QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

     

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

 SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 5)

PHẦN 2: TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC CƯỚI

A

ANH EM BẠN RỂ : Hai hoặc nhiều người làm rể trong một gia đình, cũng gọi là ANH EM CỘT CHÈO hay ANH EM CỌC CHÈO, BẠN CỌC CHÈO. Miền Bắc gọi là ANH EM ĐỒNG HAO (theo Tự điển đối chiếu từ địa phương của Nguyễn Như Ý chủ biên, sđd). Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ (sđd) có từ CỘT CHÈO, và được giải thích: Anh em bạn rể: Hai hoặc nhiều người làm rể một gia đình. Một số từ điển khác có chữ CỌC CHÈO, như Đại Nam quấc âm tự vị của Paulus Của (sđd) giải thích : Khúc cây kềm theo be ghe, để mà chịu lấy cây chèo. Và không có từ ANH EM CỌC CHÈO trong tự vị. Tự điển Tiếng Việt phổ thông của UBKH XHVN, tập 1 (sđd) cũng có từ CỌC CHÈO, và giải thích: Anh em cọc chèo (cũng nói) bạn cọc chèo (khẩu ngữ), Anh em rể (có vợ là chị em ruột). Trong Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân (sđd) giải nghĩa ANH EM CỌC CHÈO như sau: Chỉ những người làm rể ở một gia đình, người lấy chị, người lấy em. Tuy nhiên, chưa có từ điển nào giải thích tại sao gọi là ANH EM CỘT CHÈO hay ANH EM CỌC CHÈO.

           Dựa vào lời giải thích từ CỌC CHÈO của Paulus Của, có phải nhà vợ phải nhờ cậy các chàng rể để lèo lái chuyện nhà bên vợ chăng ? Nhất là nhà vợ chỉ toàn là con gái.

           Tục ngữ Việt Nam có câu: Bố vợ là vớ cọc chèo, Mẹ vợ là bèo trôi sông. Nhà nghiên cứu Trịnh Mạnh trong tác phẩm Tiếng Việt lý thú, tập 1, (sđd), giải thích từ VỚ là từ cổ, hiện nay chỉ một số vùng còn dùng như ở Tam Kỳ (Quảng Nam). “Vớ là một vật kết bằng thừng, giống hình số 8, một nửa lồng vào mái chèo còn nửa kia lồng vào khấc ở đầu cọc chèo. Nếu không có cái vớ thì không chèo được, nếu buộc chặt mái chèo vào cọc chèo cũng không chèo được. Câu này có nghĩa là: tình cảm giữa bố vợ và chàng rể dù có buộc nhưng không chặt chẽ, khăng khít như con đẻ. Ý này rất hợp với câu thứ hai “Mẹ vợ là bèo trôi sông”. Bèo trôi sông cũng kết thành mảng nhưng kết không chặt, sóng to gió cả cũng dễ tan. Từ câu tục ngữ trên mới có từ “bạn cọc chèo” để chỉ hai anh rể lấy hai chị em ruột.” Qua lời giải thích trên, ta có thể suy ra giữa hai anh em rể (ANH EM CỌC CHÈO) tuy có tình cảm, nhưng không chặt chẽ, khăng khít, có thể dễ tan.

ANH EM CỌC CHÈO : (Xem ANH EM BẠN RỄ)

ANH EM CỘT CHÈO : (Xem ANH EM BẠN RỄ)

ANH EM ĐỒNG HAO : (Xem ANH EM BẠN RỄ)

ĂN CƯỚI : Ăn tiệc nhà có đám cưới, có thể là tiệc ngọt hay tiệc mặn, tổ chức có thể tại nhà họ trai hay họ gái, hay tại khách sạn, nhà hàng. Xưa, tổ chức tại nhà, người đuợc mời đi ăn cưới thường có gì mang đến, con gà, con vịt, nếp, gạo, bánh trái ... và có người tới giúp chuẩn bị món ăn, kê bàn ghế, dựng rạp, tiếp khách ...Khi ra về, có quà bánh mang về cho con cháu. Ngày nay, đãi tiệc ở nhà hay nhà hàng, người đến dự, có lúc mang gói quà, thông dụng là mang phong bì đến mừng cho gọn.

