QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Nguyễn Man Nhiên

Tác Phẩm

*Hò giã gạo - Dân ca Ninh Hòa

* Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa

Kỳ 1, Kỳ 2

 * Đi tìm di tích Dinh xưa

* Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

* Mùa xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương"

* Nếp xưa, Tết Việt

* Chiều chiều mây phủ Đá Bia

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chiều chiều mây phủ Đá Bia

 

          Trên đỉnh núi Đá Bia - Ảnh: Lê Văn Thuận

Từ thung lũng sông Ba (Phú Yên), đoạn cuối dãy Trường Sơn đâm ngang ra tận biển tạo nên nhánh núi Vọng Phu - Đèo Cả, một trong những nhánh lớn nhất của gờ núi cực Nam Trung bộ. Sừng sững nơi đầu sóng, ngọn Đá Bia cao vọi như cột mốc cuối cùng của mạch núi xa đổ xuống.

Cao 706m, nằm kề bên núi Đại Lãnh, núi Đá Bia là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Đây là vùng núi hoa cương hiểm trở. Con đường thiên lý bắc nam qua đây uốn lượn, khuất khúc hơn chục cây số. Xe đi giữa hai hẻm núi, bên này là vực biển sâu hun hút, bên kia là những vách đá cao ngất nghiêng mình trầm tư mặc tưởng. Về phía bắc, chân núi xốc tới như mũi tên nhọn tạo thành Mũi Nậy (Cap Varella). Tại đây có ngọn hải đăng về đêm luôn chiếu sáng để định vị cho tàu bè qua lại. Phía nam, chân núi choài ra thoai thoải như một bức trường thành nhô mình hẳn ra biển Đông che chắn cho cảng Vũng Rô, một lòng chảo khá sâu, nhiều cá. Trên đỉnh núi, giữa vô số những tảng đá lô nhô chồng chất, nổi lên một hòn đá xanh khổng lồ vuông vắn, đứng xa ngoài vài trăm dặm trông cao vút như tường đắp.

Trước đây, núi Đá Bia đã từng được người Pháp mệnh danh là “Ngón tay của Chúa”. Tên gọi độc đáo này xuất phát từ những thủy thủ đi tàu, khi họ từ biển khơi nhìn vào đèo Cả thì núi Đá Bia giống như hình ngón tay chỉ lên trời, và họ căn cứ vào “Ngón tay của Chúa” để định hướng cho tàu bè. Còn người địa phương thì ví von hòn đá khổng lồ này là chiếc linga* vĩ đại của đất Phú Yên. Không ít lần Đá Bia bị sét đánh nhưng chỉ làm cho màu đá càng trắng ra chứ không đổ.

Năm 1931, từ tòa Khâm Sứ Huế đổi lên Đà Lạt, nhân đi qua Phú Yên, nhà thơ Quách Tấn làm bài thơ tức cảnh, trong đó có câu: “Đá Bia tích cũ mây dù lấp, Qua lại còn nghe khách chuyện trò”. Tích cũ ấy lâu nay vẫn được nhân dân địa phương truyền tụng, rằng sau chiến thắng Đồ Bàn năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã đến đây, khắc bia, phân định lãnh thổ Việt - Chăm, nhân đó núi có tên là Thạch Bi Sơn, tức núi Đá Bia. Sự kiện này cũng được học giả Lê Quý Đôn ghi lại trong sách Phủ biên tạp lục viết năm 1776: “Núi Thạch Bi ở phủ Phú Yên là chỗ tiên triều phân địa giới với Chiêm Thành... Thánh tông đánh được Chiêm Thành, lấy đất đặt xứ Quảng Nam, lập dòng dõi vua Chiêm cũ, phong cho đất tự núi ấy về phía tây, tạc đỉnh núi lập bia làm địa giới, xoay lưng về phía bắc, mặt về phía nam, lâu ngày dấu chữ đã mòn mất”. Nhớ ơn vua, nhân dân đã lập đền thờ Ngài tại thôn Long Uyên (nay thuộc xã An Dân, huyện Tuy An). Năm Tân Tỵ (1881) niên hiệu Tự Đức thứ 34, quan Bố Chánh Phú Yên là Đinh Nho Quang có làm câu đối treo ở đền thờ: “Giang sơn khai thác hà niên, phụ lão tương truyền Hồng Đức sự; Trở đậu linh hương thử địa, thanh linh trường đối Thạch Bi cao” (Tạm dịch: Non sông mở đất năm nào, Phụ lão truyền nhau công Hồng Đức; Lễ kính hương thơm đất ấy, danh thiêng muôn thuở ngọn Đá Bia).

Mấy thế kỷ trôi qua, bao biến thiên dồn dập, chuyện xưa giờ đã hóa thân vào ca dao: “Sông Bàn Thạch quanh co uốn khúc, Núi Đá Bia cao vút tầng mây, Non kia nước nọ còn đây, Mà người non nước ngày nay phương nào?”. “Người non nước” ấy chính là vua Lê Thánh Tông. Truyền thuyết thì như vậy nhưng cũng còn nhiều điểm tồn nghi. Xem kỹ các tập thơ Chinh tây kỷ hành Minh Lương Cẩm Tú miêu tả phong cảnh đất nước dọc đường hành quân của ông vua thi sĩ này, không thấy có bài nào nói về núi Đá Bia. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có một đoạn ghi cuộc nam chinh của vua như sau: “Ngày mồng 1 tháng 3 năm Tân Mão hạ thành Chà Bàn, ngày mồng 2 đã xuống chiếu lui quân”. Việc vua Lê Thánh Tông có khắc chữ trên núi Đá Bia hay không, người đời sau vẫn xem đó là một giai thoại, đánh dấu bước ngoặt lịch sử của vùng đất Phú Yên. Năm 1937, tri phủ Tuy Hòa lúc ấy là ông Nguyễn Văn Thơ có phái người trèo lên núi tìm bút tích. Sau này rất nhiều đoàn du khảo của thanh niên, học sinh, giáo chức Phú Yên, rồi cán bộ bảo tồn bảo tàng tỉnh cũng đã dày công tìm kiếm khắp các tảng đá lớn trên đỉnh núi, nhưng tất cả đều không thấy gì! “Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”, dẫu sao đến núi Đá Bia mà được nghe, được biết những chuyện xưa về lịch sử nước nhà thì du khách hẳn được hưởng thêm biết bao nhiêu là hứng thú!

Nguyễn Man Nhiên

*linga: tượng thờ sinh thực khí của người Chăm cổ

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net