QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

Bài cùng tác giả

- Bố Đại hòa thượng và nụ cười nguyên xuân

- Thúy Kiều đã đàn những bài gì cho Kim Trọng nghe ở lần đầu gặp gở?

- Bài chòi và nghệ thuật độc diễn

- Mùa xuân Ê - Đê

- Truyện thơ và bài vãn ở Khánh Hòa

- Lý Bạch và bài thơ Hoàng Hạc Lâu

- Tam thập lục kế có phải là của Tôn Tử không?

- Những gánh Bài chòi ở quê tôi

- Mùa xuân bàn chuyện xin xăm Đức Thánh Trần

- Gió đã chuyển mùa

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo - Nha Trang

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh

- Rượu Hồng Đào

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ...

 

 

 

 

ĐỒNG KHÁNH DƯ ĐỊA CHÍ LƯỢC

Hình Phước Liên

Kỳ 1

 

LTS: “Đồng Khánh địa dư chí lược” tên bộ sách địa dư do các quan phụng mệnh vua, soạn năm 1886 (Đồng Khánh nguyên niên ), kể rõ tên các xã, tổng, phủ, huyện, kèm theo bản đồ, nhưng không chép các tỉnh Nam phần, vì đã cắt nhường cho Pháp. Là một bộ sách cực quý nhưng phải đến năm 2003, bộ sách này mới được dịch và xuất bản ở nước ta. Tuy nhiên, do khuôn khổ của sách (cả lời văn và bản đồ) quá lớn, nên lần xuất bản này chỉ bao gồm 19 tập tính từ Thừa Thiên – Huế trở ra.

Tạp chí Nha Trang xin giới thiệu bản dịch từ bản chép tay chữ Hán quyển 25, chi 10 viết về tỉnh Khánh Hòa của Hình Phước Liên để bạn đọc có thêm tư liệu tìm hiểu về miền đất Khánh Hòa. Trân trọng!

TỈNH KHÁNH HÒA

Tỉnh lỵ đặt tại ranh giới hai xã Trường Thạnh, Phú Mỹ thuộc tổng Ninh Phước, huyện Phước Điền. Thành được xây bằng đất, chu vi 636 trượng, 4 thước, 7 tấc; cao 8 thước, 5 tấc. Thành hình bát giác, bên trong có 4 góc (mỗi góc có đắp núi đất); 4 cửa (đều xây bằng đá ong và gạch nung); có lầu canh lợp ngói, hào sâu 4 trượng, 5 thước.

Địa hạt thuộc tỉnh quản lý: Phía đông cách 20 dặm giáp biển, phía tây cách 37 dặm giáp vùng đồi núi, cách 117 dặm về phía nam giáp ranh giới huyện An Phước, tỉnh Bình Thuận, cách 155 dặm về phía bắc giáp ranh giới huyện Tuy Hòa thuộc đạo Phú Yên, cách 89 dặm về phía đông nam giáp hải phận tỉnh Bình Thuận, cách 71 dặm về phía tây nam giáp vùng đồi núi, cách 91 dặm về phái đông bắc giáp cửa biển Vân Phong, cách 97 dặm về phía tây bắc giáp vùng đồi núi. Cự ly Đông - Tây là 58 dặm, Nam – Bắc là 272 dặm.

Thuộc quyền tỉnh quản gồm 2 phủ, 4 huyện. Đinh: 5435 suất; binh: 1308 suất. Điền thổ: 12.976 mẫu, 7 sào, 8 thước, 7 tấc, 5 phân, trong đó, 9867 mẫu, 7 sào, 8 thước, 4 tấc đất ruộng và 3289 mẫu, 3 tấc, 5 phân đất thổ.

Tiền thuế hàng năm thu được 13.918 quan, 21 văn, 6 phân, 9 ly; 6.406 đấu, 5 cân, 1 hợp, 6 điếu thóc.

Phủ Diên Khánh kiêm lý huyện Phước Điền và cai quản huyện Vĩnh Xương; Phủ Ninh Hòa kiêm lý huyện Quảng Phước và cai quản huyện Tân Định.

Phong tục: Các phủ đều giống nhau.

