QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các bậc khoa nho huyện Ninh Hòa dưới triều Nguyễn

So với chiều dài lịch sử của nước ta, thì Khánh Hòa là một trong những tỉnh mới, do đó việc học phải chậm hơn các tỉnh phía Bắc.

Trong suốt thời kỳ phân tranh, các chúa Nguyễn ở phương Nam cũng đã  chăm lo việc học ở vùng đất mới này, đã mở nhiều khoa thi để chọn người vào bộ máy chính quyền. Bằng chứng là Văn miếu Bình Khang đã có từ rất sớm và đến năm 1792 chúa Nguyễn Ánh đã cho đặt 25 miếu phu để phục vụ ở Văn miếu này ( Xem thực lục chính biên quyển VI - Thế tổ Cao hoàng  đế)

Không biết người ở hai phủ Thái Khang và Diên Ninh lúc ấy có bao nhiêu sĩ tử ra thi, dĩ nhiên là rất ít vì các tầng lớp dân chúng vừa mới an cư, chắc chưa quan tâm đến việc lều chõng. Dẫu sao, người Khánh Hòa thuở ấy vẫn phải tổ chức cho con cháu họ học hành , khả dĩ duy trì được truyền thống của cha ông.

Mãi đến khi đất nước thật sự thái bình, năm Gia Long thứ 6 (1807), nhà vua mới tổ chức được khoa thi Hương đầu tiên để tiếp nối những trang sử khoa lục trong nền Nho học. Rồi đến năm Minh Mạng thứ 3, tức năm Nhâm Ngọ (1822) mới tổ chức được đại khoa. Từ ấy, việc học ở Khánh Hòa cũng đã bắt đầu khởi sắc và nở rộ ở triều vua Tự Đức. Kể từ khi vua Gia Long mở khoa thi Hương đầu tiên 1807, đến năm 1919, vua Khải Định mở khoa thi cuối cùng của Nho học, triều nhà Nguyễn đã mở được tất cả 47 khoa thi Hương gồm 11 ân khoa và 36 chính khoa, lấy được 5232 cử nhân. Riêng thi Hội và thi Đình có 39 khoa, lấy được 557 vị vào hàng Tam giáo. Ở Khánh Hòa chưa ai đỗ được vào đại khoa .

Số cử nhân ở Khánh Hòa cũng không nhiều, lý do không phải người Khánh Hòa không hiếu học, mà do hoàn cảnh khách quan nhiều hơn, trong đó trở ngại giao thông cũng không phải nhỏ. Từ Khánh Hòa ra Thừa Thiên hoặc vào Gia Định phải đi hàng tháng trời. Thi xong bốn trường, có khi kéo dài trên một tháng rưỡi. Công lao, tiền bạc, lương thực cho ngần ấy thời gian, thử hỏi mấy ai không ngại ngùng nếu gia đình và bản thân không có quyết tâm lớn. Sau này triều đình mở trường thi ở Bình Định, tuy đường có ngắn hơn, nhưng cũng còn lắm gian nan…

Hơn 350 năm lịch sử của một vùng đất, những tài liệu chính thống mà chúng tôi được khảo cứu có rất ít, do vậy chỉ trích dẫn được một số danh tính của các vị khoa nho ở Ninh Hòa mà chắc chắn là các vị ấy đã có sự gắn bó mật thiết với Văn chỉ.  Cũng xin nói thêm là chúng tôi chỉ nêu được tính danh của các vị Cử nhân của huyện Tân Định cũ, còn các vị khoa nho thuộc vùng đất huyện Quảng Phước mà trước đây đã nhập vào Ninh Hòa thì chúng tôi không nêu ra được với lý do đơn giản là chúng tôi không biết tên cũ của các thôn xã vùng này nên sợ nhầm lẫn (Xưa, phủ Ninh Hòa kiêm lý cả hai huyện Tân Định và Quảng Phước. Sau cắt vùng đất ở bờ Bắc sông Dinh ra tận dốc Đá Trắng xã Ninh An nhập vào huyện Tân Định đổi tên là huyện Ninh Hòa, vùng đất còn lại của huyện Quảng Phước cũ đổi tên thành huyện Vạn Ninh.)

