QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

Bài Cùng tác giả

 

- Người học trò đạp xích lô

- Biển trong truyền thuyết và thơ ca dân gian Khánh Hòa

- Những con thiêu thân

- Ca dao Khánh Hòa (kỳ 2)

- Ca dao Khánh Hòa (kỳ 1)

- Thơ của người đang trẻ

- Thơ Quốc Sinh với năm tháng "Sống Đầu"

 

 

 

 

THI PHÁP CA DAO CỦA NGƯỜI VIỆT Ở  KHÁNH HÒA

Lê Khánh Mai

Kỳ 1

 

Mở đầu

Nói đến thi pháp học là đề cập đến những vấn đề thuộc về nghệ thuật sáng tạo ngôn từ, nơi ghi dấu ấn tài năng của người nghệ sĩ. Ca dao thuộc loại hình thơ ca dân gian, sở dĩ có sức sống mãnh liệt không chỉ vì ca dao là tiếng nói tâm tình hồn nhiên, chân thật của người bình dân, mà còn bởi vì đó là tiếng nói tinh tế với một hệ thống thủ pháp nghệ thuật độc đáo.

Vận dụng thi pháp học, cụ thể là lý thuyết thi pháp ca dao, chúng tôi xác định mục tiêu của chuyên đề này là nghiên cứu các phương diện nghệ thuật biểu đạt, gồm: thể thơ, kết cấu, hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ thời gian và không gian nghệ thuật… trong ca dao người Việt ở Khánh Hòa.

1.    Giới thuyết các khái niệm: thi pháp và thi pháp ca dao

1.1. Thi pháp

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên): Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình thượng nghệ thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự tạo thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mỹ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật.

Xét các chỉnh thể văn học mang thi pháp, có thể nói tới thi pháp tác phẩm cụ thể, thi pháp tác giả, thi pháp trào lưu, thi pháp văn học một thời đại, thời kỳ lịch sử, thi pháp văn học dân tộc.

Xét các phương tiện, phương thức nghệ thuật đã được chia tách, có thể nói tới thi pháp của thể loại, thi pháp của phương pháp, thi pháp của phong cách, thi pháp kết cấu, thi pháp không gian thời gian, thi pháp ngôn ngữ…

Xét về cách tiếp cận, thi pháp học có ba phạm vi nghiên cứu: Thi pháp học đại cương, thi pháp học chuyên biệt và thi pháp học lịch sử.

- Thi pháp hoc đại cương: xây dựng một hệ thống trọn vẹn các thủ pháp, bao quát ba phương diện của văn bản, như: ngữ âm, từ vựng và hình tượng.

- Thi pháp học chuyên biệt tiến hành việc miêu tả  tất cả các phương diện nói

trên nhằm xây dựng “mô hình” -  hệ thống cá biệt của các thuộc tính tác động thẩm mỹ của tác phẩm. Vấn đề chính ở đây là kết cấu, tức là các tương quan của tất cả những yếu tố nói trên trong chỉnh thể nghệ thuật. Các khái niệm cuối cùng mà sự phân tích các phương diện nghệ thuật sẽ dẫn đến là hình tượng thế giới (với đặc điểm cơ bản của nó là không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật) và hình tượng tác giả. Tác động qua lại của hai khái niệm này tạo nên điểm nhìn nghệ thuật có tác dụng quy định tất cả mọi điều cơ bản của cấu trúc tác phẩm.

Thi pháp học chuyên biệt có thể miêu tả tác phẩm văn học cá biệt, cũng như cụm tác phẩm trong sáng tác của một nhà văn, của một thể loại, một trào lưu, hoặc một thời đại văn học.