Người dân bốn huyện trong tỉnh chất phác, hiền lành. Dân sống ven  núi quen việc nông tang, dân sống ven biển quen nghề đánh bắt. Cũng có người sống bằng nghề công thương nhưng phần đông đều nhỏ lẻ, ít người tích tụ lớn. Đàn ông, đàn bà đầu vấn khăn vuông, người giàu thì lụa là, kẻ nghèo thì vải thô. Ngày thường quen uống nước lả, đến khi tế tự, cầu phúc thì tổ chức ca xang.

Toàn tỉnh có 30 xã, thôn có người dân theo Tả đạo (Công giáo), trong đó các xã, thôn gián tòng tả (người Công giáo ở cùng với người không có đạo), gồm: Phú Cốc, Phú Lộc, Đại Điền, Phú Cấp, Phú Nẫm, Võ Cạnh, Xuân Phong, Trường Thạnh, Trường Lạc, Phước Thạnh, Lương Phước, Trung Giang của huyện Phước Điền; Ngọc Hội, Phú Nông, Phú Nhơn, Phú Vinh, Xuân Lạc, Vĩnh Châu của huyện Vĩnh Xương; Phước Đa, Văn Định, Ngọc Sơn của huyện Quảng Phước; Mỹ Thành, Đại Cát, Mỹ Thạnh, Xuân Hòa, Vĩnh Phước, Hội Phú, Hội Bình, Cát Lợi của huyện Tân Định. Duy nhất thôn Tiên Hương của huyện Phước Điền là Công giáo toàn tòng.

Cư dân hai cửa biển Nha Trang, Bình Nguyên và các tộc người vùng núi thích ở nhà sàn; làm các nghề khác nhau, hoặc chăn nuôi, hoặc trồng trọt. Họ rất chuộng các vật bằng đồng thau, đồ gốm; chỉ mặc vải thô, ăn muối hạt. Thường trao đổi heo, dây mây với người Hán. Nói chung, người dân ở vùng bình nguyên La Vạn, Lục Vân khôn ngoan, khó dạy chứ không thuần phác như  người dân tộc ở vùng Nha Trang.

Sản vật:

Các huyện đều có khoai, đậu, dưa, lúa; còn có cả vải, chiếu, tơ tằm, lụa là…Ở các vùng núi thì có ô mộc (gỗ mun), xích mộc (gõ đỏ), giáng hương, nam mộc, kỳ nam, trầm hương, sáp vàng, mật trắng, sa nhân, ý dĩ, sơn phù, dầu rái, quả trám, tô hợp hương, thạch long đằng, mã tiền tử cùng nhung hươu, tê giác, ngà voi, lông công, lông trĩ, gấu, hổ…Miền biển thì có cá, ba ba, muối hạt, cho tới xa cừ, đồi mồi, yến sào cũng có.

Khí hậu: Các phủ giống nhau.

Bốn mùa lạnh ít, nóng nhiều. Sau tháng 4 thường có mưa giông; cuối thu sang đầu đông có mưa rào, nhiều lam chướng, khí hậu ẩm thấp nên thường gây ra dịch bệnh.

Cấy trồng chia làm hè, thu 2 vụ. Thủy triều mỗi tháng 2 hoặc 3 lần. (Tháng 2, tháng 8 mỗi tháng 3 lượt vào các ngày mùng 3, 17, 29; các tháng còn lại đều 2 lần vào các ngày 17 và 30).

Sơn thủy:

Núi: Bốn phủ, huyện trên địa hạt của tỉnh có nhiều núi, trong đó có những ngọn nổi tiếng như: Tam Phong sơn (Ba Non), Đại Lãnh sơn, Phước Hà sơn (Hòn Hèo) của huyện Quảng Phước; Bà sơn (Hòn Bà), Đại Điền sơn (Núi Chúa) của huyện Phước Điền.

Sông: Nhiều nhưng cạn và hẹp, chỉ có sông Phú Lộc của huyện Phước Điền và sông Vĩnh Phú của huyện Tân Định là tương đối lớn.

Từ miếu:

Tại địa phận huyện Phước Điền, phủ Diên Khánh có: Đàn Xã Tắc,  Đàn Sơn Xuyên, Đàn Tiên Nông, Văn Miếu, Miếu Hội Đồng, Miếu Thành Hoàng. Địa phận huyện Vĩnh Xương có Miếu Công Thần. Trong Thành của tỉnh có Thiên Y Từ thờ Thiên Y Thánh Nương. Địa phận huyện Phước Điền có Quá Quan Từ.

