QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CẤU TRÚC HỆ THỐNG THỜ TỰ TRONG ĐÌNH LÀNG

Ở HUYỆN NINH HÒA

 Hình Phước Liên

Đình Phú Nghĩa

 I. Đặc điểm khái quát :

Lịch sử mở cõi về Phương Nam của cha ông ta còn ghi rõ: Năm 1653, vua Chàm là Bà Tấm đem quân xâm lấn vùng đất Phú Yên. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần sai Hùng Lộc mang quân chống cự. Bà Tấm đại bại và bị bắt. Con trai của Bà Tấm là Sát Bà Ân đã cắt vùng đất từ phía bờ nam sông Phiên Lang đến giáp Thạch Bi Sơn dâng cho Chúa Nguyễn để cầu hòa và chuộc mạng cho cha. Sau khi nhận phần đất này, Chúa Nguyễn đã cho thành lập hai phủ Thái Khang và Diên  Ninh, đặt dinh trấn tại Thái Khang (tức Ninh Hòa) và giao cho Cai Cơ Hùng Lộc trấn giữ. Vùng đất Khánh Hòa có tên từ đó ! Và lúc bấy giờ với vị trí là thủ phủ của tỉnh, huyện Ninh Hòa là nơi quan trọng nhất, là chốn “Kinh Kỳ” của tỉnh Khánh Hòa vậy!

Sau khi mở cõi, đất Khánh Hòa đã nhanh chóng thu hút nhiều người dân của vùng Ngũ Quảng, Bình Định, Phú Yên vào đây lập nghiệp. Họ đi chủ yếu bằng đường thủy và dừng chân lại ở cửa sông, ven biển_ là nơi thiên nhiên đã dành sẵn lộc trời cho những người con xa xứ _ để lập làng lập ấp. Những làng biển ở Khánh Hòa vì vậy thường là những làng có lịch sử khai cơ lập nghiệp lâu đời hơn các làng nông nghiệp .

Cùng với sự di dân của người Việt vào đất mới là sự tháo lui của một số bộ phận người Chăm vào phái Nam sau khi Bà Tấm cắt đất cho Chúa Nguyễn Phúc Tần. Một số cư dân người Chăm khác đi ngược về phía Tây để cùng chung sống với những đồng bào sắc tộc bản địa; số còn lại đã cùng với người Việt chung sống và chăm lo phát triển vùng đất này. Và như thế đã tạo nên những xóm làng người Việt sống đan xen với xóm làng người Chăm. Sự cộng sinh cộng cư của hai dân tộc Chăm_Việt dần dần phát triển, hòa quyện vào nhau tạo thành những  nét riêng trong đời sống của cư dân Khánh Hòa mà không phải ở miền đất nào cũng có.

Cũng trong thời kì này, phong trào kháng Thanh phục Minh bị đàn áp mạnh mẽ ở Trung Quốc, một số di thần nhà Minh và nhân dân các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu…đã theo đường biển đi về phương Nam tìm đất sống…Thế là một lần nữa người dân bản địa 

Khánh Hòa lại dang tay đón nhận, cưu mang những người dân đến từ phương Bắc cùng chung sống, và sự cộng sinh cộng cư lần này lại làm nảy sinh thêm những nét riêng mới và tạo nên những tính  chất đa dân tộc cho vùng đất Khánh Hòa. Tất nhiên, huyện Ninh Hòa với tư cách là nơi dinh trấn thì sự hình thành nét riêng ấy càng rõ nét hơn !

Về tín ngưỡng : Phần đông nhân dân Khánh Hòa nói chung và huyện Ninh Hòa nói riêng có phong tục thờ cúng ông bà, chiếm khoảng 80% dân số. Số còn lại theo Đạo Phật, Đạo Kitô, Đạo Cao Đài…Song dù theo tôn giáo nào người Khánh Hòa đều có chung quan niệm “vạn vật hữu linh “và đặt lòng tin sâu sắc vào sự độ trì, phù hộ của các đấng siêu nhiên. Ngoài ra, người dân Khánh Hòa còn có những tín ngưỡng dân gian được thể hiện qua các tập tục thờ Bà Thiên Y Thánh Mẫu, tục thờ Ông Nam Hải, tục thờ Ông Quan Thánh…Những tập tục ấy là kết quả độc đáo của quá trình cộng sinh, cộng cư giữa các dân tộc Việt _ Chăm _ Hoa trên mảnh đất này.

