QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

Bài cùng tác giả

- Đồng Khánh dư địa chí lược (kỳ 2)

- Đồng Khánh dư địa chí lược (kỳ 1)

- Bố Đại hòa thượng và nụ cười nguyên xuân

- Thúy Kiều đã đàn những bài gì cho Kim Trọng nghe ở lần đầu gặp gở?

- Bài chòi và nghệ thuật độc diễn

- Mùa xuân Ê - Đê

- Truyện thơ và bài vãn ở Khánh Hòa

- Lý Bạch và bài thơ Hoàng Hạc Lâu

- Tam thập lục kế có phải là của Tôn Tử không?

- Những gánh Bài chòi ở quê tôi

- Mùa xuân bàn chuyện xin xăm Đức Thánh Trần

- Gió đã chuyển mùa

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo - Nha Trang

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh

- Rượu Hồng Đào

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ...

 

 

 

 

 

Yếu tố lưỡng tính của dàn

mã la Raglai?

Hình Phước Liên

Dàn mã la Raglai có bao nhiêu chiếc? Câu hỏi tưởng chừng như đơn giản ấy thật ra không dễ trả lời. Và bản thân tôi cũng đã nhiều năm băn khoăn, tự hỏi?

 

1.

Dàn mã la của người Raglai có số lượng bao nhiêu chiếc đến nay vẫn còn phải tiếp tục tìm hiểu.Trong các cuộc sinh hoạt văn hóa, người Raglai nói chung và người Raglai ở Khánh Hòa nói riêng thường dùng bộ mã la 5 chiếc để  diễn tấu độc lập hoặc đi kèm với các nhạc cụ khác hoặc dùng để đệm theo các bài hát dân ca. Trong  trường hợp này thì dàn mã la 5 chiếc của người Raglai ở Khánh Hòa thuộc hệ thống năm âm không có bán cung và nghiêng về điệu thứ (Minor). Điều đó phù hợp với hệ thống thang âm phổ biến của các bài dân ca Raglai. Năm “mặt chiêng” trong bộ mã la Raglai được lấy tên theo trật tự của một gia đình mẫu hệ và âm chủ của dàn mã la là chiêng Mẹ. Tên gọi của các mặt chiêng như sau:

1.Char Yna – Chiêng Mẹ.

2.Char Ato – Chiêng Cha.

3.Char Malóa – Chiêng Con gái lớn.

4.Char Dướp – Chiêng Con gái thứ.

5.Char Pen – Chiêng Con gái út.

Cách tổ chức và gọi tên cho dàn mã la như trên rất phổ biến ở các plơi Raglai hai huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh – Khánh Hòa và đã được hầu hết các người có hiểu biết ít nhiều về văn hóa Raglai đồng ý. Thế nhưng vẫn còn một vài điều cần phải làm sáng tỏ. Ví dụ, có chăng dàn mã la mang tính chất trưởng (Major), vì  trong dân ca Raglai cũng có nhiều bài mang tính Trưởng (?)

Trong công trình “Trang phục cổ truyền của người Raglai”, tác giả Hải Liên – nguyên Chủ tịch Hội Văn hóa Dân tộc tỉnh Ninh Thuận – có kể, ông đã từng thấy bà con người Raglai ở Ninh Sơn, Ninh Thuận diễn tấu dàn mã la 9 chiếc. Bản thân tôi cũng từng được nghe một vài người già Raglai bảo rằng, bộ mã la đầy đủ của Raglai phải có 12 chiếc…Thế nhưng, trong quá trình tìm hiểu về âm nhạc Raglai, chúng tôi vẫn chưa được tận mắt thấy được những bộ mã la như vậy.

Gần đây - từ ngày 03 đến ngày 05 tháng 9 năm 2009 - chúng tôi đã tham dự Lễ Bỏ mả do gia đình anh Mấu Xuân Danh ở Xóm 4, thôn Dốc Trầu, xã Ba Cụm Bắc, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa tổ chức “Bỏ mả” cho vợ là Cao Thị Bông  theo đúng nghi thức cổ truyền. Theo quy định, Lễ Bỏ mả của người Raglai bao giờ cũng phải có dàn mã la diễn tấu điệu Tumaya suốt quá trình tế lễ.

 Đội mã la của xã Ba Cụm Bắc phục vụ cho Lễ Bỏ mả hôm ấy gồm 9 chiếc chiêng và một chiếc trống da nai (Sagơr). Khi diễn tấu vòng tròn cùng các Chủ Nhang, thì đội Mã la được phân bổ như sau: Từ chiếc mã la thứ nhất, đến mã la thứ sáu làm thành cụm đầu, kế đến là chiếc trống đi xen vào giữa, sau đó là 3 chiếc mã la còn lại đi sau cuối.