-Thi pháp học lịch sử nghiên cứu sự tiến hóa của các biện pháp nghệ thuật cũng như hệ thống các biện pháp ấy bằng phương pháp so sánh lịch sử, nhằm vạch ra đặc điểm chung của hệ thống văn học thuộc các nền văn hóa khác nhau, xác định cội nguồn của chúng cũng như quy luật chung của ý thức văn học nhân loại. Vấn đề chính của thi pháp học lịch sử là sự phát sinh, phát triển của thể loại trong ý nghĩa rộng nhất của từ đó, là ranh giới phân chia phạm vi văn học và ngoài văn học với tất cả sự đổi thay lịch sử của chúng. [2. tr. 304 – 306].

1.2. Thi pháp văn học dân gian và thi pháp ca dao

1.2.1. Thi pháp văn học dân gian

Ở Việt Nam mãi đến năm 1980 thuật ngữ thi pháp văn học dân gian mới bắt đầu được sử dụng. Chu Xuân Diên nêu ra định nghĩa: “Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ các đặc điểm về hình thức nghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người…Việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu tố thi pháp riêng lẻ, như phép so sánh thơ ca, các biểu tượng và luật thơ, các mô típ và cách cấu tạo cốt truyện, cách mô tả diện mạo bên ngoài và tâm lý bên trong của nhân vật…đến việc khảo sát những đặc điểm thi pháp chung của từng thể loại...”[1. tr. 39]

1.2.2. Thi pháp ca dao

Từ sau báo cáo của Chu Xuân Diên, nêu định nghĩa về thi pháp văn học dân gian, xuất hiện ngày càng nhiều những bài chuyên khảo, công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều cấp độ, nhiều yếu tố của thi pháp văn học dân gian nói chung và thi pháp ca dao nói riêng. Chúng tôi lược ghi một số công trình, theo thống kê của Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca dao như sau:[5. tr. 64 – 68].

- Nguyễn Phan Cảnh “Khảo sát phương thức tổ chức ngôn ngữ của ca dao”.

- Bùi Mạnh Nhị nêu “Một số đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân ca Nam

Bộ”. Và vấn đề: Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao, dân ca trữ tình.

- Hồng Diệu nghiên cứu về tính chất đối xứng và luật bằng trắc của thể thơ lục bát

- Mai Ngọc Chừ chú ý đến sức mạnh biểu hiện ý nghĩa của vần nhịp, thanh điệu trong lục bát biến thể của ca dao người Việt.

- Vũ Ngọc Phan, Chu Xuân Diên, Phan Đăng…phân tích các biểu tuợng trong ca dao, dân ca

- Trần Thị An (1980), Bùi Mạnh Nhị (1998) đề cập đến cấp độ thời gian nghệ thuật trong ca dao

2. Thi pháp ca dao người Việt ở Khánh Hòa

2.1. Thể thơ

Ca dao của người Việt ở Khánh Hòa cũng như ca dao Việt Nam nói chung đều sử dụng tất cả các thể thơ dân gian trong sáng tác và lưu truyền, như: lục bát chính thể, lục bát biến thể, song thất lục bát và các thể thơ hỗn hợp. Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng các thể thơ giữa các vùng miền có khác nhau. Theo Bùi Mạnh Nhị trong cuốn “Ca dao dân ca Nam bộ” (3) tỉ lệ thơ lục bát trong ca dao Bắc bộ cao hơn ca dao Nam bộ. Qua nghiên cứu, tham khảo nhiều tài liệu chúng tôi cũng nhận thấy ca dao Bắc bộ có tỷ lệ thơ lục bát chính thể cao và có nhiều lời đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo.

Thống kê trong số 750 lời ca dao của người Việt lưu truyền và được sưu tập ở Khánh Hòa cho thấy kết quả như sau:

 