Danh thắng:

Linh Tiên Cổ Tháp thuộc địa phận huyện Vĩnh Xương (xem rõ ở phần huyện).

Đồn lũy:

- Đồn trên bộ: Tại địa phận huyện Vĩnh xương, phủ Diên Khánh. Đồn được đắp bằng đất, chu vi dài 36 trượng, 4 thước; cao 7 thước; dày 7 thước, 5 tấc.

- Đồn giáp ranh: Đắp đất. Chu vi dài 7 trượng, 5 thước; cao 7 thước; dày 8 thước.

Lộ trình:

- Đường cái quan:

+ Phía nam phủ lỵ Diên Khánh: Bắt đầu từ trạm Hòa Thạnh đi qua Hòa Tân, Hòa Do, Hòa Quân đến trạm Thuận Lai tỉnh Bình Thuận. Dài 117 dặm, rộng trên dưới 1 trượng.

+ Phía bắc tỉnh lỵ: Bắt đầu từ trạm Hòa Thạnh đi qua Hòa Cát, Hòa Mỹ, Hòa Huỳnh, Hòa Mã đến trạm Phú Hòa thuộc địa phận vùng núi đạo Phú Yên. Dài 155 dặm.

- Đường nhỏ:

+ Một con đường dài 20 dặm, rộng dưới 3 thước, khởi đầu từ phía đông tỉnh lỵ đi qua Thủy Vệ Xá đến của biển Đại Cù Huân.

+ Một con đường nhỏ khác dài 3 dặm, rộng dưới 3 thước, chạy từ phía đông nam Thủy Vệ Xá đến của biển Tiểu Cù Huân.

+ Một con đường dài 38 dặm, từ phía tây tỉnh lỵ đến các sóc của người dân tộc.

- Đường biển:

Phía nam từ Hòn Chuông - ranh giới hải phận tỉnh Bình Thuận - đi về phía bắc qua các cửa biển Cam Ranh, Cù Huân, Nha Phu, Vân Phong đến giáp cửa biển Đà Nông thuộc đạo Phú Yên. Nếu thuận tiện đi 3 ngày, đêm là đến.

 

Phủ Diên Khánh:

Phủ lỵ đóng tại địa phận xã Phú Ân Nam, tổng Trung Châu, huyện Phước Điền. Bốn bề tre trúc bao quanh dài đến 64 trượng.

Địa phận thuộc phủ quản lý: Cách 17 dặm về phía đông giáp biển; cách 40 dặm về phía tây giáp vùng đồi núi; cách 117 dặm về phía nam giáp ranh giới huyện An Phước, tỉnh Bình Thuận; cách 46 dặm về phía bắc giáp ranh giới huyện Tân Định, phủ Ninh Hòa. Cự ly Đông - Tây là 57 dặm, Nam – Bắc là 163 dặm.

Phủ Diên Khánh kiêm lý huyện Phước Điền và quản lý cả 10 tổng thuộc huyện Vĩnh Xương. Đinh:  2764 suất; binh: 653 suất. Điền thổ: 6777 mẫu, 7 sào, 14 thước, 9 tấc. Trong đó, đất ruộng là 4477 mẫu, 1 sào, 1 thước, 8 tấc; đất thổ là 2300 mẫu, 6 sào, 13 thước, 1 tấc.

Thu thuế năm: 7516 quan, 7 mạch, 59 văn, 8 phân tiền mặt và 2741 đấu, 6 thăng, 2 hợp thóc.

Huyện Phước Điền có 6 tổng gồm: Tổng Thượng Châu, tổng Trung Châu, tổng Phương Châu, tổng Vĩnh Phước, tổng Ninh Phước, tổng Thanh Phước.

- Huyện Vĩnh xương có 4 tổng gồm: Tổng Trung, tổng Thượng, tổng Hạ và tổng Xương Hà.

1. Sản vật:

Huyện Phước Điền đã sản xuất được các loại vải vóc như: Tơ tằm, lụa, the, nhiểu đen có hoa. Rừng Phước Điền có các sản phẩm quý như mật trắng, giáng hương, sơn phù. Huyện Vĩnh Xương có yến sào, hải sâm, muối trắng, cá, ba ba; chiếu cói, dầu rái, quả trám, gỗ mun, gõ đỏ… Ngoài ra, còn có dưa, đậu, khoai, lúa, ý dĩ, mã tiền, nam mộc, sa nhân, mai lộc, tê giác, ngà voi, công, trĩ, gấu, hổ…

2. Núi sông:

Núi: Hai huyện Phước Điền, Vĩnh Xương có nhiều đồi núi, trong đó Đại Điền Sơn (núi Chúa) và Bà Sơn (Hòn Bà) là có tiếng.