           Người đi ăn cưới cũng phải lưu ý đến văn hóa giao tiếp. Đến đám cưới là đến đám hỷ, đám vui nên thiên về nghi thức chào mờinghi thức khen ngợi, tránh dùng ngôn từ tranh luận để khỏi tạo ra không khí căng thẳng làm ảnh hưởng đến cuộc vui chung. Nếu có tham gia ca hát, ngâm thơ, kể chuyện tránh những bài ca, bài thơ buồn, chia ly, đỗ vỡ, chuyện kể tránh chuyện thô tục ...

           Người dự đám cưới nên ăn mặc đẹp, gọn gàng, nghiêm túc, thể hiện sự tôn trọng gia chủ, hòa hợp cùng ngày vui của đôi tân lang, bà con hai họ trong trang phục lễ hội đẹp đẽ, rực rỡ. Không nên dẫn thêm con cái đi theo trừ trường hợp bất khả kháng, hay dẫn bạn bè của mình đi theo, “những người khách không được mời mà đến” như thế làm trở ngại cho sự đặt bàn tiệc của gia chủ. Người ở xa, không đến dự được, nên có một điện tín, điện hoa chúc mừng.

ĂN HỎI : Ăn uống trong ngày lễ VẤN DANH, trước khi ĂN CƯỚI. Sau này, thường dùng để chỉ lễ VẤN DANH.

B

BẠN CỌC CHÈO : (Xem ANH EM BẠN RỂ)

BÁNH PHU THÊ : Lễ vật trong lễ cưới không thể thiếu, từ tên gọi là bánh su sê trở thành bánh phu thê, bánh vợ chồng. Tên gọi phu thê là căn cứ vào vật liệu làm bánh, cách gói bánh, hương vị màu sắc của bánh. Bánh làm bằng bột, đường trắng, dừa, đậu xanh ... Nhân nắn thành hình tròn, bọc bột ở ngoài thành hình vuông, tượng trưng cho trời đất. Dùng lá dừa giữ màu xanh làm khuôn vuông, hai khuôn úp lại với nhau cho thật khít, biểu tượng âm dương, đôi vợ chồng khăng khít, đẹp duyên, vuông tròn, trong trắng, ngọt ngào, đầy hương thơm.

BẮN TIN : Tên gọi một hình thức gửi tin đến cho bố mẹ cô gái của bố mẹ chàng trai, xem bố mẹ cô gái có đồng ý gả con gái cho con trai mình không. Nếu nhà gái ưng chịu, nhà đàng trai sẽ tiếp tục các bước về lễ nghi trong việc cưới hỏi.

BĂNG NHÂN : Còn gọi là người MAI người MỐI, MAI DONG hay người MỐI LÁI. Từ Hán Việt là MÔI NHÂN, BĂNG NHÂN, là người làm công việc ghép duyên chồng vợ cho đôi trai gái, là người trung gian, giao thiệp giữa nhà trai và nhà gái. Về từ BĂNG NHÂN, theo tích: chuyện Lệnh Hồ Sách mộng thấy mình đứng trên băng nói chuyện người ở dưới băng, đó là việc âm dương. Hồ Sách làm việc trao đổi giữa âm và dương cho hợp nhau, tức muốn nói việc hôn nhân, làm cho hai đôi trai gái lấy nhau. Từ đó, người làm công việc đó gọi là BĂNG NHÂN thay cho từ MỐI LÁI.

           Triều Lê, năm 1478, vua Lê Thánh Tông bắt đầu quy định nghi lễ hôn nhân, trong đó có đề cập đến việc mối lái: “ Khi lấy vợ, trước hết phải nhờ mối lái đi lại bàn định, rồi sau mới định lễ cầu thân.

           Trong xã hội xưa, người con gái thường “kín cổng cao tường”, sống trong phòng khuê, ít đi ra bên ngoài, ít tiếp xúc với người ngoài. Do đó, nhà trai muốn lấy vợ cho con, không rõ được dung mạo, tính tình, tài năng của cô gái nên họ phải nhờ người mối. Nhà gái cũng cần có người mối. Vì thế, mới có câu: đẹp như rối, không có mối, tối cũng nằm không. Nếu người trong làng, hai họ biết rõ nhau, không cần người mối. Nhưng hai họ ở cách xa nhau, hai gia đình rất cần người mối. Trong hôn nhân, không mối lái, có thể bị chê trách.