Cùng với những đặc điểm của thiên nhiên và lịch sử, ba tập tục thờ cúng dân gian đó đã tạo nên  bản sắc văn hóa cho vùng đất Khánh Hòa. Ba tập tục ấy giao thoa, đấu kết và hòa quyện nhau tạo nên đời sống tâm linh mang hình chóp nón mà đáy là tục thờ Bà Thiên Y Thánh Mẫu và đỉnh là sự hội tụ của tục thờ Mẫu của hai dân tộc Việt – Chăm được phủ thêm màu sắc của Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo để phù hợp với cấu trúc đa nguyên trong tín ngưỡng người Việt ở Khánh Hòa nói chung và Ninh Hòa nói riêng mà một trong những biểu hiện ấy là sự cấu trúc hệ thống tế tự trong đình làng ở huyện Ninh Hòa mà chúng tôi sẽ đề cập dưới đây .

2 . Đình làng ở huyện Ninh Hòa:

Đình là một thiết chế văn hóa và tâm linh thuần Việt. Hễ có làng là phải có  đình làng. Đình làng là nơi để dân làng thờ tự các vị thành hoàng, các bậc tiền hiền đã có công khai khẩn, xây dựng làng xóm và cũng là nơi để người dân tổ chức các cuộc hội hè đình đám  trong những lúc nông nhàn hoặc những ngày kỷ niệm…Đình làng vì thế mà trở nên rất đỗi thiêng liêng và gần gũi đối với những người dân Việt ở vùng nông thôn. Và đã từ lâu nó đã trở thành một biểu tượng của người Việt chúng ta. Ở huyện Ninh Hòa cũng thế, đình làng là một thiết chế văn hóa cổ truyền phổ biến nhất. Theo thống kê thì toàn huyện hiện nay có 121/176 thôn là có đình làng, trong đó nhiều đình làng đã được xây dựng từ thời Lê Cảnh Tông (1776).

 

Đình Phú Diêm

2.1. Hướng đình:

Ca dao Nam Trung Bộ ngày nay vẫn còn ghi được những câu nói về hướng đình thật ngộ nghĩnh :

Toét mắt là tại hướng đình

Cả làng toét mắt chứ phải một mình em đâu”

Thật vậy, hướng đình bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu trong khi xây dựng .

Cũng như hầu hết đình làng trên khắp nước ta, đình làng ở huyện Ninh Hòa bao giờ cũng được xây dựng trên khuôn viên đất rộng rãi và thoáng đãng và thường ở cạnh đường qua lại của dân làng. Khuôn viên xây dựng đó là một càn khôn thu nhỏ theo quan niệm của triết lý âm dương ngũ hành.

Trong khuôn viên vuông vức ấy, ngôi đình được xây dựng ở vị trí trung tâm (hành thổ) hướng mặt về phía nam (hành hỏa) và như vậy, phía sau đình là hướng bắc, phía trái đình là hướng đông , phía phải đình là hướng tây vậy. Những ngôi đình cổ ở Ninh Hòa còn lưu lại đến ngày nay đều có hướng theo quan niệm truyền thống này !

Những người già ở Ninh Hòa bảo: ”Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng Nam“. Nhà còn như vậy, huống chi là đình ! Theo quan niệm cổ truyền thì hướng nam là hướng sinh khí, thịnh vượng, là hướng “diên niên trường thọ”. Vì thế mà hướng đình thường được chọn hướng nam là vậy !

