QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÂU ĐỐ DÂN GIAN NINH HÒA

 (kỳ 3)

 (tác giả là hội viên Hội VHNT Khánh Hòa, sống tại thôn Tân Tứ, xã Ninh Thượng,

huyện Ninh Hòa)

IV. NHỮNG CÂU ĐỐ LỊCH SỬ

“Dân ta phải biết sử ta”. Thế nhưng ở thời cách đây năm sáu mươi năm về trước, sách vở còn thiếu, phương tiện truyền thông nghe nhìn chưa có nhiều như bây giờ, một bộ phận dân ta lại có tư tưởng “vọng ngoại”, người học thuộc sử Tàu mà thường bỏ quên sử nước ta…Câu đố lịch sử ra đời để cho các em học sinh học tập và cũng để cho người lớn tìm hiểu lịch sử nước nhà :

 Vua nào mặt sắt đen sì ? (Mai Hắc Đế)

Vua naò trong thuở hàn vi ở chùa? (LýThái Tổ)

Tướng nào bẻ gậy phò vua? (Trần Hưng Đạo)

Tướng nào dùng bút đánh lừaVương Thông? (Nguyễn Trãi)

Ngựa ai phun lửa đầy đồng? (Thánh Gióng)

Voi ai nhỏ luỵ giữa dòng Hát giang? (Trần Hưng Đạo)

Kiếm ai trả lại rùa vàng? (Lê Lợi)

Súng ai rèn ở Vũ Quang thuở nào? (Cao Thắng)

Còn ai đổi mặc hoàng bào? (Lê Lai)

Ai đem Nhật Tảo ghi vào sử xanh? (Nguyễn Trung Trực)

Ai làm vua ở đồng lầy? (Triệu Quang Phục)

Ai thường tập trận với bầy chận trâu? (Đinh Bộ Lĩnh)

Hỏi ai thà bị chặt đầu

Còn hơn giốc tóc theo Tàu cải trang? (Lê Quýnh; Giốc tóc: tóc thắt đuôi sam đời nhà Thanh )

Ai không bỏ nghĩa tham vàng? (Tô Hiến Thành)

Còn ai nhóm lửa đốt than chờ thời? (Trần Khánh Dư)

Đông Du ai đã đưa người? (Phan Bội Châu)

Còn ai đập đá giữa trời trơ trơ? (Phan Chu Trinh)

Còn ai đập đá bên trời Trung Hoa? (Tôn Thất Thuyết rước vua Hàm Nghi ra Tân Sở, Quảng Bình phát hịch Cần Vương, rồi ông sang Trung Quốc cầu viện, nhưng việc không thành, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt được, ông đập đá núi kiếm sống, người TrungQuốc gọi ông là Đả thạch lão ông).

Vũ Quang ai đã phất cờ ? (Phan Đình Phùng)

Bình Tây Sát Tả bây giờ là ai? (Trương Công Định)

Phồn Xương tính kế lâu dài

Hỏi ai quyết chiến cùng loài xâm lăng? (Hoàng Hoa Thám)

Đầu voi phất ngọn cờ vàng?

Mê Linh đất cu còn ghi muôn đời

Yếm khăn đội đá vá trời

Giặc Tô mất vía rụng rời thoát thân? (Hai Bà Trưng)

Đố ai cũng khách thoa quần

Đạp luồng sóng dữ đuổi quân giặc thù

Cữu Chân nức tiếng ngàn thu

Vì dân quyết phá ngục tù lầm than? (Bà Triệu)

Đố ai trận Bạch Đằng Giang

Làm cho cọc nhọn dọc ngang sáng ngời

Phá quân Nam Hán tơi bời

Gươm thần độc lập giữa trời vung lên? (Ngô Quyền)

Đố ai đánh Tống bình Chiêm

Ba ngày phá vỡ Khâm Liêm hai thành

Ung Châu đổ nát tan tành

Mở đầu Bắc phạt uy danh vang lừng? (Lý Thường Kiệt)

Đố ai nổi sóng sông rừng

Đã vui Hàm Tử lại mừng Chương Dương

Vân Đồn cướp sạch binh lương

Nội Bàng mai phục chặn đường rút lui? (Hưng Đạo Vương)

Đố ai gian khổ chẳng lùi

Chí Linh mấy lượt nếm mùi đắng cay

Mười năm bình định ra tay

Thành Đông Quan, mất vía bầy Vương Thông? (Lê Lợi)

Đố ai giải phóng Thăng Long

Nửa đêm trừ tịch quyết lòng tiến binh

Đống Đa sông Nhĩ vươn mình

Giặc Thanh vỡ mộng cường chinh tơi bời? (Nguyễn Huệ)

Đố ai trang liệt sáng ngời

Đã không khuất phục bọn người ngoại dương

Xé đồ băng bó vết thương

Nhịn ăn mà chết chọn đường cô trung? (Nguyễn Tri Phương)

