QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẾN PHONG KIỀU VÀ TIẾNG CHUÔNG CHÙA HÀN SAN

 HÌNH PHƯỚC LIÊN

 [ Đọc và suy ngẫm

 

          Như nhiều người Việt Nam và Phương Đông, tôi rất yêu bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của nhà thơ thời Thịnh Đường -Trương Kế và vẫn thường đọc lại để suy ngẫm:

                              “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,

                                Giang phong ngư hỏa đối sầu miên;

                                Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự,

                            Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.”

            Chuyện kể rằng, nhà thơ Trương Kế đời Đường mang nặng nỗi buồn của kẻ hỏng thi trên đường về lại quê nhà đã qua đây và làm nên tác phẩm này. Bài thơ có cái sầu man mác hòa quyện với cảnh sắc u mỹ của đêm thu, như nhạc như tranh cùng hiện ra trước mắt: một mảnh trăng cong, con thuyền lữ khách; cây phong trở giấc, ánh lửa xuồng câu cùng với tiếng quạ kêu sương, chuông chùa đồng vọng…đã tạo cho bài thơ thật sống động trong sự hài hòa giữa sáng và tối, tĩnh và động, âm thanh và màu sắc. Toàn bài thơ không hề có lấy một chữ ”kiều” nhưng hình như tất cả cảnh sắc, âm thanh của đêm thu đều xoay quanh chiếc cầu  mà nhà thơ ngầm nhắc đến. “Phong Kiều Dạ Bạc” của Trương Kế  đã trở thành bản “Thiên cổ tuyệt xướng” và “Bến Phong Kiều” cũng từ bài thơ này mà nổi danh kim cổ như nhà thơ nổi tiếng Nhà Minh - Cao Khải[1336-1374] đã từng cảm khái:

                         “ Họa kiều tam bách ánh giang thành,

                            Thi lý Phong Kiều độc hữu danh;

                              Kỷ độ kinh qua ức Trương Kế,

                            Ô đề, nguyệt lạc hựu chung thanh.”

                                  [ Phong Kiều thi-Cao Khải]

             Nghĩa là:

                          “ Ba trăm cây cầu như tranh vẽ ở Tô Châu cùng soi bóng nước,

                             Trong thơ duy nhất Phong Kiều được có tên;

                             Bao lần qua đây lại nhớ về Trương Kế,

                             Quạ kêu,  trăng rụng…tiếng chuông chùa.” 

             Ngày nay  Hàn San Tự và Phong Kiều đã quá nổi danh không những ở Tô Châu [ tức Cô Tô ] mà cả khắp thế giới, ai cũng muốn một lần được đến thăm nơi mà hơn ngàn  năm trước nhà thơ Trương Kế đã ghé và đề thơ.

             Thật ra Phong Kiều chỉ là một chiếc cầu bình thường như hàng trăm chiếc cầu khác của miền sông nước Giang Nam. Nằm ở một trấn nhỏ ngã ba sông cách Tô Châu chừng 7km về phía tây bắc. Phong Kiều là chiếc cầu đá một nhịp được xây theo cấu trúc Củng Kiều có dáng cong đều hình cánh cung đặt úp.Cầu dài 39,6m, rộng 4,2m, cao 7m, họng cầu hình bán nguyệt có đường kính là 10m.Với dáng thanh thanh Phong Kiều như chiếc cầu vồng bắt ngang nhánh rẽ của Đại Vận Hà nối với một cù lao rợp bóng cây xanh. Cách đó không xa là ngôi chùa cổ Hàn San vang danh bốn bể.

             Phong Kiều được xây dựng vào Đời Đường, cách nay đã hơn 1200 năm. Qua tang thương, cầu cũng đã được nhiều lần trùng tu, tôn tạo và lần cuối cùng vào năm thứ 6 đời vua  Đồng Trị nhà Thanh [1867]. Sử cũ ghi rằng, nơi đây ngày xưa là điểm giao nhau của ghe thuyền xuôi nam ngược bắc và cũng là nơi đặt trạm gác của triều đình. Theo quy định ,cứ đêm về thì cửa cầu được đóng lại và như vậy nơi đây bỗng trở thành bến đỗ lý tưởng của khách sông hồ, cây cầu vì vậy có tên là Phong Kiều [phong có nghĩa là đóng], về sau do bài thơ của Trương Kế mà đổi thành Phong Kiều [phong có nghĩa là cây phong] và định danh cho đến ngày nay. Không biết khi xưa lúc đặt tên cho bài thơ thi sỹ đã nghĩ gì, nhưng cái sự đồng âm dị nghĩa kia đã tạo cho Phong Kiều một cuộc đời mới, và cái lệ đóng cửa đêm ở bến sông này có phải chăng cũng mất đi cùng cái tên của nó?

