QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

 SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 4)

T

THAI GIÁO : Giáo dục con từ khi con mới tượng hình trong bụng mẹ. Bào thai trong bụng mẹ, đã phải chịu sự giáo dục của người mẹ. Sức khỏe, tư tưởng, hành động của người mẹ đều ảnh hưởng đến cái thai. Đối với dân tộc ta, vấn đề thai giáo rất quan trọng. Vì là một nước tôn trọng lễ giáo, ai cũng mong muốn con mình sau này sống có đạo đức, biết lễ nghĩa để đối xử, giao tiếp với xã hội. Để việc thai giáo đạt kết quả, người đàn bà mang thai bắt buộc phải kiêng cữ nhiều điều mà nay thấy không cần thiết (Xem KIÊNG CỮ KHI MANG THAI). Sỡ dĩ phải bắt buộc kiêng cữ mang nhiều tính cách mê tín dị đoan như thế là vì người xưa cho thai giáo là quan trọng, nhưng không phải ai cũng thực hiện, không dùng thuyết giảng được, cho nên phải có một số hình thức để cưỡng bức các bà mang thai phải thực hiện. Trong Vân Đài loại ngữ (sđd), Lê Quý Đôn có viết :” Phùng Triệu Trương làm sách Cẩm nang bị lục, nói : “ Nhà làm nghề đánh cá sinh con tất phần nhiều có gân xương cứng rắn, vì trong khi có mang, mẹ rét con cũng rét, mẹ nóng con cũng nóng, đứa hài nhi đã từng trải gió sương, nắng nóng từ lúc còn ở trong bào thai. Khi nó đã được sinh ra , da thịt dày dặn, gân xương cứng rắn, tà khí không nhiễm vào được.” Thuyết ấy rất phải, vì khi còn luyện mà bền được, huống chi là tính. Cổ nhân dạy con từ trong thai, cũng là nuôi cho thành tính tốt vậy ” (sđd, trang 47).

THAI MÁY : Thai nhi quẫy nhẹ trong bụng mẹ.

THAI NGHÉN : Có chửa, mang thai.

THAI NHI : Đứa con còn nằm trong bụng mẹ.

THAI TIỀN SẢN HẬU : Trước khi đẻ, sau khi đẻ. Những chứng bệnh trong khi chửa cũng như sau khi sinh.

THÍ NHI : (Xem CÚNG ĐẦY NĂM)

THỌ THAI (THỤ THAI) : mang thai, có chửa.

THÔI NÔI : Khi trẻ đầy tháng, thường cho nằm nôi. Đứa trẻ đã được một năm, từ bỏ cái nôi, vì đứa trẻ khá lớn, cứng cáp, cần có mội trường rộng rãi để hoạt động, chuyển sang nằm giường, gọi thôi nôi, thôi nằm nôi, vì quá chật chội. Chiếc nôi được treo lên giàn bếp dành cho các lần sinh sau. Có giường riêng cho trẻ, nhưng nhiều nơi trẻ nằm với mẹ vì không thể sắm giường riêng. Ngày thôi nôi, có lễ cúng thôi nôi (Xem CÚNG ĐẦY NĂM). Có vùng, gọi tô tôi, hay tôi tôi.

THỤ THAI : (Xem THỌ THAI).

THỬ TRẺ ĐỂ ĐOÁN TƯƠNG LAI : Từ Hán Việt là THÍ NHI (Xem CÚNG ĐẦY NĂM)

THUẬT XƯA ĐOÁN TRƯỚC SINH TRAI HAY GÁI : (Xem CON TRAI NỐI DÕI)

TRỤY THAI : Bị hư thai.

