết sinh nhật bắt đầu từ đó.” (trang 201). Đứa trẻ được mừng sinh nhật đầu tiên là ngày ĐẦY NĂM.

SINH NON : (Xem ĐẺ NON)

SINH VÀO GIỜ XẤU : Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, những đứa trẻ sinh vào giờ xấu, sẽ chết trong mấy năm đầu, hay chết trong vài ngày hoặc vài tháng sau khi sinh. Số mệnh của đứa bé tùy thuộc vào ảnh hưởng của một số hung thần hoạt động vào những giờ nhất định. Đó là những ác thần: thần Quan sát và các Kim xà thiết tỏa (Thần Rắn vàng xích sắt). Những gia đình có âm đức, đứa bé có thể sống thêm bốn năm năm. Hết hạn, đứa bé sẽ bị bắt đi. Vì thế, gia đình phải nhờ đến thầy phù thủy để ngăn ác thần làm hại đến đứa trẻ. Lễ cầu cúng gọi là lễ tiễn giờ, tống khứ giờ xấu bằng những đồ cúng. Đồ cúng, ngoài xôi chè, hoa quả, rượu ...còn có chiếc mâm để vàng bạc, trên vàng bạc là những con vật thu nhỏ, bằng đất sét tượng trưng cho năm, tháng, ngày, giờ sinh của đứa bé (ví dụ đứa bé sinh năm Tỵ, tháng Thìn, ngày Tuất, giờ Sửu thì nắn hình theo các con vật trong 4 Chi đó: con rắn, con rồng, con chó, con trâu). Mỗi con vật làm ba con, vị chi 12 con. Ngoài ra còn có chiếc quan tài  làm bằng ống tre dài 50cm chẻ làm đôi. Trước chiếc bàn đặt đồ cúng, có một hình nhân làm bằng tre, dán phủ quần áo sang trọng,  đeo một băng giấy, trên ghi họ tên cha mẹ, họ tên đứa bé, nơi sinh, ngày giờ tháng năm sinh của đứa bé và còn ghi rõ hình nhân này sẽ thế mạng đứa bé. Thầy cúng sau khi khấn cầu Phật Thánh Thần phù hộ, các hung thần xa rời đứa bé, đừng làm hại, sinh năm Tỵ, tháng Thìn, ngày Tuất, giờ Sửu sẽ có các con vật: rắn, rồng, chó, trâu dâng lên để thế mạng cho đứa bé, xin từ nay bé sẽ mạnh khỏe sống lâu ... Thầy phù thủy mới lấy từng con vật đặt vào trong rãnh khúc tre bổ đôi, xong, lấy nửa khúc kia đậy lên (như liệm người chết vào quan tài), lấy dây buộc chặt hai nửa lại, khấn xin đưa quan tài này đi xa, từ nay không còn tai ương. Sau đó, người nhà đem đi chôn ở cánh đồng bên. Giờ xấu đã được chôn đi, hình nhân coi như thế mạng đứa bé, đứa bé coi như tai qua nạn khỏi từ đây. Ngoài ra, còn có tục BÁN KHOÁN đứa bé cho Thần Phật, ĐEM CON BỎ CHỢ hay CHO LÀM CON NUÔI cũng là một cách bảo vệ đứa trẻ khỏi tà ma bắt đi theo quan niệm của người xưa.

SONG SINH : Sinh một lần hai con, thường là con trai hay hai con gái và thường 2 đứa giống nhau như đúc.

SONG THAI : Chửa hai con một lượt.

(Xem tiếp kỳ 4)

 

Về trước

   

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net