 Thể thơ

 Số lời ca dao

Khánh Hòa

Tỷ lệ

Lục bát chính thể

440 lời

58,7 %

Lục bát biến thể

265 lời

35,3%

Song thất lục bát

15 lời

2%

Thể thơ hỗn hợp

30 lời

4%

2.1.1. Lục bát chính thể

Nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến thể thơ truyền thống là lục bát. Thơ lục bát vốn có cấu trúc ưu việt, hoàn hảo: câu 6, câu 8, luật bằng, trắc, mạch thơ đi đều đặn, nhịp nhàng, tạo nên chất ngâm, điệu ru ngọt ngào. Đây là hình thức

thơ cổ điển nhất của ca dao

Bảng thống kê trên đây cho thấy ca dao Khánh Hoà sử dụng thể thơ lục bát chính thể với tỷ lệ cao hơn so với các thể thơ khác. Điều đó chứng tỏ thể thơ này vẫn là điệu hồn chủ yếu người bình dân Khánh Hòa. Có những lời ca dao lưu truyền bằng thể lục bát rất bình dị mộc mạc, thể hiện cách cảm, cách nghĩ với lối

 diễn đạt trực triếp, cụ thể, ít ẩn dụ bóng gió xa xôi mà dễ đi vào lòng người.

- Đôi ta như cặp cá bè

Lênh đênh trên biển ai dè gặp nhau

- Sao sao cũng vợ cũng chồng

Lời nguyền đá núi vàng ròng không phai

Chưn giày, chưn dép mặc ai

Thiếp không lòng một lòng hai bỏ chàng

Không ít những lời ca dao lục bát chính thể rất giàu hình tượng, thể hiện

được chiều sâu tâm trạng của con người.

- Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó lên mả mẹ ruột đau hơn giần

- Ngó lên trăng chếch bóng nghiêng

Chơi chung với bạn, buồn riêng một mình

Thơ lục bát chính thể trong ca dao Khánh Hòa cũng rất linh hoạt về cách gieo vần. Ngoài cách gieo vần thông thường, còn có cách gieo vần tiếng thứ sáu trong câu 6 vần với tiếng thứ tư trong câu 8, làm thay đổi đột ngột cấu trúc câu thơ và có tác dụng nhấn mạnh điều muốn nói.

-Bứt dây nối lại cho dài                    

Nối ở đầu ngoài, nối thẳng vô đây

Ơi người núp dưới bóng cây

Dốc lòng tìm bạn tới đây mà tìm

- Vô duyên dù bận áo sa

Áo ra đằng áo, người ra đằng người

Có duyên dù bận áo tơi

Đầu đội nón cời duyên vẫn hoàn duyên

Sự thay đổi cách gieo vần trong những lời thơ lục bát chính thể làm thay đổi cấu trúc câu thơ, tạo nên sự sinh động về âm điệu và có tác dụng nhấn mạnh điều muốn nói.

2.1.2. Lục bát biến thể

Lục bát biến thể trong ca dao là những câu ca dao có hình thức lục bát nhưng

không khít khịt “trên sáu, dưới tám” mà có sự co giãn nhất định về số lượng âm tiết (tiếng)

Đặc điểm của lục bát biến thể là câu trên 6 hoặc hơn 6. Câu dưới không phải

là 8 mà là 9, 10, 11 hoặc 12 tuỳ ý, nhưng vần thì tuân theo kiểu vần của lục bát.

Gió đâu bằng gió Tu Bông (6 tiếng)

Thương ai bằng thương cha, thương mẹ, thương chồng, thương con (11 tiếng)

Câu thơ lục bát biến thể “bất thường” mang lại giá trị cao về nội dung và nghệ thuật; tạo ấn tượng mạnh cho người tiếp nhận, thưởng thức. Gió Tu Bông rất mãnh liệt, nhưng đối người phụ nữ, tình yêu thương gia đình cha, mẹ, chồng, con là tình yêu nồng nàn, lớn lao không gì có thể sánh được.

Sóng sao bọt nước xanh xanh                              (6 tiếng)                            

Chàng bỏ thiếp cuối bãi đầu gành đêm đông     (9 tiếng)       

Thiếp hỏi chàng có thương trọn hay không         (8 tiếng)

Làm cho thiếp đợi, mất công thiếp chờ                (8 tiếng)

Lời ca dao này có 4 dòng thơ, thì dòng đầu tiên có 6 tiếng, dòng thứ tư có 8 tiếng, đúng như cấu trúc thơ lục bát, nhưng biến thể ở dòng thơ thứ hai, thay vì 8 âm tiết thì kéo dài thành 9 tiếng; Dòng thơ thứ ba, thay vì 6 tiếng đã tăng lên thành 8 tiếng.