TRỤT THAI : Cái thai sa xuống

U

UỐNG NƯỚC LÒNG ĐÒ : Đây là phương cách người xưa chữa trị trẻ bị trớ, tức là bị ói, oẹ. Nước lòng đò là nước đọng lại trong lòng con đò chở khách sang sông. Đây là loại nước dơ, đầy vi khuẩn, vi trùng gây bệnh, thế mà cho trẻ uống, thật là quá nguy hiểm. Vì họ tin rằng ma quỷ ám hại con họ. Các thầy pháp giải thích rằng chữ trớ là chữ Hán có nghĩa là nguyền rủa (theo Thiều Chửu), còn có chữ đồng âm trớ (bộ khẩu) có nghĩa là thư. Thư có nghĩa là khấn với quỷ thần gia họa cho người khác cho bõ ghét. Chính đọc là trở (theo Đào Duy Anh). Như thế, đứa bé bị thư, tức là bị quỷ thần, tà ma ám hại, chỉ nhờ Trời Phật, Thần Thánh ra tay diệt trừ mới hết bệnh. Tiếng nhà Phật gọi hành động ra tay cứu vớt người qua cơn hoạn nạn, đưa người vượt qua bể khổ là tế độ. Chữ Hán Việt độ có nghĩa là đưa người qua sông, là bến đò. Người xưa tin rằng uống nước trong lòng đò là tiếp xúc với tế độ, nghĩa là cầu Trời Phật ra tay trừ ma quỷ, chữa con tre khỏi bị thư, tức là khỏi bị trớ. Đây là tục lệ quá xa xưa, ghi chép ra đây để tham khảo.

V

VƯỢT CẠN : Nói về việc sinh đẻ. Tục ngữ có câu : “Trai vượt bể có bạn, gái vượt cạn một mình “. Ý nói việc sinh đẻ trên đất liền có nhiều nguy hiểm, như khi vượt biển, nhưng không ai ngoài sản phụ phải tự lực vượt qua.

PHỤ LỤC

CA DAO - TỤC NGỮ VIỆT NAM VỀ VIỆC SINH & CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH

Ác đẻ ác la, gà đẻ gà cục tác.

Ai chửa nấy đẻ, có phải ghẻ đâu mà kiêng.

Ai chửa nấy đẻ, có phải ghẻ đâu mà lây.

Ai cũng chín tháng mười ngày.

Ăn se sẻ, đẻ ăn voi.

(Chưa chửa, ăn ít, khi có chửa, ăn nhiều)

Ăn se sẻ, đẻ ông voi.

Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi.

Ba tháng con sảy, bảy tháng con sa.

Ba tháng mười ngày, hết tuần chay, gái đẻ.

Bao giờ cá lý hóa long

Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.

Bổ củi xem thớ, lấy vợ xem hông

(Đàn bà to hông sinh đẻ dễ)

Bối rối như bà sư đẻ.

Bồng con mà bỏ vô nôi

Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.

Bụng mang dạ chửa.

Bước lên xe kiếng đi viếng mộ chồng

Mộ chưa cỏ mọc, trong lòng thụ thai.

Cả vú lấp miệng em.

Cây không trồng nên lòng không tiếc

Con không đẻ nên mẹ không thương.

Cha già con cọc.

Cha già, mẹ héo.

Cha già, mẹ yếu.

Cha hà tiện, đẻ con hoang phí.

Cha hổ mang, đẻ con liu điu.

Cha mẹ cú đẻ con tiên, cha mẹ hiền đẻ con thảo. 

Cha mẹ sinh con, trời sinh tính

Cha mẹ sinh đẻ, không lẽ theo mình

Xấu cha xấu mẹ, đôi mình tốt chăng.

Cha nào con nấy.

Cha sinh chẳng bằng mẹ dưỡng.

Chẳng đẻ chẳng thương.

Cha sinh mẹ dưỡng ra con

Cũng như trời đất nước non không cùng

Vẫn là một khí huyết chung

Chia riêng mày mặt, trong lòng sinh ra

Bào thai chín tháng mang ta

Kiêng khem tật bệnh, ai hòa chịu chung

Vượt bể Đông có bè có bạn

Mẹ sinh ta vượt cạn một mình

Sinh ta mát mẻ yên lành

Từ nay mẹ mới nhẹ mình không lo

Chốn lạnh ướt để cho mẹ ngủ

Nơi ấm êm mẹ ủ con nằm

Năm canh con khóc cả năm

Ôm con mẹ chịu khổ tâm lo phiền

Khi con ốm, sốt chẳng yên

Con phiền có một, mẹ phiền bằng hai

Ngọn đèn chong bóng canh dài

Nghĩ thua, nghĩ được, có ai ngỏ cùng

……..

Chàng ơi, ơn thầy ba năm cúc dục

Nghĩa mẹ chín tháng cù lao

Ai đền ơn cho thiếp mà nhủ thiếp trao ân tình.