Sông: Có một dòng sông lớn khởi nguồn từ vùng đồi núi chia thành ba nhánh, chảy đến huyện Phước Điền thì hợp thành một xuôi về phía đông, đổ ra cửa biển Cù Huân, huyện Vĩnh Xương. Sông dài tổng cộng 50 dặm, rộng 6 trượng và sâu chừng trên dưới 3 – 4 thước.

3. Đền miếu:

Quá Quan Từ (Đền Quá Quan):  Thuộc địa phận huyện Phước Điền, thờ Thiên Y Thánh Nương.

4. Danh thắng:

Cù Lao Sơn Linh Tiên cổ tháp: Thuộc địa phận huyện Vĩnh Xương (xem kỹ ở phần huyện Vĩnh Xương).

5. Đồn lũy:

Các đồn lũy đều nằm trên địa phận Vĩnh Xương (quy mô, hình thức xem ở phần viết về tỉnh).

6. Lộ trình

- Đường cái quan:

Phía Nam từ ranh giới tỉnh Bình Thuận đi qua trạm Hòa Quân, huyện Vĩnh Xương, xuống các trạm Hòa Do, Hòa Tân, Hòa Thạnh thuộc huyện Phước Điền; phía Bắc giáp ranh giới trạm Hòa Cát, huyện Tân Định. Dài tổng cộng là 163 dặm, rộng 1 trượng.

- Đường nhỏ:

Từ phía tây phủ lỵ chạy qua Tỉnh Thành đến vùng đồi núi. Dài 40 dặm, rộng trên dưới 3 thước. Ngoài ra còn có một con đường dài 18 dặm chạy từ  phía đông phủ lỵ qua Thủy Vệ Xá đến của biển Đại Cù Huân. Lại có một con đường nhỏ khác dài 3 dặm chạy từ phía đông nam Thủy Vệ Xá đến của biển Tiểu Cù Huân.

- Đường biển: Phía nam từ Hòn Chuông - ranh giới hải phận tỉnh Bình Thuận - đi về phía bắc qua cửa biển Cam Ranh đến cửa biển Cù Huân. Nếu thuận tiện đi một ngày, đêm là đến.

Huyện Phước Điền

Do Phủ Diên Khánh kiêm lý.

Địa phận quản lý của huyện: Cách 1 dặm về phía đông giáp ranh giới huyện Vĩnh Xương; cách 40 dặm về phía tây giáp vùng đồi núi; cách 1 dặm về phía nam giáp ranh giới huyện Vĩnh Xương; cách 46 dặm về phía bắc giáp ranh giới huyện Tân Định. Cự ly đông - tây là 41 dặm; nam – bắc là 47 dặm.

Huyện quản lý 6 tổng. Đinh: 1906 suất; binh: 396 suất.Điền thổ: 4574 mẫu, 6 sào, 6 thước, 4 tấc. Trong đó, đất ruộng là 2926 mẫu, 4 sào, 11 thước, 5 tấc; đất thổ là 1652 mẫu, 1 sào, 9 thước, 9 tấc.

Thu thuế năm: 5142 quan, 9 mạch, 51 văn, 3 phân, 6 ly tiền mặt và 1818 đấu, 11 thăng, 7 hợp thóc.

1. Tổng Thượng Châu: Có 4 xã, thôn, ấp gồm: Xã Phú Cốc, xã Xuân Phong Thượng, thôn Tiên Hương và ấp Khánh Xuân.

2. Tổng Trung Châu: Có 5 xã, thôn gồm: Xã Đại Điền, xã Phú Lộc, xã Phú Ân, xã Phú Cấp, thôn Phú Nẫm.

3. Tổng Phương Châu: Có 4 xã, thôn gồm: Xã Xuân Phong, xã Đắc Lộc, xã Như Xuân, thôn Hồi Xuân.

4. Tổng Vĩnh Phước: Có 5 xã gồm: Xã Bình Lộc, xã Đảnh Thạnh, xã Lễ Thạnh, xã Phước Thành và xã Phù Thiện.

5. Tổng Ninh Phước: Có 15 xã, thôn gồm: Xã Mỹ Lộc, xã Đại Hữu, xã Quang Thạnh, xã Hội Phước, xã Lương Phước, xã Nghiệp Thành, xã Thạnh Minh, xã Trường Lạc, xã Trường Thạnh, xã Phú Mỹ, xã Thanh Ninh, xã Phước Thạnh, xã Trung Giang, thôn Lạc Lợi, thôn Khánh Thành.