Đố ai đánh trống phất cờ

Giữ thành Hà Nội trong giờ nguy nan

Rồi khi trúc chẻ ngói tan

Mượn dây oan nghiệt giải oan anh hùng? (Hoàng Diệu)

Đố ai ngang dọc vẫy vùng

Vũ Quang khởi nghĩa hợp cùng Văn Thân

Cần Vương nổi tiếng xa gần

Tinh thần kháng địch bội phần dâng cao? (Phan Đình Phùng)

Đố ai đắp luỹ khơi hào

Ba Đình chẳng quản gian lao tung hoành

Nhử cho giặc đến gần thành

Xung phong một loạt thề phanh thây thù? (Đinh Công Tráng)

Đố ai thành lập chiến khu

Giữa vùng Bãi Sậy hoang vu đóng đồn

Đồng lầy là chốn mồ chôn

Những quân cướp nước cáo chồn ra đi? (Nguyễn Thiện Thuật)

Đố ai Yên Thế hùm thiêng

Phất cờ khởi nghĩa ở miền Lạng Giang

Khi mai phục lúc trá hàng

Làm quân cướp nước hoang mang điên đầu? (Đề Thám)

Đố ai qua Nhựt sang Tàu

Soạn thành “Huyết lệ lưu cầu toàn thư”

Hô hào vận động Đông du

Kết đoàn cùng với sĩ phu khắp miền? (Phan Bội Châu)

Đố ai khởi nghĩa Thái Nguyên

Giữa nơi doanh trại cướp quyền chỉ huy

Tháo Sơn gặp bước gian nguy

Ngang nhiên tuẩn tiết chỉ vì non sông? (Đội Cấn )

Đố ai “Thư Xã Nam Đồng”

Xương phơiYên Bái , máu hồng Lâm Thao

Ngọn cờ Cách mạng nêu cao

Thản nhiên tiếp nhận lưỡi đao vô tình? (Nguyễn Thái Học)

Ai mài gươm dưới trăng tà

Quốc thù chưa trả đầu đà điểm sương

Một lần giết hụt giặc Trương

Về sau bị bắt nửa đường quyên sinh? (Đặng Dung)

Nam Quan bái biệt cha già

Trở về nợ nước thù nhà lo toan

Lam Sơn góp lưỡi gươm vàng

Bình Ngô Đại Cáo giang san thu về? (Nguyễn Trãi)

Dâng vua những bản điều trần

Mong cho nước mạnh toàn dân được giàu

Triều đình thủ cựu hay đâu

Đã làm điêu đứng thảm sầu Việt Nam? (Nguyễn Trường Tộ)

Cuộc đời như đám phù vân

Biết bao vinh nhục cũng ngần ấy thôi

Thăng thăng giáng giáng mặc đời

Mấy vùng sơn hải đôi lời thi ca? (Nguyễn Công Trứ)

Tước Vương đất Bắc nào thèm

Mà quân xâm lược hầu đem dụ người

Dù quỷ Nam vẫn vui tươi

Đền ơn tổ quốc thoả đời làm trai ? (Trần Bình Trọng)

Trạng nguyên lanh trí ai bì

Đã từng ứng đối khi đi sứ Tàu

Một đời trong sạch trước sau

Tiền vô chủ, quýêt vào chầu nhập kho? (Mạc Đĩnh Chi)

Muốn cho nước mạnh dân giàu

Xin Vua cho chém bảy đầu mọt dân

Mũ cao áo rộng không cần

Lui về ẩn chốn sơn lâm một mình. (Chu Văn An)

Làm quan Tổng Đốc Hà thành

Giữa khi vận nước tơ mành treo chuông

Mất thành tự vẫn theo luôn

Tấm gương trung liệt còn muôn năm truyền. (Hoàng Diệu)

Hoà bình ai vẫn chủ trương

Rồi sau khởi nghĩa máu xương góp phần

Không thành công cũng thành nhân

Cùng mười hai bạn xả thân rơi đầu. (Nguyễn Thái Học)

Bị giam cầm ở Thái Nguyên

Bèn cùng Đội Cấn nổi lên diệt thù

Bảy ngày một cõi biên khu

Nghĩa quân tan rã mặc dù trung kiên. (Lương Ngọc Quyến)

Cờ lau tập trận thiếu thời

Lớn lên Vạn Thắng khắp trời danh uy

Hoa Lư nêu bóng quốc kỳ

Trường An nay hãy còn ghi tên người. (Đinh Bộ Lĩnh)

Từ bảy tuổi đã lên ngôi

Việc dân việc nước trọn đời lo toan

Mở trường thi chọn văn quan

Lập quốc tử giám luyện hàng danh nhân. (Lý Nhân Tông)

Tuổi già nhưng sức chẳng già

Vung gươm Bắc tiến quân nhà Tống tan

Xuôi Nam Chiêm quốc kinh hoàng

Thơ thần một áng lời vàng còn ghi. (Lý Thường Kiệt)