Chim trời ai dễ đếm lông

Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.

Chín tháng ăn rươi, mười tháng ăn nhộng

(Kiêng ăn rươi, nhộng sau khi sanh)

Chùa Bà Mụ ở phố Hội An

Linh thiêng có tiếng lan tràn khắp nơi.

Chưa đẻ đã đặt tên.

Chửa con so, làm cho láng giềng

(Đi làm cho sinh mau)

Chửa con so làm lo cho láng giềng.

Chửa hoang ba làng cũng biết.

Chửa hoang đẻ lạnh.

Chửa hoang đẻ vãi.

Chửa thì đẻ, có ghẻ đâu mà lây.

Có chửa có đẻ.

Có con nghĩ mẹ, thương thay

Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau.

Có đẻ, không có nuôi.

Có đẻ mới có thương.

Có nghén thì đẻ, có ghẻ đâu mà lây.

Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.

Có phước đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo.

Con ai là chẳng giống cha

Cháu ai là chẳng giống bà giống ông.

Con ăn một, mẹ ăn hai.

Con biết lẫy thì bố biết bò.

Con bú chồng đo.

Con chim se sẻ nó đẻ cột đình

Bà ngoại sinh má, má sinh mình, em biết không ?

Con có cha mẹ , không ai lỗ nẻ chun lên

Con cò bay lả bay la

Bay từ cửa miếu, bay qua cánh đồng

Cha mẹ sinh đẻ tay không

Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi

Trước là nuôi cái thân tôi

Sau nuôi đàn trẻ, nuôi đời cò con.

Con đẹn con sài chớ hoài bỏ đi.

Con gái chửa hoang, gác vàng không lấy.

Con gái phú ông không chồng mà chửa

Cả làng ăn vạ hết bảy trăm quan.

Con không khóc, mẹ không cho bú.

Con mẹ có thương mẹ thay

Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau. 

Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh.

Con ơi ham học chớ đùa

Bữa nào giáp Tết thỉnh bùa thầy đeo.

Con so về nhà mạ, con rạ về nhà chồng.

Cô kia yếm thắm quai tằm

Chồng cô đi lính, cô nằm với ai ?

Cô nằm cô đẻ đứa bé trai

Chồng về chồng hỏi con ai thế này ?

Con tôi đi kiếm về đây

Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.

Công cha ba năm sanh thành tạo hóa

Nghĩa mẹ chín tháng cưu mang

Hai dứa mình lấy chi đền nghĩa khó khăn

Lên non gánh đá xuống xây lăng phụng thờ

Công cha đức mẹ cao dày

Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ.

Công cha nặng lắm ai ơi

Nghĩa mẹ bằng trời, mang nặng đẻ đau.

Công sanh dục bằng công tạo hóa

Có cha mẹ sau mới có chồng

Em nhớ khi dìu dắt ẵm bồng

Cho nên ngày nay, dẫu thiên lao vạn khổ, em cũng vui lòng chẳng than.

Dạy con từ thuở hài đề (thời kỳ bú mớm)

Dạy vợ từ thuở mới về làm dâu.

Đàn ông học sảy học sàng

Đến khi vợ đẻ phải làm mà ăn.

Đàn ông vượt bể có chúng có bạn

Đàn bà vươt cạn chỉ có một mình.

Đau đẻ còn chờ sáng trăng.

Đau đẻ, ngứa ghẻ, đòn ghen.

Đau như đau đẻ.

Đầu lòng không trai thì gái.

Đẻ như gà đẻ.

Đẻ như ngan như ngỗng.

Đội ơn chín chữ cù lao

Sinh thành kể mấy non cao cho bằng.

Đời cha ăn mặn, đời con khát nước.

Đừng đẻ sau khôn trước.

Gà đẻ gà cục tác.

Gà đẻ trứng vàng.

Gà gáy quái, con gái chữa hoang.

Gái chửa hoang ngàn quan chẳng cáp (đánh cuộc).

Gái chửa thèm của chua.

Gái một con trông mòn con mắt

Gái hai con, vú quặt đằng sau

Gái ba con chỉ đâu ngồi đấy.