           Nhà trai cho biết ý định của mình, nhờ mối lái dùng miệng lưỡi khéo léo, đến nhà gái thuyết phục gả con gái cho con trai họ. Người mối lái có thể là đàn ông hay đàn bà, thường là người quen thân cả hai bên, hay có quan hệ huyết thống một bên. Mối lái là đàn bà thuận lợi hơn, vì họ khéo ăn khéo nói, lại dễ tiếp xúc với người mẹ cô gái, người có thể có những quyết định quan trọng về việc hôn nhân của con. Người mối lái thường được hai họ trả công, mua chuộc, hậu đãi. Họ có nhiều mánh lới, biết tâng bốc cái hay, cái đẹp, biết che dấu cái dở, cái xấu của đôi trai gái, của gia đình hai bên. Xưa, xong đám cưới, họ sẽ được nhà trai đi biếu cái đầu heo và một đĩa lòng heo. Đây là cái lễ chót của người đi cưới vợ đối với mối lái và cũng từ đây, tùy theo mối quan hệ tình cảm mà họ còn giữ được mối quan hệ hay không. Và nếu cuộc hôn nhân không thành, nếu nhà trai hay nhà gái làm mếch lòng họ, họ có thể đi bêu xấu gia đình. Có người không thích làm ông bà mai, vì cuộc hôn nhân không thành, họ sẽ bị trách cứ, nên có câu : Ở đời có bốn cái ngu / Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu.

           Ngày nay, trai gái thường gặp nhau tìm hiểu để đi đến hôn nhân, không cần phải có người mối lái. Hay thanh niên nam nữ có thể tìm hiểu nhau qua mục Tìm bạn bốn phương trên một số báo chí và cũng có thể qua mạng Internet. Hiện nay cũng có những dịch vụ hôn nhân, làm công việc tìm vợ cho người nước ngoài.

BẮT RỂ : Lối nói của người trong Nam chỉ sự người con rể sau lễ kết hôn về ở hẵn nhà vợ, còn gọi là Ở RỂ, GỬI RỂ khác với từ ở ngoài Bắc. Phía Bắc, Ở RỂ, GỬI RỂ tức là LÀM RỂ, chàng rể đến ở nhà vợ một thời gian trước khi cưới. Cưới xong, chàng rể rước vợ ở nhà mình. Sỡ dĩ nhà gái xin nhà trai cho chàng rể ở nhà mình sau khi cưới vì nhiều lý do : do gia đình nhà gái neo đơn, không có con trai, hay có con trai mà bị tật hiểm nghèo, hay nhà có nhiều con gái, lúc đó chàng rể coi như con trai trưởng, hay nhà chỉ có một con gái không muốn vắng xa.

BỎ TRẦU : Đó là lễ CHẠM NGÕ (NẠP THÁI), nhà trai mang cau trầu, trà rượu cùng đại diện bà con đến gặp nhà gái, chính thức đặt vấn đề xin cưới cô gái về làm dâu. Sau lễ này, nếu đàng gái chấp nhận, hai bên chính thức trở thành SUI (SUÔI) GIA. Đôi trai gái trở thành dâu và rể của hai gia đình, song chưa được phép sống chung.

BỐ DÒNG : Người đàn ông tuổi trên 40, hay đã có hai ba đời vợ.

BÔN TANG : (Xem CƯỚI CHẠY TANG)

C

CẤM KẾT HÔN : (Xem HÔN NHÂN VÔ HIỆU LỰC).

CẦU HÔN : Đi NÓI VỢ, HỎI VỢ, xin nhà gái gả con gái cho con trai nhà mình.

CHA ĐƯA MẸ ĐÓN : Câu tục ngữ, hiểu theo việc cưới xin : Cha đưa con gái về nhà chồng, mẹ chồng đón nàng dâu về nhà. Nhưng hiểu theo việc tang thì khác (Xem TỪ NGỮ VỀ VIỆC TANG, mục từ PHÁT DẪN).

CHẠM NGÕ : (Xem NẠP THÁI)

CHĂNG DÂY VÀ ĐÓNG CỔNG : Xưa, khi đoàn nhà trai đi đón dâu, đến gần nhà gái, trên đường, một toán người dùng ít thước lụa đỏ giăng ngang qua đường. Nhà trai muốn đi qua phải đưa một ít tiền cho những người chăng dây và được họ chúc phúc. Nếu không, chúng sẽ cho cắt dây, coi như cuộc tình duyên có cơ đứt đoạn và phải chịu nghe những lời không tốt đẹp, làm ảnh hưởng đến cuộc tình duyên, đến ngày vui hai họ. Đó là tục CHĂNG DÂY.

