QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

Bài cùng tác giả

- Thầy Hoàng Song

- Đời cầu thủ của tôi

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 6)

- Le coeur a ses raisons

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 5)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 4)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 3)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 2)

- Sông Dinh qua thi ca (kỳ 1)

- Tản mạn nhân mùa Phật đản

- Cây trôm đình Phú Thuận

- Những nỗi niềm mang tên "Sách"

- "Đoản khúc" Thu

- Ca sĩ Tấn Sơn và chút duyên nợ với nhạc sĩ Phạm Duy

- Vĩnh biệt nhạc sĩ Phạm Duy !

- End of the...

- Như một lời chia tay

- Tiếng chim biển thánh thót giữa trời Nam

- Mùa xuân sang thênh thang phố vui

- Những tiếng hát yêu "Ơi con sông Dinh"

- Ngày xuân lên đỉnh Langbiang (kỳ 1)

- Đêm ở Tiếng Xưa

- Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 3)

- Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 2)

- Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 1)

- Tản mạn quanh Trịnh Công Sơn (kỳ 2)

- Tản mạn quanh Trịnh Công Sơn (kỳ 1)

- 30 phút cuối với thầy Cao Đình Đãi

- Những ngày Trăng sáng

- Quy Nhơn du ký (kỳ 3)

- Quy Nhơn du ký (kỳ 2)

- Quy Nhơn du ký (kỳ 1)

- Đi cùng "Năm tháng ngược xuôi" với Trần Chánh Nghĩa

- Người đàn bà phía sau

- Viếng GS Tiến sĩ Dương Thiệu Tống

- Nỗi nhớ mùa đông và Thiên Thần của tôi

- Trở Lại (kỳ 3)

- Trở Lại (kỳ 2)

- Trở Lại (kỳ 1)

 

 

 

 

 

SÔNG DINH QUA THI CA

KỲ 7

 

CÔNG-XI RƯỢU NHIÊU BÁ NINH HÒA

 

Nói đến sông Dinh, cầu Dinh mà không nhắc đến những địa chỉ "có vấn đề" quanh cầu Dinh vẫn là thiếu sót. Vì những nơi ấy, khi đề cập, người Ninh Hòa luôn liên tưởng đến cầu Dinh. Những nơi này tuy không là chốn công hữu nhưng lại mang tính xã hội, lịch sử và cộng đồng rất cao. Chùa Hội Quán là một địa chỉ thuộc dạng trên nhưng đã được giới thiệu ở một trang web Ninh Hòa khác nên không nhắc lại. Tôi muốn nói đến hai công trình đáng lưu ý nằm trên nền cũ của dinh Thái Khang...

Trong truyện ngắn "tuổi mười ba" Đường Du Hào có nhắc: "Cầu Dinh do Tây làm từ thuở công xi rượu bên đầu cầu còn là khu nhốt tù chính trị, nên đã quá xưa khiến nhiều đoạn bị hư nát. Ở những đoạn như thế, phu lục lộ gác tạm miếng ván cho người qua lại. Ban ngày trông đã không mấy an toàn về đêm càng thập phần nguy hiểm hơn". Mặc dù Đường Du Hào nói đến lịch sử cầu Dinh, nhưng lại liên hệ đến địa chỉ - "công xi rượu". Làm tôi nhớ lại một nơi có nhiều kỷ niệm và có những vấn đề lịch sử phức tạp cần phân tích. Một tọa độ gắn liền với cầu Dinh, cách chân cầu chừng 20m, phía Vĩnh Phú. Tôi có may mắn biết rõ, cũng như có nhiều dịp ra vào nơi ấy vì nhà tôi là một đại lý tiêu thụ rượu của công xi này.