Nhiều lời ca dao lục bát chỉ biến thể dòng thơ cuối:

- Đôi ta gá nghĩa chung tình                          (6 tiếng)

Dù ăn cơm mắm ngủ ngoài đình cũng ưng    (9 tiếng)

 

- Bao giờ Hòn Chữ bể tư                                     (6 tiếng)

Biển Nha Trang cạn nước anh mới từ nghĩa em (10 tiếng)

Lại có những lời ca dao mở đầu bằng câu bát:

- Ai ra Vạn Gĩa nhắn ả bán thơm    (8 tiếng)

Thế gian lắm miệng, nhiều mồm     (6 tiếng)

Nói đông thì ngọt, nói nồm thì chua

Thôi đừng uổng tiếng hơn thua

Gắng sao bán được đầu mùa là hay

Chính những dòng thơ dài “quá khổ” và sự thay đổi linh hoạt vị trí các dòng thơ đã có tác dụng nghệ thuật cao, diễn đạt đến tận cùng bản chất hiện thực đời sống và sắc thái hóa tình cảm, thái độ của các nhân vật trữ tình. Theo các nhà nghiên cứu, “sự có mặt của những lời dân ca, ca dao lục bát biến thể chủ yếu là do làn điệu của việc ca hát quy định (đối với dân ca), do yêu cầu của việc thể hiện một số nội dung nhất định (đối với ca dao)” [5. tr. 226]. Nguyên nhân này cũng không ngoại lệ đối với ca dao, dân ca Khánh Hòa.

2.1.3. Song thất lục bát và thể thơ hỗn hợp

Trong ca dao Khánh Hòa hai thể thơ song thất lục bát và hỗn hợp chiếm tỷ lệ 6%, thấp hơn nhiều so với lục bát chính thể và lục bát biến thể.

Thể song thất lục bát thường được dùng trong những những trường hợp kể lại câu chuyện có thật đã diễn ra, hoặc được lưu truyền trên vùng đất Khánh Hòa, với những nhân vật cụ thể, với tình cảm sâu lắng, âm điệu trang nghiêm.

Dám đâu quên kẻ anh tài                          

Rèn gan sắt đá khôn nài bể dâu

Gương tuấn dũng làu làu Phạm Chánh

Cùng Phạm Long chung gánh nước non

Cha con trung nghĩa vẹn toàn

Cùng Nguyễn Sung nguyện mất còn có nhau

Bao phen cay đắng hận thù

Tam hùng tam kiệt nghìn thu trăng rằm

Đặc biệt thể thơ tổng hợp được sử dụng diễn đạt những cảm xúc dồi dào tuôn chảy, tạo nên cách nói tự nhiên, chân thật và độc đáo.

- Anh đứng Hòn Chồng                           

Trông sang Hòn Yến                              

Lên Tháp Bà về viếng Sinh Trung

Non xanh nước biếc chập chùng

Biết bao liệt nữ anh hùng em ơi

Em hãy nhận lời

Cùng anh kết ngãi

Đầu ghềnh cuối bãi

Ta hãy thương nhau

Biển Cù nước mãi còn sâu

Công linh chẳng trước thì sau cũng thành

 

- Sông Dinh có ba ngọn nguồn

Anh nhớ em băng đèo vượt suối

Nhưng chưa biết đường tìm đến thăm em

Ghé vô chợ Ninh Hoà mua một xâu nem

Một chai rượu bọt

Anh uống say mèm

Để quên nỗi nhớ thương.