           Có những đám cưới long trọng, con nhà gia thế, thay vì chăng dây, một nhóm người cho lập bàn hương án trên đường đón nhà trai. Một người cầm phong pháo đợi nhà trai đến, đốt lên để chào mừng. Nhà trai bắt buộc phải cho một ít tiền cho êm thắm.

           Khi đoàn nhà trai vượt qua được chỗ chăng dây hay chỗ lập hương án, thì khi đến cổng nhà gái lại bị các em cô dâu đóng cổng, không cho vào. Nhà trai lại phải bỏ tiền ra, cổng mới mở. Đó là tục ĐÓNG CỔNG.

          Các tục kể trên, tiếng Hán Việt gọi là LAN NHAI. Ngày nay, không còn tục này nữa. Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ (sđd) có chép tục này ở Trung Quốc: “ Sách Thông điển chép đời Đường Huyền Tông, Đường Thiệu dâng sớ lên vua tâu: “ Trong ngày sĩ thứ nghênh hôn, những kẻ hèn hạ quê mùa đem xe ra chặn đường đòi cơm rượu. Tục ấy trở nên thịnh hành đến cả những bậc vương hầu. Chúng nhóm nhiều bè lũ ra đón đường giữ đám cưới lại, làm mất nhiều thời giờ, mà đòi tiền của, đến nỗi tiền cho bọn ngăn đường nhiều hơn tiền cưới. Vậy xin cấm đoán hẳn”. Nhà vua phê chuẩn việc ấy. Tục ấy là là tục đón ngõ, chăng dây bây giờ (Lan nhai khai hàng)”.

CHEO : Đó là lệ xưa, nhà trai phải nộp cho làng xã nơi cư ngụ bằng tiền hay bằng trầu cau, trái cây, vật dụng thường dùng hay vật liệu xây dựng ... trước khi tiến hành việc cưới xin. Nếu nhà trai cưới vợ cho con người khác làng, phải nộp cheo ngoại, lễ vật nhiều hơn. Nếu nhà gái là người cùng làng, lễ vật của nhà trai sẽ được giảm bớt, gọi là cheo nội. Xưa, phân biệt cheo nội, cheo ngoại là để phân biệt dân chính cư, dân ngụ cư. Việc làng xã thu cheo là một biện pháp kinh tế, coi như thu thuế, thu lợi cho làng xã. Làng xã sau khi nhận cheo, dù có cấp hay không cấp tờ biên nhận, tờ cheo (nay gọi là giấy đăng ký kết hôn, giấy hôn thú) vẫn mang tính vật chứng có tính pháp lý, được làng xã, quần chúng công nhận, là chứng cứ phân xử về sau nếu vợ chồng xảy ra những điều bất ổn. Do đó, người xưa coi nộp cheo trước khi cử hành hôn lễ là việc cần thiết, như thế là coi trọng hôn nhân, để việc cưới xin thêm phần an toàn, bảo đảm. Người xưa đã từng nói: Cưới vợ không cheo như tiền gieo xuống suối hay cưới vợ mà chẳng có cheo, nhân duyên trắc trở như kèo không đinh. Vì thế, có cưới mà chẳng có cheo, dẫu rằng có giết mười heo cũng hoài.

           Theo lệ làng, nộp cheo phải nộp trong ngày cưới, không được nộp trước hay sau ngày cưới. Tuy nhiên, có những trường hợp, làng không nhận thu cheo, tục gọi là không hạ cheo, đó là những trường hợp HÔN NHÂN VÔ HIỆU LỰC.

           Tùy theo phong tục từng nơi, ngoài cheo làng, còn có cheo hàng xóm, cheo bản tộc, cheo bản thôn là dịp để nhà trai thông báo cho khắp nơi biết cuộc hôn nhân của con trai mình.

           Từ Hán Việt gọi cheo là LAN NHAI. Lan là cách trở, nhai là đường đi, tức là đoàn nhà trai đến nhà gái rước dâu bị ngăn trở bằng cách CHĂNG DÂY, ĐÓNG CỔNG, LẬP HƯƠNG ÁN như đã trình bày trong các mục từ. Như vậy, nộp cheo cũng là một hình thức cho việc hôn nhân tiến hành dễ dàng trước luật lệ của làng. Nếu không nộp cheo, làng không cho tiến hành lễ cưới, coi như “đóng cửa” việc cưới xin.