6. Tổng Phước Thanh: Có 3 xã gồm: Xã võ Cạnh, xã Võ Dõng, xã Võ Kiện.

- Sản vật:

Hai xã Phú Lộc, Phú Ân có nghề dệt làm ra các loại vải như: tơ tằm, lụa, the, nhiểu đen có hoa… Ngoài ra các tổng đều có trồng dưa, đậu, khoai,  lúa, ý dĩ, mã tiền tử. Các vật quý của rừng như: hươu nai, tê giác, ngà voi, chim công, lông trĩ, giáng hương, huỳnh đàn, mật trắng, sơn phù… cũng có.

- Sông núi:

Trên địa phận của huyện có Đại Điền  Sơn (Núi Chúa), Bà Sơn (Hòn Bà) là những núi có tiếng.

Có một dòng sông lớn khởi nguồn từ ba nhánh. Một nhánh dài 20 dặm từ Đồng Nẩy (?) chảy theo hướng đông nam; một nhánh dài 28 dặm từ thượng nguồn Nha Trang chảy theo hướng đông bắc; một nhánh dài 28 dặm từ Hòn Bà chảy theo hướng đông bắc, đến địa phận xã Phú Lộc thì hợp cùng các nhánh kia chảy theo hướng đông cho tới ranh giới địa phận huyện Vĩnh Xương. Dài 17 dặm, rộng 5 trượng, sâu chừng trên dưới 3 – 4 thước.

- Đền miếu:

Quá Quan Từ (Đền Quá Quan): Tại địa phận xã Xuân Phong, tổng Phương Châu. Thờ Thiên Y Thánh Nương.

- Lộ trình:

- Đường cái quan: Phía nam từ ranh giới trạm Hòa Tân, huyện Vĩnh Xương đi qua trạm Hòa Thạnh; phía bắc giáp ranh giới trạm Hòa Cát, huyện Tân Định. Dài tổng cộng là 53 dặm, rộng 1 trượng.

- Đường nhỏ: Một con đường dài 40 dặm, rộng trên dưới 3 thước, từ phía tây phủ lỵ, chạy qua khu thành của tỉnh lỵ đến vùng đồi núi. Một con đường dài hơn 2 dặm, chạy từ phía đông phủ lỵ đến ranh giới huyện Vĩnh Xương. Một con đường mòn men theo núi dài hơn 3 dặm, rộng 2 thước chạy từ phía bắc phủ lỵ đến ranh giới huyện Tân Định.

Huyện Vĩnh Xương

Thuộc quyền quản lý của phủ Diên Khánh. Huyện lỵ đặt tại địa phận xã Vĩnh Điềm, tổng Xương Hà. Bốn bề bao bọc bởi dậu tre dài đến 60 trượng.

Địa phận thuộc huyện quản lý: Cách 12 dặm về phía đông giáp biển; cách 3 dặm về phía tây giáp ranh giới huyện Phước Điền; cách 117 dặm về phía nam giáp vùng núi ranh giới huyện An Phước, tỉnh Bình Thuận; cách 3 dặm về phía bắc giáp ranh giới huyện Tân Định. Cự ly đông - tây là 15 dặm, nam – bắc là 120 dặm.

Huyện Vĩnh Xương có 4 tổng. Đinh: 858 suất; binh: 257 suất.Điền thổ: 2203 mẫu, 1 sào, 8 thước, 5 tấc. Trong đó, đất ruộng là 1554 mẫu, 6 sào, 5 thước, 3 tấc; đất thổ là 648 mẫu, 5 sào, 3 thước, 2 tấc.

Thu thuế năm: 2373 quan, 8 mạch, 8 văn, 4 phân, 4 ly tiền mặt và 922 đấu, 20 thăng, 5 hợp thóc.