"Công xi" là kiểu phát âm của người Hoa với chữ "công ty" (Pháp - compagnie). Người sáng lập của tổ chức sản xuất kinh doanh ngành rượu này là một ông chủ người Hoa tên Nhiêu Tấn Hiếu. Công ty này có mặt hoạt động ở một số tỉnh miền Trung như: Phan Thiết, Phan Rang, Diên Khánh, Ninh Hòa.v.v. Được thành lập từ nhiều năm trước 1945, nhưng không ai xác định được thời điểm nào. Ông Nhiêu Bá kế nghiệp cha rồi lấy tên mình làm thương hiệu. Sau 1945 do tình trạng lúa gạo khan hiếm, giá tăng cao bởi chính sách của phát xít Nhật - bỏ cây lúa, trồng cây công nghiệp. Hậu quả là có gần 2 triệu người VN chết đói. Thiếu gạo nấu rượu, nhiên liệu đốt là củi ngày càng khó kiếm, công ty Nhiêu Bá gặp khó khăn, việc sản xuất kinh doanh đình trệ. Ông Nhiêu Bá qua đời, không con nối dõi. Người em trai là Nhiêu Đức Nghị cùng 2 người em gái ở Hồng Kông được thừa hưởng di sản. Vì không thể trực tiếp điều hành, quản lý nên họ quyết định cho Nhiêu Bá liên kết, xáp nhập với Hiệp Hội Các Lò Rượu Pháp ở Đông Dương - viết tắt là SFDIC (Société Française des Distilleries de l’Indochine). Tổ chức này rất lớn mạnh, có nhà máy chưng cất rượu nổi tiếng ở Bình Tây, gần bến Lê Quang Liêm - Sài Gòn, có nhà máy xay lúa lớn nhất nhì Đông Dương. Với lợi thế có sẵn nhiên liệu đốt là trấu, tấm gạo làm nguyên liệu, cùng với máy móc, kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm của SFDIC giá thành rẻ, rượu của họ được thị trường Đông Dương ưa chuộng. Mặt hàng chủ yếu của SFDIC là rượu vang trắng. Ở nhà máy, họ chưng cất rượu đạt nồng độ từ 92 đến 95°, chở đến các chi nhánh rồi pha chế xuống còn 40° để bán ra cho các đại lý. Các cơ sở cũ của Nhiêu Bá đều nhận sản phẩm của SFDIC và bán cho thị trường của mình. Sản phẩm của SFDIC còn có các loại rượu mùi, rượu Rhum, nước hoa...

Việc quản lý của tổ chức này có hệ thống chặt chẽ, từ Sài Gòn đến các địa phương. Chi nhánh Nhiêu Bá Ninh Hòa dưới quyền quản lý của tổ chức Nhiêu Bá Khánh Hòa, nằm ở số 6 đường Hoàng Hoa Thám Nha Trang. Tôi còn nhớ, thỉnh thoảng có chiếc xe hơi giống con cóc, loại "traction avant" của Citroën, chở ông Tây đến nhà tôi, lấy các mẩu rượu rồi dùng những dụng cụ đo lường mang theo để thử nghiệm. Họ muốn xem rượu ở các đại lý như thế nào. Việc kiểm tra thường xuyên các đại lý là một nguyên tắc quản lý chất lượng của Nhiêu Bá. Trước 1960 đại lý Nhiêu Bá Ninh Hòa được điều hành bởi ông Lý Xuân. Ông Lý Xuân về hưu, Nhiêu Bá giao cho ông Trần Thành từ Nha Trang ra thay, điều hành, quản lý đến 1976. Khi SFDIC chính thức giải tán ở VN và lui binh về mẫu quốc, thì cơ sở này thuộc công hữu và được dùng làm cửa hàng buôn bán...

Cơ sở Nhiêu Bá Ninh Hòa khi ấy là một tòa nhà được xây dựng trên khu đất rộng 530m2. Ngay cửa vào chính là văn phòng và một sảnh nhỏ làm nơi giao dịch. Phía sau là nhà ở của gia đình người quản lý và các kho chứa rượu. Một cổng lớn bên trái vào sân sau, dành cho xe vận tải chở rượu xuất, nhập. Các kho chứa đầy các khạp sành rượu lớn, nằm san sát nhau, chỉ chừa các lối đi. Khạp được đậy rất kỹ. Mỗi lần có dịp vào kho, khi người phục vụ mở nắp khạp để đong rượu, tôi thường ghé mũi vào gần miệng khạp để nhận một cảm giác kinh khủng - một mùi nồng nặc, buốt cả óc, bưng cả đầu, choáng váng mặt mày. Biết là khó chịu, nhưng lần nào tôi cũng thích hít một cái như thế, chẳng biết có phải do ghiền ?!. Nồng độ ở các khạp rượu này luôn trên 40°. Rượu được đong bằng một cái ca kim loại 10 lít, trên thân có ghi vạch chia đơn vị.