           Như đã trình bày ở trên, nộp cheo là một biện pháp kinh tế, phục vụ cho nhu cầu làng xã. Khoản tiền hay vật dụng thu cheo được làng xã sử dụng vào những việc công ích như tu bổ đình chùa, đắp đường, xây cổng làng, trợ giúp cho những gia đình khó khăn... Tuy nhiên, có nhiều làng lạm dụng, thu quá nhiều, ngay thời Lê đã được nhắc nhở. Năm 1663, vua Lê Huyền Tông quy định: “ Bất cứ ở cùng một làng hay làng khác đều cho phép thu cheo một quan tiền cổ và một vò rượu. Quan viên và quan lính ở xã thôn nhà gái không được viện cớ người ta lấy chồng làng khác mà đòi tiền cheo quá lạm”. Thời Gia Long, năm 1804 có quy định: “ Về tiền cheo thì nhà giàu phải nộp 1 quan 5 tiền, nhà bậc trung nộp 6 tiền, nhà nghèo nộp 3 tiền “. Đến đời Tự Đức, lệ nộp cheo coi như hủ tục, bị cấm chỉ cho đến ngày nay.

CHỈ HỒNG : (Xem XÍCH THẰNG)

CHỊU LỜI : Đó là lễ THỈNH KỲ, nhà trai đến gặp nhà gái bàn bạc cụ thể ngày cưới và hình thức tổ chức trong lễ cưới.

CHỦ HÔN : Người chủ trì trong việc cưới xin, tổ chức thực hiện SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN. Chủ hôn có thể là ông bà hay cha mẹ của cô dâu chàng rể. Nếu ông bà hay cha mẹ mất, người thân thích trong hàng chú bác làm chủ hôn. Chủ hôn là người không có tang từ 1 năm trở lên. Xưa còn có luật quy định, “ Người đàn bà nào chồng chết đi lấy chồng khác đem con gái đi theo ở với mình, thì người con gái ấy do mẹ làm chủ hôn “ (Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, sđd, trang 302). Luật cũng còn quy định, nếu trong việc cưới gả quy phạm pháp luật thì chủ hôn là người bị phạt trước, thường phạt về tội đánh trượng. Trượng thì dùng bằng sợi mây to vừa.

CHỤP ẢNH QUAY PHIM TRONG LỄ CƯỚI : Ngày nay, có những đám cưới tốn kém bạc triệu trong việc quay phim chụp ảnh thật lãng phí. Qua các nghi lễ như lễ đình hôn, lễ cưới chỉ cần chụp, quay một số ảnh để làm kỷ niệm là đủ. Thực sự, có những tập ảnh cưới, những băng hay đĩa, sau ngày cưới một thời gian nằm yên trong tủ, ít khi nào lấy ra xem. Đó là chưa kể, trong lễ cưới, việc quay phim chụp ảnh đã gây nhiều phiền hà trong buổi lễ. Nhà văn Sơn Nam trong tác phẩm Nghi thức về lễ bái của người Việt Nam đã có những nhận định về vấn đề đó như sau: “ Khuyết điểm quan trọng nhất, thường xảy ra do dịch vụ quay vi-đi-ô (...), cử hành lễ cưới là chính, quay vi-đi-ô là phụ, là kiểu giải trí phụ thuộc, ngoài chương trình hôn lễ. Vì chạy theo thời thượng, lắm khi người trong cuộc lại quên vấn đề chính. Ta thấy trong nhiều buổi lễ thành hôn, người quay vi-đê-ô và người trợ lý thường chạy qua, chạy lại, kéo mấy sợi dây điện, gây cản trở buổi lễ. Lắm khi họ ra lịnh cho người làm mai phải day mặt hướng này, nhìn qua hướng kia, hoặc ra lịnh cho người lớn tuổi đáng bậc ông bà phải cử hành chậm, làm nhanh. Thậm chí, họ yêu cầu làm trở lại động tác nào đó, mà họ chưa thấy đẹp, xem lễ cưới chánh thức là buổi thao diễn. Họ ra vẻ thành thạo hơn ai hết ! (...). Nghi thức buổi hôn lễ mặc nhiên lần hồi trở thành công thức cứng ngắt, anh đạo diễn (thường là trẻ tuổi) lại điều khiển các tiết mục, tùy tiện như là người chủ trì. Tóm lại, cử hành lễ thành hôn trong vòng thân mật thì cuộn phim phải toát lên sự thân mật, đủ già trẻ bé lớn. Đến trước bàn thờ không phải nhẳm đóng kịch, ý nghĩa vẫn là trình diện người quá cố...” (Trích trong Đình miếu & lễ hội dân gian miền Nam , sđd, trang 218-219).