Huyện Vĩnh Xương có 4 tổng gồm: Tổng Thượng, tổng Trung, tổng Hạ và tổng Xương Hà. 

- Tổng Thượng: Có 8 xã, thôn, hộ gồm: Xã Vĩnh Cát, xã Vạn Xương, xã Vạn Hội, xã Bá Lộc, xã Xuân Phú, thôn Khánh Lộc, hộ Khánh Bình, hộ Khánh Xương.

- Tổng Trung: Có 7 xã, thôn gồm: xã Thủy Xương, xã Phú Hậu, xã Cư Thạnh, xã Phước Trạch, xã Xuân Sơn, xã Bút Sơn, thôn Đồng Nhơn.

- Tổng Hạ: Có 12 xã, thôn, hộ gồm: xã Tân Lộc, xã Lập Định, thôn Vĩnh Niên, thôn Điều Lâm, thôn Mỹ Ca, thôn Nhược Đổ, thôn Hiệp Mỹ, hộ Khánh Thọ, hộ Khánh Nại, hộ Khánh Cam, hộ Khánh Hiệp, hộ Khánh Mỹ.

Tổng Xương Hà: Có 28 xã, thôn, hộ gồm: Xã Cửu Lợi, xã Phước Hải, xã Thái Thông, xã Thủy Tú, xã Vĩnh Châu, xã Phú Vinh, xã Xuân Lạc, xã Vĩnh Điềm, xã Phú Nhơn, xã Cù Lao, thôn Vĩnh Hy, thôn Bình Ba, thôn Thạnh Đức, thôn Thủy Triều, thôn Đồng Xuân, thôn Bình Tân, thôn Phú Nông, thôn Ngọc Hội, thôn Đường Đệ, thôn Minh Huân, thôn Phương Câu, thôn Phương Sài, thôn Vạn Thạnh, thôn Trường Tây, thôn Trường Đông, thôn Trí Nguyên, thôn Bích Đàm (Đầm), hộ Vĩnh Xuân.

1. Sản vật:

Muối trắng Bình Tân; chiếu cói Thái Thông; yến sào Hòn Nội, Hòn Ngoại thuộc thôn Trường Tây; riêng hải sâm chỉ có vùng biển Cam Linh mới có. Các tổng cũng trồng được dưa, đậu, khoai, lúa, ý dĩ, mã tiền tử. Ngoài ra, còn có nhung nai, tê giác, ngà voi, lông công, lông trĩ, quả trám, dầu rái, gỗ mun, gõ đỏ, nam mộc, cá, ba ba…

2. Núi sông:

Núi: Hòn Bần, hòn Phú Cảnh, hòn Đồng Đế, hòn Cù Lao, hòn Tinh Trung, hòn Ngọc Hội, hòn Khố (Hòn Trại Thủy), hòn Cảnh Long, hòn Giáng Hương, hòn Diễn, hòn Hoàng Ngưu (Đồng Bò), hòn Thạnh Đức, hòn Hòa Quân, hòn Phong Lãnh, hòn Hiệp Mỹ, hòn Du Lâm, hòn Nhược Đổ, hòn Nghê… Không có núi có tiếng.

Sông: Có một dòng sông lớn dài 3 dặm, rộng 5 trượng, sâu trên dưới 3 – 4 thước, chảy từ Phước Điền đến địa phận thôn Vạn Thạnh. Từ Vạn Thạnh lại chia thành 3 nhánh, một nhánh dài 3 dặm, rộng 1 trượng, sâu chừng 2 thước chảy theo hướng nam qua xã Phước Hải rồi nhập vào cửa Tiểu Cù Huân; một nhánh dài 1 dặm, rộng 1 trượng, sâu chừng 2 thước chảy theo hướng đông qua thôn Minh Huân rồi nhập vào cửa biển Đại Cù Huân; một nhánh dài 1 dặm, rộng 1 trượng, sâu chừng 3 thước chảy theo hướng bắc, đến xã Cù Lao nhập vào cửa biển Đại Cù Huân.

Ngoài ra còn có một dòng sông nhỏ dài 20 dặm, rộng 1 trượng, sâu chừng 2 - 3 thước chảy từ vùng núi phía tây qua địa phận 3 tổng Thượng, tổng Trung, tổng Xương Hà rồi nhập vào của biển Tiểu Cù Huân. Một dòng khác dài 8 dặm, rộng 2 trượng, sâu chừng 2 thước cũng chảy từ vùng núi phía tây, xuôi theo hướng đông nam rồi nhập vào cửa biển Cam Linh.