Mỗi chiếc mã la có một tên gọi riêng và đi cùng cặp: Char Ana  (chiêng mẹ), Char T’rua  (con trai), Char Pachờ 1 (con gái đầu), Char Pachờ 2 (con gái thứ 2), Char Paloá 1 (con gái thứ 3), Char PaLoá 2 (con gái thứ 4), Char Padú1 (con gái thứ 5), Char Padú 2 (con gái thứ 6), Char Palúda (con gái út) và chiếc trống Sagơr (vai ông). Cách đặt tên này rất gần với cách đặt tên dàn cồng chiêng của người Ê-đê.(01)

So sánh cách tổ chức và tên gọi của các mặt mã la ta thấy hoàn toàn khác với dàn mã la 5 chiếc mà lâu nay mọi người vẫn biết. Được biết, ở Ba Cụm Bắc dàn  mã la 9 chiếc chỉ được sử dụng trong khi diễn tấu điệu Tumaya tại Lễ Bỏ mả. Trong các cuộc sinh hoạt văn hóa và lễ thức khác thì người Raglai ở Ba Cụm Bắc vẫn sử dụng dàn mã la 5 chiếc. Xin được nêu ra hiện tượng này để chúng ta cùng suy nghĩ.

Một số người nghiên cứu khi đi điền dã đã thấy đây đó ở các plơi Raglai có sử dụng bộ mã la gồm 2 hoặc 3, 4 chiếc và cũng đặt ra câu hỏi có phải chăng đây là những dàn mã la cổ xưa hơn? Theo chúng tôi, đấy chỉ là những dàn mã la bị thiếu do thất lạc hoặc bán mất. Và theo thông lệ những dàn mã la ấy không còn được sử dụng nữa, nó như một con người đã bị khuyết tật thì không được đại diện cho cộng đồng trong những ngày trọng đại.

Khảo sát sang các dàn chiêng của các tộc người Tây Nguyên có cùng ngữ hệ hoặc đang sống kề cận với người Raglai cho thấy có những điều tương cận, như: dàn cồng chiêng của người Ê-đê gồm 10 chiếc, trong đó bộ chiêng K’nah 6 chiếc, đảm trách phần giai điệu có thang âm giống như dàn mã la Raglai; người T’rin – một tộc người có nguồn gốc K’Ho, hiện cư trú trên địa bàn Khánh Vĩnh cũng sử dụng bộ chiêng bằng 6 chiếc. Vậy vì sao nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho rằng dàn mã la của người Raglai chỉ có 5 chiếc?

2.

Từ xưa đến nay, các tộc người Tây Nguyên không tự chế tác cồng chiêng mà đều đặt mua từ các nước Lào, Campuchia và của người Kinh, sau đó mang về chỉnh lại âm thanh cho phù hợp với tai nghe của dân tộc mình rồi đưa vào sử dụng. Căn cứ xuất xứ người Tây Nguyên chia các dàn chiêng ra làm 3 loại: Chiêng Joan – do người Kinh chế tác; chiêng Lao – do người Lào chế tác (có khi được mua từ Myanma); chiêng Kur – do người Campuchia chế tác. Trong đó chiêng Lao được đồng bào Tây Nguyên quý nhất.

Nhưng ngày nay những bộ chiêng cổ, quý hiếm có giá trị cao hầu như không còn nữa. Trong thực tế, dàn mã la của người Raglai hiện nay đều do các nghệ nhân đúc đồng ở vùng Điện Bàn, Quảng Nam chế tác. Năm 2012, Ủy ban nhân dân dân tỉnh Khánh Hòa đã phê duyệt đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Khánh Hòa đến năm 2020”, qua đó có chương trình trang bị 85 dàn mã la cho các plơi Raglai trong tỉnh. Tất cả đều được hợp đồng với cơ sở đúc đồng của nghệ nhân Dương Ngọc Tiến (Điện Bàn, Quảng Nam). Bản thân tôi cũng đã được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa (nay là Sở Văn hóa và Thể thao) mời nghiệm thu 3 năm liền và cũng từ đó cho chúng tôi thêm những hiểu biết về dàn mã la của người Raglai, trong đó có điều rất thú vị.