Hai lời ca dao trên tiêu biểu cho thể thơ hỗn hợp được vận dụng trong ca dao Khánh Hòa. Ở đây có sự kết hợp thật hài hòa, nhuần nhuyễn, khéo léo giữa các thể thơ: lục bát, lục bát biến thể, song thất lục bát và thể thơ tự do, tạo nên thế mạnh của ca dao. Đó là khả năng diễn đạt cả những cái mềm mại, tinh tế lẫn cái gồ ghề, góc cạnh, khó khăn, trắc trở, đạt đến cái tình, cái lý như bản chất đời sống.

2.2. Kết cấu

Kết cấu (hay cấu trúc) ca dao bao gồm sự tổ chức thanh điệu, vần, nhịp, tổ chức nội dung, cấu tạo ý, tứ, đoạn mạch, độ dài, ngắn…và phương thức thể hiện” [11 tr.221- 222].

2.2.1. Tổ chức nhịp điệu, thanh điệu

vần, nhịp của ca dao nói chung và ca dao Khánh Hòa nói riêng thể hiện rõ rệt ở thể thơ. Như đã nêu ở phần trên, ca dao Khánh Hòa sử dụng đầy đủ các thể thơ: lục bát chính thể, lục bát biến thể, song thất lục bát và thể thơ hỗn hợp tạo nên sự biến đổi linh hoạt về vần, nhịp và thanh điệu. Đây cũng là một đặc điểm về kết cấu của ca dao Khánh Hòa.

Nhịp điệu, thanh điệu trong ca dao Khánh Hòa thường có những biến đổi bất ngờ theo cảm hứng sáng tạo của người bình dân, phá vỡ những quy tắc thông lệ.

Anh đứng/ Nha Trang

trông sang/ Xóm Bóng

Ánh trăng lờ mờ/ gợn sóng lăn tăn

Gần em / chưa kịp nói năng

Bây giờ/ sông cách/ biển ngăn ngại ngùng

Biển sâu/ con cá vẫy vùng

Buông câu/ khôn dễ mượn dòng đưa thư

Anh nguyền/ cùng em

Bao giờ/ Hòn Chữ bể tư

Sông khô biển cạn/ anh mới từ nghĩa nghĩa em.

Lời ca dao trên đây phối hợp nhuần nhuyễn các nhịp 2/2 - 2/4 – 4/4 và 4/6  khiến cho mạch thơ đi ngoắt nghéo khó lường, dồn dập và phóng túng, lôi cuốn và hấp dẫn; tạo nên niềm sảng khoái tự hào cho người tiếp nhận về cảnh vật trữ tình của Nha Trang, Khánh Hòa và niềm tin đối với lời hẹn thề chung thủy của tình yêu đôi lứa.

2.2.2. Quy mô, độ dài ngắn trong ca dao Khánh Hòa

Thống kê trong số 750 lời ca dao Khánh Hòa cho thấy kết quả như sau:

 

Độ dài ngắn của lời ca dao

Số lời ca dao

Tỷ lệ

Loại ca dao ngắn, từ 2 đến 4 dòng thơ

624 lời

83,2%

Loại ca dao trung bình, từ 5 đến 10 dòng thơ

122 lời

16,3%

Loại ca dao dài, từ 11 dòng thơ trở lên

4 lời

0,5%

Như vậy, loại ca dao ngắn có tổng số lời nhiều hơn hẳn so với loại trung bình và loại dài. Chứng tỏ ca dao Khánh Hòa phần lớn có kết cấu đơn giản, thể hiện được những nội dung trọn vẹn, cô đọng. Điều này phù hợp với chức năng và đặc điểm của ca dao là sáng tác ngẫu hứng trong những khoảnh khắc và hoàn cảnh nhất định nào đó.

Cầu Thành ghe gốm lên rồi

Sao chưa đi chợ còn ngồi chi đây

Lời ca dao với hai dòng thơ ghi lại câu nói giản dị thường ngày, gợi lên khung cảnh sinh hoạt quen thuộc của người dân ở bến sông chợ Thành, Diên Khánh, nơi những chiếc ghe gốm lên xuống thường xuyên như một “quy ước ngầm” về thời gian.

LKM

(xem tiếp kỳ 2)