Rượu của công xi Nhiêu Bá có mặt khắp Ninh Hòa nhưng không phải ai cũng biết xuất xứ của nó. Mỗi chuyến xe chở hàng của nhà tôi đến các quán ở làng quê Ninh Hòa đều có vài can rượu kèm theo. Dù những nơi rất xa như: Ninh Thượng, Ninh Hưng, Ninh Hải v.v... Không chỉ những chàng nghiện rượu dùng đến hằng ngày, mà hầu như người Ninh Hòa thời đó có dịp uống rượu đều dùng loại rượu này. Nếu không nhậu đến "quắt cần câu" thì cũng uống một ly rượu lễ tiệc cúng kính cho phải tình phải nghĩa. Ở nông thôn ngày ấy có gì vui thú hơn là chén chú, chén anh sau những giờ phút nhọc nhằn với ruộng đồng.

Với sự hiện diện lâu đời của công xi rượu và nhớ đến một số công trình khác của Pháp để lại trên mảnh đất Ninh Hòa, ai có quan tâm, tìm hiểu một chút, đều có thể thấy rõ chính sách thuộc địa của Pháp. Những tên gọi như: Đồn G.I, Bataillon, Lao ông Cọt, Sở Thương Chánh, Ga xe lửa,... đều là những công cụ phục vụ cho cai trị, khai thác và ngu dân...Cái gì thực sự tốt đẹp và cần thiết cho người bản xứ thì khoan nói tới. Còn việc khai thác tài nguyên, ăn chơi, trụy lạc cứ khuyến khích, tạo điều kiện phát triển. Nên công xi rượu Nhiêu Bá ở Ninh Hòa cũng như cả hiệp hội các lò rượu Pháp làm ăn thịnh vượng trên toàn cõi Đông Dương, chúng ta chẳng có gì phải ngạc nhiên. Gạo thì không đủ ăn chứ rượu cứ phải ra lò.!!. Nên biết rằng, muốn có 1 lít rượu 40° phải dùng đến 2.5 kg gạo và mỗi năm Nhiêu Bá Ninh Hòa bán ra hơn 400.000 lít rượu (những năm 60 -70).

Việc Đường Du Hào nói trước đó công xi rượu là nơi nhốt tù chính trị lại là một đề tài khác, đáng nói của cơ sở bán rượu này. Là người Ninh Hòa trong giai đoạn 1945 -1954. không ai không nghe tên – "lao ông Cọt". Đó là tên của quan quản lý nhà tù, người Pháp, gốc đảo Corse. Lao ông Cọt là nơi thực dân Pháp lập nên để giam cầm những người Ninh Hòa yêu nước, trong phong trào Việt Minh, chống lại chế độ thực dân. Nơi đó là nỗi ám ảnh của người dân Ninh Hòa với người thân hoặc đồng bào của mình bị tù đày hoặc phải bỏ mạng dưới sự hà khắc của chế độ thực dân.

Trước 1945 Cơ sở Nhiêu Bá Ninh Hòa chiếm một diện tích rộng lớn, khoảng 3000m2. Bao gồm đất của rạp Vĩnh Hiệp, vượt qua đoạn đầu đường từ Vĩnh Phú đi Quang Đông, bao trùm khu vực chi thông tin cũ. Vì trong giai đoạn đó, công xi rượu vừa là nơi buôn bán, vừa sản xuất rượu nên nhà xưởng của Nhiêu Bá có nhiều bộ phận. Gồm kho nhiên liệu, kho nguyên liệu, nhà ủ men, xưởng chưng cất, nhà ở, kho chứa rượu, garage, nơi giao dịch mua bán.