Gái đẻ ăn ngon, chồng con trả người

(Gái đẻ phải ăn kiêng, cứ thích ăn ngon, cái gì cũng ăn, dễ sinh bệnh,

có khi chết, lúc đó, chồng con người đời phải lo)

Gái thụ thai, trai đẩy lạch

(Dùng thuyền đẩy vào trong lạch, công việc mệt nhọc như gái có mang)

Gái rở một cành, gái lành một cây

(Gái rở là gái có nghén, ăn ít. Gái lành là gái khỏe mạnh, ăn nhiều)

Gái rở một giành, gái lành một sọt

(Giành, sọt : đồ đựng bằng tre, giành đựng nhiều hơn sọt)

Gái rở thèm chua.

Già lừa đẻ ra ngựa.

Hai vợ chồng son, đẻ một con hóa bốn.

Học hành ba chữ lem nhem

Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua.

Hổ phụ sinh hổ tử.

Hổ phụ sinh khuyển tử.

Kể từ mẹ mới thụ thai

Biết bao khí huyết mẹ bù cho con

Đến ngày hình thể vẹn tròn

Ví như vượt biển trèo non nặng nề

Kiêng ăn kiêng ngủ ê chề

Đã e chín tháng còn e mười ngày

Kể từ hoa nở liền tay

Bao giờ mẹ đó con đây mới mừng

Lòng yêu con mấy cho bằng

Nâng chừng như trứng, hứng chừng như hoa

Phải con hay khóc hay la

Ban đêm quên ngủ, ngày đà quên ăn

Tháng hè đưa võng liền chân

Tháng đông ướt áo dậy trần quản chi

Đầy năm biết đứng biết đi

Dắt tay từng bước phòng khi lỡ làng

Miếng ngon những nhịn cùng nhường

Ba năm bú mớm, mẹ gầy dường xác ve

Nghĩ đà ơn mẹ nhiều bề

Kìa như dạy dỗ lại về ơn cha.

Khôn từ trong trứng khôn ra.

Không chồng mà chửa mới ngoan

Có chồng mà chửa, thế gian sự thường.

Không đẻ không đau.

Không đẻ không thương, không máu không xót.

Lão bạng sinh châu

(Trai già sinh ngọc, sinh con trai)

Lấy chi đền nghĩa mẹ thầy

Cưu mang chín tháng mười ngày sinh ra.

Lấy chi đền ngãi mẹ chừ

Cưu mang chín tháng với dư mười ngày.

Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

Lớn vú bụ con.

Lụy dâu, bầu sữa

(Bắt con sâu trong cây dâu, nướng ăn sẽ có nhiều sữa)

Má ơi, con má phá thai

Nước da tái mét, trong ngoài đều hay.

Mạ úa cấy lúa chóng xanh

Gái (nạ) dòng chóng đẻ, sao anh hững hờ ?

Mang nặng đẻ đau.

Máu gái đẻ có khoẻ cũng kiêng.

May áo phòng khi cả dạ.

Mặt đỏ như lửa thấy bụng chửa cũng sợ,

Mặt đỏ như lửa, thấy đàn bà chửa cũng tránh.

Mẹ đần lại đẻ con đần

Gạo chiêm dù giã trăm lần cũng chiêm

Mẹ em đẻ em trong bồ

Anh nghĩ chuột nhắt cũng vồ được em.

Mẹ em đẻ em trong buồng

Ngón tay tháp bút, mặt vuông chữ điền

Càng nhìn càng thấy thêm duyên

Càng đẹp nhan sắc, càng hiền nết na.

Mẹ em đẻ em trong chum

Lấy nắp đậy lại, lấy dum bọc ngoài

(dum là khăn vải nâu)

Mẹ em khéo đẻ em ra

Đẻ em gốc bưởi cho ta đèo bồng.

Mẹ em khéo đẻ em ra

Đẻ em mười bốn, đẻ ta hôm rằm

Đi đâu mà vội mà nhầm

Sao em không đợi trăng rằm cho trong.

Mẹ mình khéo đẻ mình ra

Đẻ mình mười bốn, đẻ ta hôm rằm

Mình đen ta cũng ngâm ngâm

Mẹ ta thách cưới một trăm quan tiền.

Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể

Con nuôi mẹ con kể yjáng ngày.

Mẹ ơi ! Con đã có thai

Con ơi ! Mẹ cũng được vài tháng nay

Mẹ ơi ! con đẻ hôm nay

Con ơi ! mẹ cũng đẻ ngay bây giờ.