Thế nhưng ngày nay, đại bộ phận các ngôi đình làng ở Ninh Hòa đều tồn tại dưới dạng đại trùng tu, xây lại và mới xây trong những  năm gần đây. Nếu lấy la bàn ra xác định phương hướng thì có không ít đình không quay mặt về hướng nam, thậm chí có đình lại quay về hướng bắc, đông bắc.  Song một khi bước vào chính điện thì ta sẽ thấy chính giữa dành để thờ Thần, bên trái là Tả ban, bên phải là Hữu ban, vách trái là Đông hiến và vách phải là Tây hiến thì rõ ràng hướng mặt đình là hướng nam rồi, không còn gì phải bàn cãi cả. Vì vậy, hướng nam ngày nay không phải là hướng cụ thể theo la bàn mà là hướng của tâm linh, hướng của biểu tượng vậy !

Ở  Khánh Hòa nói chung và ở Ninh Hòa nói riêng khi nói đến đình làng mà không nói đến các thiết chế tâm linh khác thường nằm chung trong một khuôn viên của đình như: Miếu Thiên Y Thánh Mẫu, Miếu Âm Hồn và Tiền Hiền thì sẽ là điều thiếu sót .

2.2.  Tiền Hiền Từ :

Ở Ninh Hòa, Tiền Hiền Từ thường được xây dựng trong khuôn viên của đình để tiện việc hương khói và tế tự. Song cũng có một số nơi có  hẳn một khu tiền hiền riêng biệt và lấy đó làm nơi sớm hôm nhang khói phụng thờ, đấy cũng là nơi giữ sắc phong của đình làng và các nghi trượng khác …Những nới ấy đình làng thường chỉ mở cửa vào những ngày lễ hội hoặc những ngày sóc vọng.

Đối với những nơi mà Tiền Hiền Từ nằm trong khuôn viên đình thì thường được xây dựng ở phía trái của đình hoặc ở phía sau ngôi đình làng và thông thường Tiền Hiền Từ không lớn bằng đình làng và họa tiết cũng đơn giản hơn.

2.3.  Miếu Thiên Y Thánh Mẫu :

Tục thờ Bà Thiên Y Thánh Mẫu là tập tục lâu đời của người dân Khánh Hòa cũng như của Ninh Hòa. Đó là kết quả của một quá trình cộng sinh cộng cư giữa hai dân tộc Chăm _ Việt trên mảnh đất này.

Miếu Bà thường được xây ở phía tây làng _ để tưởng nhớ đến nơi Bà đã được đản sinh (?) _ và thường ở cạnh cánh đồng, giòng nước hoặc nơi có cây cao bóng mát.

Đố với người dân ở vùng đất Khánh Hòa, Bà Thiên Y Thánh Mẫu là vị phúc thần được tôn sùng nhất và không ít làng đã chọn Bà làm Thành hoàng của làng mình. Các sắc phong của triều đình cho các đình ở Ninh Hòa đã nói lên điều đó.

Có lẽ vì xem Bà là Thành hoàng nên sau này nhiều làng ở Ninh Hòa đã cho dời miếu Bà vào trong viên của đình để thờ tự.

Ngoài việc đưa Tiền Hiền Từ và Miếu Thiên Y Thánh Mẫu vào thờ trong khuôn viên đình làng ra, ở Ninh Hòa nhiều nơi còn đưa cả Miếu Cô Hồn vào trong khuôn viên đình làng thờ phụng và cứ vào các dịp xuân kỳ, thu tế, người dân ở Ninh Hòa cũng thường cùng một lúc lễ tế cả Bà Thiên Y, Cô Hồn, Tiền Hiền ngay trong lễ hội đình làng của mình. Sự phối thờ, phối tế ấy là một hiện tượng văn hóa độc đáo chỉ có ở vùng đất Khánh Hòa.

3. Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng ở huyện Ninh Hòa :

Như trên đã nói, khuôn viên của đình làng ở Ninh Hòa là một càn khôn thu nhỏ mà chính điện được nằm ở trung tâm. Từ vị trí ấy suy ra hướng đình phải là hướng nam, hướng” diên niên trường thọ”.  Đình quay mặt ra cánh đồng lúa mênh mông, phía sau là vườn đình trồng những cây lưu niên như: củ chi, cây gạo, cây me…nhằm để tạo nên cảnh quan” tiền thủy hậu sơn” mà một ngôi đình lý tưởng cần phải đạt được.