Theo “Quốc triều hương khoa lục” của Cao Xuân Dục do nhà xuất bản TP HCM phát hành năm 1993 và   “Những ông nghè ông cống triều Nguyễn” do nhà xuất bản Văn hóa thông tin phát hành năm 1995, chúng tôi tìm được tên  chín vị cử nhân của huyện Tân định như sau :

1.  Người khai hoa là cụ Nguyễn Vĩnh Trinh - xã An Thạnh, Tân Định Khánh Hòa, thi Hương khoa Tân Tỵ - năm Minh Mạng thứ hai (1821) ở trường Gia Định, được bổ làm tri huyện.

2.  Nguyễn Đức Nhuận - người xã An ấp (tức Phong ấp) huyện Tân Định, thi hương khoa Quí mão - Thiệu Trị thứ ba (1843).Trong khoa này trường Gia Định lấy đậu 15 người.Về sau chuẩn cho người thi đậu cả ba kỳ là Tú tài Nguyễn Đức Nhuận vào hạng cử nhân cho đủ số (xem Quốc triều hương khoa lục trang 244 dòng 20). Theo các bản chấp bằng và địa bộ của xã An Ấp từ thời Gia Long đến Thành Thái mà làng Phong ấp còn giữ được đều thấy ghi tên cụ là Nguyễn Văn Nhuận sinh năm Mậu ngũ – 1798 -  tri  huyện huyện Long Xuyên thuộc Hà Tiên  bấy giờ. Bản chấp bằng năm Thành Thái thứ năm ghi tên cụ 96 tuổi, không rõ năm mất.

3.   Trần Văn Chất - người làng Thanh Châu huyện Tân Định, thi hương khoa Bính Ngọ năm Thiệu Trị thứ  sáu (1846) tại trường thi Gia Định.

4.   Phạm Đăng Xuân - người  xã An Phụng (nay là làng Nghi Phụng) huyện Tân Định, thi hương khoa Bính Ngọ, năm Thiệu Trị thứ  sáu (1846), đồng khoa với cụ Trần Văn Chất.

5.   Trần Thành - người xã An Ấp (nay là Phong Ấp) huyện Tân Định, thi hương khoa Mậu Thân năm Tự Đức nguyên niên -1848 - tại trường thi Gia định, được bổ làm tri huyện Mộ Đức Quảng Ngãi.

6.   Trần Văn Thông - người xã An Tập (nay là làng Đại Tập) huyện Tân Định, thi hương khoa Mậu Thân năm Tự Đức nguyên niên -1848 - tại trường thi Gia định, đồng khoa với cụ Trần Thành.

7.  Cao Đệ - người xã Mỹ Thạnh (nay là Mỹ Hiệp) Tân Định, thi hương khoa Tân Mão, năm Thành Thái thứ ba (1891) tại trường thi Bình Định.

8.  Phạm Tấn -  (sách không ghi tên xã_  là  con của  Phạm  Đăng Xuân , Nghi Phụng/ hàng thứ 4 ),  người huyện Tân Định, thi hương khoa Giáp Ngọ, năm Thành Thái thứ sáu (1894) tại trường Bình Định, thi đổ năm 48 tuổi.

9.  Nguyễn Xuân Thục - người làng Phước Đa, nay thuộc Thị trấn Ninh hòa. Ông làm quan trãi qua hai triều vua là Gia Long và Minh Mạng .Ông tài  kiêm văn võ, năm 16 tuổi  đã phò vua Gia Long  bôn ba nam bắc lập nhiều công trạng. Sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, ông được nhà vua giao cho toàn quyền sửa chữa và xây dựng lại Phú Xuân.