Mẹ tròn con méo.

Mẹ tròn con vuông.

Miệng anh cười, mắt anh khóc

Anh bước ra trường học nghĩ tới mẹ cha

Cha già mẹ yếu, vợ lại có thai

Nhỡ bông hoa hường nở nhụy, biết cậy ai bây chừ ?

Một con sa, bằng ba con đẻ.

Một con so, lo bằng mười con rạ.

Muốn đánh thì đẻ con ra

Muốn ăn thì thổi cơm nhà mà ăn.

Ngày sinh tháng đẻ

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm mớm, lưỡi lừa cá xương.

Người chửa, cửa mả.

Người ta trắng nõn trắng nà

Mình đen thui thủi như là củi thui

Trách bà mụ khéo trêu người

Nặn người thế ấy, nặn tôi thế này.

Nhà khó đẻ con khôn.

Nhớ hồi mẹ đẻ thiếp ra

Nhai cơm mớm nước, lớn mà chừng ni

Nghe lời chàng, bỏ mẹ ra đi

Thất hiếu với phụ mẫu có hề chi không, hỡi chàng ?

Nói ra sợ chị em cười

Lấy chồng tháng chín, tháng mười đẻ con.

Nuôi con trẻ như vần cơm chín.

Nuôi con trong dạ, đổ vạ cho ông vải.

Nuôi con trong dạ, mang vạ vào thân.

Ơn cha bằng biển cha ơi

Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.

Ơn hoài thai như biển

Nghĩa dưỡng dục tựa sông

Em nguyền ở vậy không chồng

Lo nuôi cha mẹ hết lòng đạo con.

Ơn hoài thai như biển

Ngãi dưỡng dục tợ sông

Em nguyền ở vậy phòng không

Lo đàng cha mẹ cho hết lòng phận con.

Phúc đức tại mẫu.

Ruộng sâu trâu nái, không bằng con gái đầu lòng.

Sanh tử bất sanh tâm, sanh ngưu vô sanh giác

(Sinh con không sinh lòng, sinh trâu không sinh sừng)

Sinh con đẻ cái.

Sinh con ai nỡ sinh lòng

Sinh con ai chẳng vun trồng cho con.

Sinh con rồi mới sinh cha

Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.

Sinh con thì luộc thì lào

Thì nấu thì nướng mà trao cho người

(Sinh con phải dạy con, rồi gả đi lấy chồng)

Sinh dữ tử lành.

Sinh được một con, mất một hòn máu.

Sinh nở có thời.

Sinh sau đẻ muộn.

Sinh thuận tử an.

Thâm đông thì mưa, thâm dưa thì khú, thâm vú thì chửa.

Thèm như gái rở thèm của chua

(Gái rở là gái trong thời ớn nghén)

Thèm như gái rở thèm ngói.

Thứ nhất đau đẻ, thứ nhì ngứa ghẻ, đòn ghen.

Thứ nhất đẻ con trai, thứ hai đỗ ông nghè.

Thứ nhất con trai, thứ hai được giặc.

Thứ nhất vợ dại trong nhà

Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa cùn

Vợ dại thì đẻ con khôn

Trâu chậm lắm thịt, rựa cùn chịu băm.

Thương thay chín chữ cù lao

Tam niên nhũ bộ (ba năm bú mớm) biết bao nhiêu tình. 

Trách cha trách mẹ tôi nay

Sinh tôi, sao chẳng chọn ngày mà sinh.

Trai nuôi vợ đẻ gầy mòn

Gái nuôi chồng ốm, béo tròn cối xay.

Trai vượt bể có bạn, gái vượt cạn một mình.

Trái tính trái nết như gái mang bầu.

Trăm con trai không bằng lỗ tai con gái.

Trâu đẻ tháng mười, người đẻ tháng sáu

(Tháng sáu, tháng mười là mùa gặt hái, trâu người đều thiếu)

Trời sinh bông trắng nhụy huỳnh

Bà mẹ đẻ má, má đẻ mình dễ thương.

Trời sinh trời dưỡng, khắc đẻ khắc nuôi.

Trời sinh voi sinh cỏ.

Từ thuở cha sinh mẹ đẻ.

Vợ dại, đẻ con khôn.

Vợ đẻ, con lại lên mùa.

(Xem tiếp kỳ 5)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net