Qua khảo sát một số đình làng ở huyện Ninh Hòa, chúng tôi thấy cấu trúc hệ thống đình làng ở đây được sắp xếp như sau :

 3.1.Cổng đình:

Thường được xây theo lối cổng Tam quan. Cổng chính có bức hoành phi đề tên đình và thường được khép kín trừ những khi có lễ lạc hoặc có chuyện thật cần thiết. Hai cổng phụ gồm “ Tả nghi” và “Hữu hữu ”, được cấu trúc nhỏ và thấp hơn cổng chính thường được mở cho dân làng và khách hành hương ra vào thăm viếng .

Bốn trụ của cổng Tam quan có hai câu đối. Thông thường có nội dung nói về làng và hai chữ đầu của hai vế đối của cổng đình ghép lại chính là tên của làng vậy .              

                                  Mỹ  Lệ đình từ cơ đồ tăng củng cố

                                  Hoán luân thể thức phong cảnh tráng quan liêm ..

                                            (Cổng đình làng Mỹ Hoán – Ninh Thân)

                                 Xuân phong nhập viện thiên hương phát

                                 Hòa khí diên đồng bách tính hưng

                                            (Cổng đình làng Xuân Hòa –Ninh Phụng)

Nội dung câu đối ở cổng đình trước hết là một cách “xưng tên” và qua đó thể hiện niềm mơ ước và lòng tự hào về nơi mà mình đã sinh ra, lớn lên và gắn bó suốt đời.

3.2. Án phong :

Là bức tường vuông mỗi cạnh chừng 1,5m được đặt cách cổng chính chừng 2 mét và đối diện với cửa chính của ngôi đình. Án phong được đặt ở vị trí ấy nhằm không cho người qua lại được nhìn trực diện vào “Thần diện” để bày tỏ lòng tôn kính và cũng là vật để trừ tà trấn quỷ .

Mặt ngoài của án phong là bức tranh hình Long mã phụ đồ (Long mã mang bát quái đồ) và hàng liễn đối :

                                Tự cổ Phục Hy phân dịch  số

                                Truyền kim Long Mã phụ đồ thư

Mặt trong là bức tranh : Thảo dã ngao du , vẽ hình hai con nai đang uống nước bên bờ suối với chim muông, cây cỏ xanh tươi và hai câu đối :

                               Long phi phụng vũ thăng niên thế

                              Yến ngữ oanh ca cẩm tú xuân

Nói chung về các câu đối thì có thể khác nhau nhưng đều có nội dung phù hợp và tương thích  với hai bức tranh “ Long Mã phụ đồ ” và  “Thảo dã ngao du “ .

Đình Hội Phú

3.3. Sân đình :

Là khoảng đất rộng được tính từ án phong đến thềm của ngôi đình. Sân đình là nơi để bà con dân làng tụ tập hành lễ và là nơi để “ xây chầu “ trong những ngày lễ hội. Sân đình ở các làng thuần nông thì không  lợp mái còn ở làng biển thì lợp mái để tạo thành “ Võ ca” dành cho hát bộ .Trong sân đình có hai “ Thổ kỳ” : Bên trái thờ Bà Ngũ hành hoặc Bà Hỏa tinh, Bà Hậu thổ, Bà Thủy tinh…là những vị nữ thần đại diện cho sự sinh sôi nảy nở. Bên phải thờ Sơn lâm chúa tướng – là vị thần đại diện cho sự hủy diệt

Cách thờ tụ tương ứng hai lực lượng “sinh sát” này là biểu hiện cụ thể của triết lí âm dương về quan điểm hài hòa trong cuộc sống … Nhưng cho dù là “sinh” hay “sát” thì người dân đều một lòng ngưỡng vọng như nhau. Những câu đối nhỏ viết ở miếu thờ dưới đây phần nào đã nói lên điều ấy .