Sau 1945, khi Nhiêu Bá thuộc SFDIC thì cơ sở rượu Ninh Hòa chỉ còn chức năng phân phối. Rượu được chở từ Sài Gòn ra và công xi rượu Ninh Hòa chỉ có nhiệm vụ buôn bán. Vì vậy, một số kho xưởng, các bộ phận phục vụ chưng cất rượu không còn sử dụng nên bị bỏ phế. Thời kỳ ấy phong trào Việt Minh hoạt động mạnh ở Ninh Hòa. Nhiều người yêu nước rơi vào tay giặc. Thực dân Pháp gia tăng các cuộc ruồng bố, bắt giam nhiều thanh niên, trai tráng bị nghi ngờ ở các làng quê Ninh Hòa. Khu tạm giam và thẩm vấn Bataillon (khu kho thuốc lá cũ) không đủ chỗ, nên thực dân Pháp cấp bách tìm thêm một nơi giam giữ khác. Vì SFDIC là "phe nhà", lại sẵn có kho, xưởng bỏ trống, không còn gì hay hơn là giao cơ sở cho quan thầy Pháp biến nó thành trại giam. Thế là lao ông Cọt (Corse) hình thành từ đó. Cơ sở Nhiêu Bá chỉ giữ lại kho chứa rượu, nơi giao dịch cùng một vài diện tích cần thiết khác để hoạt động yên ổn bên cạnh nhà lao mãi sau này. Sau hiệp định Genève 1954, tù binh các bên được trao trả, lần nữa lao ông Cọt lại thất nghiệp, hoang tàn. Vì không muốn thấy chứng tích thương đau, một lao tù của đêm dài nô lệ, chính quyền mới của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa mong muốn phá bỏ nhà lao để xây dựng lại một công trình khác ý nghĩa hơn. Với thế lực của mình, ông Phạm Ngô (còn gọi là ông xã Chè hoặc tổng Chè) đã dành quyền kinh doanh cùng với sự góp vốn của các ông Phạm Đào (giáo Đào), ông Bùi Hữu Thành (giáo Thành), làm nên rạp hát Vĩnh Hiệp, vào năm 1955 –1956 cùng ăn chia với nhà nước.

Với quy mô, diện mạo và vị trí tọa lạc của công xi rượu, gợi cho tôi nhiều thắc mắc về lịch sử của cơ sở này. Suy từ hiện trạng ta thấy rằng, đây là một kiến trúc của người Trung Hoa thế kỷ 19. Tường bằng gạch đất nung như gạch thẻ, dày 4 đến 6 tấc, vửa xây bằng vôi trộn với mật đường, mái lợp ngói âm dương. Khi ông Trần Thành về tiếp nhận cơ sở năm 1960, có sửa chữa lại và được những người lớn tuổi, am hiểu ở địa phương cho rằng công trình đã có khoảng 70-80 năm tuổi. Như vậy tính đến thời điểm phá bỏ vào năm 2002 thì công trình này tồn tại gần 120 năm. So ra kiến trúc này xuất hiện cùng thời với chùa Hội Quán. Công Trình được xây dựng trên nền cũ dinh Thái Khang, nằm bên chân cầu, sát con sông Dinh, một vị trí rất đẹp và đặc biệt của cuộc đất (mặc dù sau này, công xi rượu cách bờ sông bởi con hẻm và một dãy nhà nhưng tôi nghĩ rằng đó chỉ là những nhà dân xây chen lấn, chiếm bờ sông Dinh).

Quay lại lịch sử di dân của người Hoa vào vùng đất Ninh Hòa đầu thế kỷ 19. Đây là khởi sự của triều Nguyễn, thời vua Gia Long. Trong thời kỳ này ở Trung Hoa nổi lên phong trào kháng Thanh, phục Minh. Một số di thần nhà Minh bị đàn áp mạnh mẽ phải đi lánh nạn. Dân các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu cùng chạy theo đường biển về phương Nam, ghé và định cư ở các vùng đất dọc miền trung VN, tập trung ở các cửa sông, trong đó có Ninh Hòa. Một nhóm nhỏ người Hoa ghé vào Ninh Hải lập nên thị tứ ở bán đảo Đông Hòa, một bộ phận khác ghé vào cửa biển Hà Liên định cư ở Văn Định xã Ninh Phú, ở Bến Đò xã Ninh Hà. Sau đó họ tiếp tục đi ngược sông Dinh để tìm vùng đất mới và biết được một quần cư trù phú khác, có sinh hoạt chợ búa, tổ chức xã hội trật tự, thích hợp với sở trường sinh kế của mình - đó là chợ Dinh. Từ đó họ an cư, quy tụ, sinh sống, làm chủ một khu vực lớn quanh chợ Dinh, thành một khu phố với sinh hoạt theo cộng đồng và tập quán riêng. Kiến trúc nhà cửa của họ cũng khác kiểu cách với dân địa phương. Hầu hết làm nghề buôn bán. Ta thấy rằng những nhóm người Hoa di trú đi ngược sông Dinh, gặp cầu Dinh chỉ quẹo trái, đổ bộ phía chợ Dinh chứ không thấy bóng dáng nhà cửa riêng lẻ nào của người Hoa có mặt bên phải cầu Dinh - phía Vĩnh Phú. Điều ấy cho chúng ta hiểu rằng: Vùng đất bên tả ngạn sông Dinh khi đó vẫn là bất khả xâm phạm, với sự hiện diện uy quyền của các chúa Nguyễn, rồi triều Nguyễn. Nơi ấy là công thổ, có thể gọi là "đất tổ" của Ninh Hòa. Như vậy một công trình cá biệt, mang dáng dấp Trung Hoa, xuất hiện hiên ngang, chiếm một vị trí độc tôn trên "đất tổ" và tồn tại cả trăm năm như vậy là gì ?. Nếu nó không là phế tích, là dinh thự, là công sở của Phủ Thái Khang, Bình Khang, Bình Hòa hoặc Tân Định.? thì thế lực nào đã áp đặt một ý chí lên công thổ triều Nguyễn như thế.?