Những chức vụ quan trọng mà ông  đã  đảm trách dưới triều Gia Long như: Hình bộ hữu tham tri, Binh bộ hữu tham tri...được vua ban chiếu cho hai chữ Văn học và lần lượt trấn nhậm ở Ngại An, Hà Tỉnh, cai quản 7 hạt miền núi Diễn châu...Trấn lạc (1803); Biên hòa lãnh và hai phủ Phước Long, Phước Tuy thuộc Gia Định (1805). Năm 1816, nhà vua cử ông ra dẹp loạn ở Thanh Hóa.

Dưới triều Minh Mạng ông được vua triệu về kinh lần lượt làm phó sứ đi Sơn Lăng rồi chuyển về làm Hộ bộ hữu tham tri Hộ công nhị tào  sự vụ. Tháng tư năm 1823 ông được thăng chức Binh bộ Thượng thư sung về Thừa thiên phủ coi giữ sáu huyện Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vinh, Phú Lộc, Phong Điền, Quảng điền. Tháng bảy cùng năm ông được phong Lễ bộ Thượng thư. Ông cũng được vua Minh Mạng phong tặng Văn học và nhiều lần cử làm chủ khảo các khoa thi Hương và thi Hội.

Ông mất năm 1827 thọ 65 tuổi. Trong suốt cuộc đời ra làm quan giúp nước, an dân, Ông đã nắm giữ các chức vụ then chốt cả hai bên văn võ, nhưng ngày nay người ta không biết ông có những học vị nào, trong gia phả của nhà ông chỉ đề cập tới một lần là vào năm Mậu Dần (1787), lúc ông 24 tuổi, chúa Nguyễn Ánh mở khoa thi chọn nhân tài ra  giúp nước. Năm đó ông Thục có tên dự thi và chỉ đỗ tam trường. Nay, đọc lại bản sơ lược về thân thế đời ông chúng ta nhận thấy ông là người  thật liêm khiết và giữ trọn hiếu trung, xứng đáng là người xuất thân từ cửa Khổng.

Điều đương nhiên là có nhiều cử nhân ắt có nhiều tú tài, nhưng vì không có tài liệu để tra cứu. Chỉ biết được có một Tú tài Phạm Dư là vì ông có đứng tên trong những đơn khế ruộng đất Văn chỉ, nhưng chưa biết ông là người xã nào trong huyện Tân Định .

Ngày nay, tân học mở mang đều khắp cả nước, sự giao thông thuận lợi, người Ninh Hòa chúng ta có đủ điều kiện để chứng tỏ lòng hiếu học và năng lực, trí tuệ …  Rất nhiều vị đã bảo vệ thành công luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ trong nước, kể cả nước ngoài , về đủ khắp các lãnh vực khoa học, kỹ thuật, y học, kinh tế, văn chương … làm nức lòng cho học giới. Quả là đáng tự hào !...

Ninh Hòa, tháng 7 năm 2008

Thầy TRẦN ĐÌNH KHÔI

bổ sung, chú thích :

I. Sách tham khảo :

+. Những Ông Nghè, Ông Cống triều Nguyễn . (NXB  VHNT _ 1995)

+. Các bảng chấp bằng và địa bộ của xã An Ấp triều vua Gia Long .. Tự Đức.. làng Phong Ấp còn giữ .

II.. Cụ Nguyễn Văn Nhuận :

Người xã An Ấp, Tân Định, Khánh Hòa – lúc hàn vi đã lận đận chốn trường thi, mặc dù Cụ có thực tài. Nhân vì bức xúc với cụ Phiên ty Huỳnh Thế Khánh –người cùng xóm- ở chốn đình trung. Cụ bỏ làng ra đi, đến năm Đinh Mùi , Cụ đã thi đỗ cử nhân như đã nói trên.

Trở lại quê nhà, Cụ Nhuận đã ghé nhà cụ Huỳnh Thế Khánh thăm và cảm ơn sự giao tiếp ngày xưa đã giúp Cụ lập chí , học tập thành công. Sau đó, Cụ mới đến nhiệm sở nhận chức Huấn đạo tỉnh Quãng Nam. Về sau thăng chức Tri huyện Long Xuyên, phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên.        

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net