COI MẮT VỢ : Xưa, trai gái sống trong vòng lễ giáo rất khó giao tiếp nhau, và cha mẹ chàng trai lại càng khó thấy mặt con dâu tương lai của mình. Vì vậy, nhân lễ NẠP THÁI hay CHẠM NGÕ, cha mẹ chàng trai có dịp thấy được mặt cô dâu, nên gọi là lễ XEM MẶT, tục gọi là đi COI MẮT cô dâu tương lai. Người xưa coi con mắt là “cửa sổ của tâm hồn”, thể hiện được tính cách, tình trạng thể chất, cơ cấu sinh lý của con người. Ca dao lại có câu : Coi mặt mà bắt hình dong / Con lợn có béo cỗ lòng mới ngon. Ngoài việc xem mặt cô dâu tương lai, nhà trai còn có dịp tìm hiểu gia cảnh, gia thế họ nhà gái. Họ cho rằng người con gái đảm đang là người biết thu xếp, dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, sạch sẽ.

COI TUỔI : (Xem KIÊNG KỴ TRONG HÔN NHÂN)

CÔ DÂU VỀ NHÀ CHỒNG : Tục xưa, khi cô dâu về đến nhà chồng, tùy theo phong tục từng địa phương mà có những xử sự, hành động khác nhau.

          Có nơi, cô dâu phải bước qua một lò than hồng, tin rằng nếu tà ma theo ám ảnh cô dâu sẽ bị lửa đốt cháy.

           Có nơi, khi cô dâu bước vào nhà chồng, bà mẹ chồng xách bình vôi ăn trầu lánh sang nhà hàng xóm một lúc rồi mới về lại nhà chào họ gái. Có người giải thích, bình vôi tượng trưng cho căn bản gia đình, cho của cải gia đình mà người đàn bà có trách nhiệm quán xuyến. Thường, bà mẹ chồng nhường quyền quản lý đó cho cô dâu, phải gánh vác giang sơn nhà chồng. Nhưng cũng có bà mẹ chồng không muốn con dâu nhận trách nhiệm đó, nên mang bình vôi đi để bảo vệ, tránh con dâu bòn rút hay làm tiêu hao tài sản nhà mình..

           Có nơi, nhà trai bày cái cối và cái chày trước cửa nhà, đợi rước cô dâu về. Khi cô dâu được rước về đến cửa, người nhà cầm chày đâm vào cối mấy lần. Đó là nghi lễ cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ được đông con nhiều cháu. Hành động đó là tượng trưng cho tín ngưỡng sùng bái sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và của con người, được gọi là tín ngưỡng phồn thực của dân Việt. Trong Ký hoạ Việt Nam đầu thế kỷ 20 của Oger có khắc cảnh này.

           Có nơi, nhà trai đặt sẵn trước ngõ một cái nồi đồng, một cái gáo, trong nồi đặt sẵn một quan tiền đồng và đựng đầy nước sạch. Cô dâu vào đến cổng, dùng gáo múc nước rửa mặt, rửa tay và cầm lấy quan tiền. Bà mẹ chồng ra cầm lấy nón cô dâu, dắt cô dâu vào nhà. Cô dâu, tay cầm quan tiền, tay cầm quạt che mặt, theo bà mẹ chồng bước vào nhà. Cô dâu đặt quan tiền và quạt lên bàn thờ và làm lễ gia tiên. Sau đó, cô dâu cầm quan tiền và quạt theo bà mẹ chồng bước vào buồng. Trong buồng đã chuẩn bị trầu nước hoa quả, giường chiếu mới. Khi cô dâu nghỉ ngơi xong, khăn áo chỉnh tề mới bưng hộp trầu ra chào hai họ. Trường hợp bà mẹ chồng mất, bà cô hay bà dì thay thế. Tục này có mục đích giúp cô dâu tránh được sự xa lạ, bỡ ngỡ khi lần đầu tiên bước chân về nhà chồng, lại được nhà chồng ban phước, ban lộc như nước, như quan tiền.