Truy ngược về 120 năm trước ta thấy đó là những năm sau khi vua Tự Đức mất. Lịch sử Việt Nam giai đoạn này có nhiều biến động. Vì không con nối dõi, các phụ chính đại thần là Trần Tiến Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết, mưu bỏ vua này, lập vua khác. Chỉ 5 năm đã đổi thay 5 đời vua là Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh (1883-1888). Là thời kỳ rối ren, có nhiều thảm kịch triều chính của nhà Nguyễn. Cùng lúc người Pháp bắt đầu gây hấn với triều đình Huế, thực hiện ý đồ xâm chiếm nước ta. Đất nước đang vận hạn suy yếu, thù trong, giặc ngoài như thế thì sự xuất hiện công trình này là một sản phẩm của cơ hội. Tôi nghĩ rằng dinh thự đó không phải là di tích của vua chúa Nguyễn lập nên, mà là của một người Hoa bên chợ Dinh có nhiều thế lực, nhiều tiền bạc, đã mạnh dạn ra tay, thử làm một bước đột phá sang sông, được sự đồng tình của quan địa phương. Thừa lúc triều đình bất ổn, thiếu kiểm soát mà xây dựng nên. Lúc này dinh trấn thủ đã dời về Diên Khánh, còn chốn công đường địa phương thì ở tận Phước Đa, nên ý chí giữ gìn "đất tổ" không còn mạnh mẽ. Dù đây là công trình duy nhất của người Hoa hiện diện bên tả ngạn sông Dinh, nhưng "đất tổ" đã mất thiêng từ đó. Mở ra một thời kỳ dân cư hóa khu vực dinh Thái Khang.

Thời gian dài sau 1925, khi cầu Dinh gỗ thành beton và đường cái quan được tráng nhựa, quốc lộ số 1 đi lại dễ dàng. Nhiêu Tấn Hiếu - một ông chủ lớn người Hoa (nhưng không phải người Hoa định cư ở Ninh Hòa), trên đường thong dong đi dọc miền Trung, tìm thị trường khuếch trương ngành rượu, thấy công trình bên bờ sông Dinh có một vị trí đắc ý, thích hợp cho việc làm ăn của mình, nên bằng mọi giá đã tậu lại cơ ngơi của người đồng hương, tạo nên sự nghiệp Nhiêu Bá như đã nói ở phần trên.

Với một lý lịch rối rắm như thế, công xi rượu không phải là một nơi bình yên hoặc bình thường như dưới con mắt của nhiều người Ninh Hòa. Mặc dù ít người biết tới, nhưng một thời, nó vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân, là chứng tích của bể dâu, của thế sự thăng trầm trên vùng đất Ninh Hòa chúng ta.

Dương Tấn Long 
 

* Để viết phần này, khi ấy tôi đã liên lạc bằng thư tay đến ông Trần Thành, chủ công xi rượu Nhiêu Bá NH, nhờ ông cung cấp một số thông tin... Hình bên dưới là bút tích phần đầu và phần cuối bức thư hồi đáp của ông...