Một lòng giữ đúng chiếu Vua

Tiền muôn bạc triệu cũng thua gan vàng

Giữ tròn liêm chính trung cang

PhòVua giúp nước chiêu an trong ngoài. (Tô Hiến Thành)

Vì nhà vì nước giao tranh

Thanh gươm yên ngựa phá thành đốc quân

Sa cơ nào quản tấm thân

Mặc voi dày xéo chết gần chồng con. (Bùi Thị Xuân)

Một phen quét sạch quân Đường

Nổi danh Bố Cái ĐạiVương thuở nào

Tiếc thay mệnh bạc tài cao

Giang sơn đành phải rơi vào ngoại bang. (Phùng Hưng)

Vua nào tám tuổi lên ngôi

Dẫu rằng còn nhỏ nhưng người thông minh

Ngai vàng hư vị nào vinh

Vì dân trốn khỏi trường thành nửa đêm? (Duy Tân)

Tháng giêng Kỷ Dậu mùng năm

Trận nào khiến giặc xâm lăng rã rời

Một vùng khói lửa ngút trời

Quân ta đại thắng mọi người mừng vui? (Ngọc Hồi)

Đố ai đã bị lưu đày

Chỉ vì câu nói đêm ngày đảo xa

Rồi sau đó được vua tha

Đem về dưa hấu đậm đà thơm ngon? (An Tiêm)

Đố ai học vấn uyên thâm

Nho y lý số mười phân vẹn mười

Sùng Chính Viện mở ra đời

Công trình dịch thuật nửa vời tiêu tan? (Nguyễn Thiếp)

Hỏi ai thề trước mặt Vua

Đầu thần chua rụng thì chưa nên hàng

Một lời quyết chiến hô vang

Phá quân Mông Cổ chận đàng xâm lăng. (Trần Thủ Độ)

Khắp nơi bô lão về đây

Lòng già chí trẻ giơ tay thề nguyền

Muôn lời quyết chiến vang lên

Hội gì đoàn kết, giặc Nguyên tan tành? (Hội Nghị Diên Hồng)

Đố ai khoẻ mạnh phi thường

Nhổ cây to đánh dẹp phường hại dân

Làm quan trừ kẻ loạn thần

Rồi sau lại phá tan tành quân Chiêm? (Lê Phụng Hiểu)

Cầm binh lắm trí nhiều mưu

Nổi danh là một nữ lưu anh hùng

Hỏi ai vợ bé giúp chồng

Nhiều phen chống Pháp ở vùng Nhã Nam. (Vợ ba Đề Thám, tên là Đặng Thị Nhu )

Thư ký tại Việt Nam khách sạn

Cương quyết làm CáchMạng chống Tây

Chỉ huy đánh phá đó đây

Thực dân khiếp sợ người này là ai? (Đoàn Trần Nghiệp)

Bậc anh hùng tài không đợi tuổi

Sáu chữ cờ giong ruổi khắp nơi

Đánh cho quân giặc tơi bời

Chương dương, Hàm Tử rạng ngời chiến công. (Trần Quốc Toản)

Lấy Dạ Trạch làm nơi kháng chiến

Mơ ngày về đánh chiếm Long Biên

Nhiều năm kham khổ liên miên

Hỏi ai ngang dọc khắp miền sậy lau. (Triệu Quang Phục)

Ai là kẻ hôn quân bạo ngược

Cố giết anh để được làm Vua

Ngày đêm yến tiệc say sưa

Đứng ngồi chẳng được nằm bừa trên ngai? (Lê Long Đỉnh)

Ông Trạng nào mới mười hai tuổi

Bị cho về học hỏi ít năm

Sứ Tàu sau đó hỏi thăm

Lại ra đối đáp khó khăn chẳng từ? (Nguyễn Hiền)

Hỏi:

Tiếng đồn anh hay chữ

Cho hỏi đôi câu lịch sử Khánh Hoà

Từ ngày Tây cướp nước ta

Có ai khởi nghĩa xông pha diệt thù ?

Đáp:

Khánh Hoà thì có ba ông

Ông Trần Đường giữ đèo Dốc Thị

Ông Trịnh Phong lo mặt biển Cù

Ông Nguyễn Khanh lo mặt quân nhu

Ba ông một dạ nghìn thu còn truyền .

Ngày nay sinh hoạt câu đố trong dân gian không còn thịnh hành, bà con không còn thói quen đố nhau trong những giờ lao động sản xuất, những dịp giải trí nghỉ ngơi hay những ngày lễ tết, mừng tân gia, giỗ quải…Theo sự đổi thay của xã hội, thể loại câu đố đã biến dạng thành các trò chơi khác...nhưng những câu đố mộc mạc, bình dị của ngày xưa vẫn thấm sâu vào lòng người, ray rức mãi không thôi…

ĐỖ ĐỘ

  

Về trước

   

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net