           Các tục lệ trên, ngày nay không còn nữa.

CÔNG CHÚA HẠ GIÁ : Hạ là phía dưới, giá là cưới gả. Hạ giá là gả cho một kẻ có địa vị ở dưới mình, là từ chỉ việc công chúa, con gái của vua lấy chồng. Dân thường, con gái đi lấy chồng, gọi là XUẤT GIÁ. Công chúa là con vua, chồng công chúa, dù là con đại thần trong triều cũng có địa vị thấp hơn. Chồng công chúa được gọi là PHÒ MÃ. Công chúa về nhà chồng, được gọi là PHỦ PHI.

           Dưới triều Nguyễn, Nội Các triều Nguyễn soạn bộ Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (sđd), trong quyển thứ 113, có mục hôn lễ, ghi rõ các thủ tục, lễ nghi khi Hoàng tử cưới vợ (HOÀNG TỬ NẠP PHI) và khi Công chúa lấy chồng (CÔNG CHÚA HẠ GIÁ). Những điều quy định, lễ nghi về Công chúa lấy chồng, tóm tắt như sau :

           Vua chọn được người làm PHÒ MÃ trong số con cháu các vị công thần. Vua cử một vị Hoàng thân đứng CHỦ HÔN và một vị Đại thần lo việc tổ chức hôn lễ. Hai vị này là người song toàn, người có tuổi, có phúc đức, con cái đông. Hôn lễ tiến hành 6 lễ: Lễ NẠP THÁI, Phò Mã chuyển lên Công chúa 10 lạng vàng, 100 lạng bạc và 2 mâm trầu cau. Lễ VẤN DANH, dẫn 2 con trâu, hai con lợn béo, 2 ché rượu. Lễ NẠP TRƯNG, SÍNH LỄ gồm 2 tấm đoạn thêu, 4 tấm lụa vân, 4 tấm sa, 2 mâm cau, 2 ché rượu. Lễ NẠP CÁT, sính lễ gồm 2 con bò, 2 con dê, 2 ché rượu. Sau đó là lễ ĐIỆN NHẠN (dâng ngỗng), sính lễ gồm 1 cái hộp có 5 cuộn chỉ ngũ sắc, 2 con ngỗng, 100 đồng tiền đúc. Lễ vật biểu trưng cho lòng chung thủy, hạnh phúc lứa đôi và con cháu đầy đàn. Lễ THÂN NGHINH, là đám cưới, lễ rước dâu. Lễ đón dâu, Phò Mã và Công chúa lạy vua 5 lạy, mời Công chúa lên kiệu. Phò Mã đi ngựa trước kiệu, các vị chủ hôn và người đi đưa Công chúa về nhà chồng đi sau. Về đến phủ Phò Mã, mời khách nhập yến tiệc và chọn giờ tốt cho hai người làm lễ hợp cẩn. Ngày sau, Phò Mã và Công chúa thăm bố chồng và mẹ chồng, đến lạy nhà thờ họ của chồng. Năm ngày sau, Phò Mã và Công Chúa mặc đại lễ đến trình diện trước vua, Chánh cung Hoàng hậu, rồi đến Tôn nhân phủ cám ơn vị Chủ hôn..

           Từ đó, chàng rể nhận chức PHÓ MÃ ĐÔ ÚY, hàm tam phẩm. Phò Mã không làm gì ngoài việc dự yến tiệc và cưỡi ngựa đi theo chầu vua, khi vua đi ra ngoài. Nếu sau này, công chúa mất, Phò Mã có thể dùng hàm tam phẩm của mình để lãnh một chức quan. Nếu công chúa không thể sinh được con, Phò Mã có thể cưới thêm một bà thiếp. Khi công chúa lấy chồng, mọi chi phí sinh hoạt trong cung của công chúa bị cắt. Do đó, đến đời Tự Đúc thứ 9 (1856), vua cho công chúa được lĩnh của hồi môn để sống riêng. Còn về Phò Mã, khi vua đã quyết định chọn, được cấp tiền mua nhà ở (gọi là phủ hay đệ), mua quần áo, đồ trang sức và đồ dùng cho cặp vợ chồng mới. Phò Mã được cấp một đội quân hầu cận 50 người, do một viên đội chỉ huy và do triều đình trả lương.

NVB

 (Xem tiếp kỳ 6)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net