Miếu thờ Ngũ phương ngũ thổ ( Ngũ hành ) ở Mỹ Hoán có hai câu đối :

                                    Tứ thời thùy bảo hựu

                                   Thiên cổ phối hương  nguyên                                                           

Miếu thờ Sơn lâm chúa tướng có hai câu đối :

                                  Văn thanh bất khiếp cụ

                                  Kiến sắc vật bôn mang

Miếu  thờ Thủy Đức thánh quang ( Ngũ Hành) ở đình Xuân Hòa có hai câu đối :

                                  Đông tây nam bắc trung hữu tượng

                                  Kim mộc thủy hỏa thổ vô cương

Miếu  thờ Sơn lâm chúa tướng  ở đình Xuân Hòa còn có hai câu đối :

                                 Sơn lâm oai hiển hách

                                 Thảo dã dũng  hùng anh

3.4.  Chính điện :                                                                                                                         

Điện chính của đình chia làm ba khu vực :

a. Chính điện :

Là khu vực giữa của ngôi đình, thường rộng bằng 2/5 diện tích chung của ngôi đình. Đây là nơi dùng để thờ thaanf nên còn gọi là Thần diên. Trên bức vách được viết một chữ “Thần” lớn và hai hàng liễn đối có nội dung ca ngợi công đức của thần :

                                Chính khí lưu thông trinh bất tức

                                Hồng ân phổ hộ mặc vô ngôn

Hoặc :

                                Càn không hữu tượng tinh thần tại

                                Phong nguyệt vô biên khí sắc cao

Thần được thờ trong đình làng ở Việt Nam ta thấy hầu hết là các bậc thiên thần, nhân thần và cả nhiên thần. Ở Ninh Hòa qua khảo sát, thần   được  thờ trong đình làng là Thành hoàng (không có tên cụ thể ), song khá nhiều đình đã lấy Bà Thiên Y Thánh Mẫu hoặc Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Long Vương làm Thành hoàng của làng mình. Một số làng còn thờ cả hai vị phúc thần trên ngay cùng một thần điện và hiện tượng này ở Ninh Hòa cũng không phải là hiện tượng cá biệt …                                                                                     

Ngoài ra tại chính điện còn có bài trí nhiều nghi trượng khác nhau            như : Tán lộng, bộ chấp kích (lỗ bộ) ..v..v.. tượng trưng cho uy quyền của nhà vua . 

b. Tả ban, Hữu ban :

Là hai bàn thờ đặt ở tay trái và tay phải tòa Thần điện .

Tả ban dành để thờ phụng các vị thần có liên quan đến sự sinh sôi nảy nở, còn Hữu ban thì thờ các vị Thần  có liên quan đến sự hủy diệt.

Ngoài ra, ở một số đình ở huyện Ninh Hòa còn thờ các Đông hiếnTây hiến ngay trong đình nữa .

TÓM  LẠI :

Qua cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng ở huyện Ninh Hòa, ta thấy nổi lên một số đặc điểm sau :

1. Hiện tượng phối thờ, phối tế là hiện tượng phổ biến và ngày càng có xu hướng phát triển ở Ninh Hòa. Hiện tượng này không chỉ xuất phát từ tâm lí muốn đơn giản hóa các nghi thức tế tự mà nó còn phản ảnh những nét rất riêng trong đời sống tâm linh của người dân Ninh Hòa nói riêng và Khánh Hòa nói chung , mà chúng ta cần phải đào sâu nghiên cứu kỹ hơn nữa .

2. Tập tục thờ Bà Thiên Y Thánh Mẫu và Ông Nam Hải có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh của người dân Ninh Hòa và Khánh Hòa, góp phần tạo nên bản sắc của một  vùng đất và đang chờ đợi chúng ta tiếp tục nghiên cứu để làm rõ thêm vấn đề mà nhiều người đã từng đề cập đến.

HPL

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net