Danh thắng:

Linh Tiên cổ tháp: Thuộc địa phận xã Cù Lao, tổng Xương Hà. Có 5 ngọn liền nhau và cổ tháp được xây trên đỉnh. Tháp cao 6 trượng, thờ Thiên Y Thánh Nương. Đã được triều đình nhiều lần phong tặng là Hồng nhân Phổ tế Linh ứng Thượng đẳng Thần và cho dân xã Cù Lao thờ phụng. Cửa tháp xây bằng đá, phía trước có bia đều ghi bằng chữ khoa đẩu. Qua nhiều năm nên gạch ngói đã bị hư hỏng nhiều, quan sở tại đã nhiều lần muốn tu sửa nhưng do thiếu kinh phí nên các công trình quan trọng vẫn tu sửa không hiệu quả.

Đến năm Tự Đức thứ 18, Bá hộ Nguyễn Khuê, người huyện Vĩnh Xương đã bỏ tiền tu sửa lại tháp, lại xây thêm một gian nhà để che mưa gió. Về sau lại có thêm các vị thân hào nhân sĩ qua đây bái yết và lập ký như: Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Lễ bộ Thượng thư Phan Than Giản; nguyên Thông chánh sứ, lĩnh Khánh Hòa Bố chánh sứ Nguyễn Quýnh; nguyên Thuận Khánh Tuần vũ Nguyễn Oai; nguyên Khâm sai Hồng lô tự thiếu khanh, Biện lý Công bộ Bùi Thái Bút; nguyên lĩnh Bình Thuận Bố chánh sứ Trần Điển; Thị độc học sĩ, sung Điển nông sứ Phan Trung; nguyên lĩnh Bình Thuận Án sát sứ Tôn Thất Soạn; nguyên Hàn lâm thị độc, sung  Bình Thuận Doanh điền sứ Nguyễn Văn Phương; nguyên lĩnh Công bộ Thị lang Nguyễn Duy Nguyên; nguyên Khâm phái Tùy biện, Lễ khoa Cấp sự Nguyễn Duy Trung. Hoặc đã đề thơ như: Nguyên Như tây Chánh sứ, Hình bộ Thượng thư Lê Tuấn; nguyên Phó sứ, Lễ bộ Tả tham tri Nguyễn Văn Tường; nguyên Tham biện Hồng lô tự khanh Nguyễn Tăng; nguyên Hải An đạo Ngự sử Phạm Đăng Giảng; nguyên Khánh Hòa Bố chánh sứ Lê Đình Tuấn; nguyên Khánh Hòa Án sát sứ Phạm Huy Bỉnh; Điển nông sứ Phan Trung; nguyên Khánh Hòa Đốc học Đinh Nho Quang…để ngợi ca các danh thắng trong địa hạt.

5. Đồn lũy:

- Đồn trên bộ: Địa phận xã Phước Hải, tổng Xương Hà (quy mô, hình thức xem ở phần viết về tỉnh).

- Đồn giáp ranh: Địa phận xã Xuân Lạc, tổng Xương Hà.

6. Lộ trình:

- Đường cái quan:

Phía Nam từ ranh giới tỉnh Bình Thuận đi qua các trạm Hòa Quân, Hòa Do, Hòa Tân, Hòa Thạnh đến giáp ranh giới huyện Phước Điền. Dài tổng cộng 92 dặm, rộng 1 trượng.

- Đường nhỏ:

Một con đường dài 12 dặm, chạy từ phía đông huyện lỵ đến cửa biển Cù Huân. Một con đường khác dài 3 dặm, rộng 3 thước, chạy từ phía tây huyện lỵ đến  ranh giới huyện Phước Điền.

- Đường biển:

Phía Nam từ Hòn Chuông - ranh giới hải phận tỉnh Bình Thuận - đi về phía bắc qua cửa biển Cam Linh đến cửa biển Cù Huân. Nếu thuận tiện đi một ngày đêm là đến.

Hình Phước Liên

(Xem tiếp kỳ 2)

(Dịch từ bản chép tay chữ Hán quyển 25, chi 10  của bộ sách “Đồng Khánh dư địa chí lược”)