Theo hợp đồng thì mỗi bộ mã la có 07 chiếc, gồm: 1 chiếc mã la lớn có âm trầm dùng để làm nền và 6 chiếc định âm tạo nên thang âm ngũ cung không có bán cung và một âm cao hơn chiếc mã la số một (chiêng Mẹ) đúng một bát độ (octave). Thang âm ấy tương đồng với thang âm điệu Bắc của người Kinh, tức: Hò – Xự - Xang – Xê – Cống và Líu. (Nếu dịch sang các note của âm nhạc phương Tây thì có thể quy ra thành: Đồ - Rê – Fa – Sol – La và Đố). Tuy nhiên, không nhất thiết dàn mã la nào cũng có âm chuẩn giống nhau, mà chúng chỉ giống nhau về cấu trúc cung bậc mà ở đó chiếc chiêng Mẹ sẽ là âm chủ. (Điều này xem ra cũng tương cận với quan niệm về cung bậc trong âm nhạc cổ truyền người Việt) (02). Được biết khi chế tác, người nghệ nhân không dựa vào thanh mẫu mà chỉ dựa vào quán tính của tai nghe. Vì vậy, mà trong các bộ mã la chúng tôi đã nghiệm thu đều có âm giai cao thấp khác nhau, có khi chênh nhau vài cung, nhưng cũng có lúc chỉ chênh nhau chưa đến một bán cung. Và để đo độ chuẩn của từng mỗi chiếc chiêng đều phải lấy chiêng Mẹ làm gốc. Nói một cách khác, mỗi bộ mã la là một dàn độc nhất, và không thể lấy mặt mã la của dàn này thay thế cho mặt mã la dàn kia. (Tất nhiên, cũng có thể lấy một chiếc mã la tương ứng rồi mài, chỉnh cho đến khi đúng với cao độ của chiếc mã la cần thay thế. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác.)

Trao đổi với nghệ nhân Tro Xuân Hội ở xã Ba Cụm Bắc – Khánh Sơn (cũng là một trong những thành viên Hội đồng nghiệm thu) và được biết, 6 chiếc chiêng trên có thể chia làm 2 bộ, mỗi bộ gồm 5 chiếc để diễn tấu hoặc đệm cho các bài dân ca tương ứng. Nói theo cách của âm nhạc hiện đại thì từ 6 âm “Đồ - Rê – Fa – Sol – La và Đố” có thể chia thành 2 dàn: “Đồ - Rê – Fa – Sol – La” (tương ứng với giọng trưởng) và “Rê – Fa – Sol – La - Đố” (tương ứng với giọng thứ). Anh cũng nói thêm, khi sử dụng trong lễ Bỏ mả và các nghi thức trang trọng khác thì người Raglai ở quê anh sử dụng cả 6 chiếc mã la, gọi là cho đủ cặp, có âm, có dương.

Như vậy có thể hiểu, 7 chiếc mã la trên không chỉ là một bộ mà là hai bộ mã la tồn tại trong một thực thể và khi tách nó làm hai bộ thì mỗi bộ chỉ gồm 5 chiếc và có âm sắc, tiếng nói rất riêng. Cũng phải hiểu cho rằng, dàn mã la của người Raglai không chỉ là nhạc cụ mà trước hết nó chính là “sứ thần” của người Raglai được lãnh nhiệm vụ giao tiếp với Thần linh. Xem ra, để giải thích được rành mạch được điều này thật không dễ dàng gì. Càng không thể chỉ giải thích nó bằng lối phân tích đơn thuần của riêng ngành âm nhạc học. Yếu tố lưỡng tính trong dàn mã la của tộc người Raglai lại cho chúng ta thêm nhiều suy nghĩ?

 

HPL

Chú thích:

(01) Sơ đồ sắp xếp dàn cồng chiêng của người Ê-đê theo thứ tự sau: Nhóm1: 1. Chiêng bằng lớn - Ching Char (Chiêng Ông); 2. Chiêng núm lớn – Ching Ana (Chiêng Mẹ); 3. Chiêng núm nhỡ - Ching M’Đúh (Chiêng Bố); 4. Chiêng núm nhỏ - Ching Moong (Chiêng Cậu); Nhóm 2: Chiêng bằng 1: K’nah Di (chị lớn); Chiêng bằng 2 : Kna’h H’liang (chị hai); Chiêng bằng 3: K’nah Khơk  (con trai lớn);  Chiêng bằng 4: H’luê Khơk (con trai thứ hai); Chiêng bằng 5: H’luê H’liang (chị thứ ba); Chiêng bằng 6: H’luê Khơk điếc (con trai út) và Trống H’gơr (Người Bà).

(02) Âm nhạc dân gian Việt Nam không có khái niệm điệu tính (tonality) như phương Tây. Các bậc hát tương ứng với các dây đàn và đều lấy “Hò” làm âm chủ: Dây Hò nhất (Bậc nam - dây Kép, chữ Hò tương ứng với nốt Sol của Tân nhạc); Dây Hò nhì (Bậc nam còn gọi là dây Xề, lấy chữ Xự làm Hò nên chữ Hò tương ứng với nốt La của Tân nhạc); Dây Hò tư (Bậc nữ - dây Đào, chữ Hò tương ứng với nốt Rê trong Tân nhạc); Dây Hò Năm (Bậc nữ còn gọi là dây Xề Đào, lấy chữ Xự của dây Đào làm Hò nên chữ Hò trong dây này tương ứng với nốt Mi của Tân nhạc). Đấy là những dây thông dụng trong dàn nhạc Tài nữ Nam bộ, dàn nhạc Bài chòi, Hát Bội.