             Nếu Phong Kiều đã từ bài thơ của Trương Kế mà định danh thì Hàn San Tự lại là cội nguồn để nhà thơ viết nên bài “Phong Kiều Dạ Bạc”. Tiếng chuông nửa đêm của ngôi chùa cổ vọng đến bến sông đã làm lay động trái tim của người nghệ sỹ rồi hóa thành tiếng thơ lay động tâm hồn người yêu thơ đến mãi ngàn sau và giữ cho hồn chùa Hàn San mãi tưoi xanh cùng năm tháng, tạo thành vô vàn điều để đời sau luận bàn, giải thích về mối nhân duyên kỳ lạ giữa cái Hữu và cái Vô này. Nhưng xem ra trong sự trùng trùng duyên khởi đó làm sao nói rõ được đâu thực, đâu hư; đâu  nhân, đâu quả[?!]

               Chùa Hàn San là một trong những ngôi chùa cổ và nổi tiếng nhất Trung Hoa được xây dựng vào thời nhà Lương cách đây chừng một ngàn bốn trăm năm lẻ. Lúc đầu chùa có tên “Diệu Lợi Phổ Minh Tháp Viện,”cho đến khi hai vị cao tăng nổi tiếng thời Đường tên là Hàn San Tử và Thập Đắc từ núi Thiên Đài về trụ trì thì được đổi tên thành Hàn San Tự.

              Hàn San Tử là vị cao tăng rất hay thơ và cuộc đời ông cũng được dân gian truyền tụng bằng nhiều giai thoại gần như thánh hóa. Người ta còn tin rằng hai ông chính là Văn Thù và Phổ Hiền tái thế. Hiện trong chùa vẫn còn lưu giữ được 36 bài thơ của Người cùng những tranh tượng về Hàn San và Thập Đắc. Trải bao phong sương tuyết nguyệt chùa cũng đã 5 lần [ có sách ghi 7 lần] trùng tu, kiến tạo và lần cuối cùng vào những năm giữa của đời Quang Tự nhà Thanh. Trong chùa hiện còn rất nhiều di sản quý giá như: Tấm bia đá khắc bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc”; tượng Hàn San -Thập Đắc; Tháp cổ Phổ Minh…và lầu chuông - nơi lưu giữ hồn thơ Trương Kế hay là nơi được hồn thơ Trương Kế giữ gìn?

             Du khách thăm chùa thường tìm đến lầu chuông để tận mắt nhìn “Dạ Bán Chung”trong Phong Kiều Dạ Bạc. Đáng tiếc là chiếc chuông được đúc vào thời Sơ Đường đã không còn giữ được. Đến thời Gia Tĩnh nhà Minh chùa được trùng tu và xây thêm lầu chuông mới, cùng lúc đúc lại chiếc đại hồng chung rất lớn, về sau chuông bị lưu lạc sang đất Nhật. Nhà Duy Tân Trung Quốc Khang Hữư Vi đã từng chua xót:

                               “Chung thanh dĩ độ hải vân đông,

                                 Lãnh tận Hàn San cổ tự Phong.”

            Nghĩa là:

                               “Tiếng chuông vọng từ  xa tít muôn trùng mây nước biển đông,

                                 Làm lạnh buốt cội phong già nơi Hàn San Tự.”

            Ngày nay, khi đến Hàn San Tự ta sẽ thấy treo tại lầu chuông một chiếc đại hồng chung cao quá đầu người, chu vi phải ba người ôm  mới kín, thật xứng với tên gọi là “đại hồng chung”. Hỏi ra mới biết đây chỉ là chiếc chuông được phục chế vào năm Quang Tự thứ 30 đời nhà Thanh theo mẫu của chiếc chuông đúc từ đời Gia Tĩnh. Cho dầu vậy thì vẫn không làm nhạt đi lòng ngưỡng mộ của con người với tiếng chuông Hàn San Tự. Mới hay,cái vững bền thường khi vẫn là cái vô hình[?]

            Là nói vậy thôi, chứ nếu không có tiếng chuông Hàn San Tự thì làm gì có Phong Kiều Dạ Bạc, để ngàn sau còn nhớ hoài đến nhà thơ Trương Kế? Vả lại,cái mối quan hệ Sắc-Không này đâu chỉ nói một đôi lời là đủ? Có điều, ngày nay cứ vào đêm trừ tịch nhiều người Trung Quốc và cả khách nước ngoài đã tìm đến Hàn San Tự và thị trấn Phong Kiều ở Tô Châu để đón nghe tiếng chuông với lòng thành tín.Họ tin rằng khi nghe xong 108 tiếng chuông thì mọi phiền não của một năm sẽ được xóa sạch.Và, nghe đâu ở Nhật Bản học sinh tiểu học hầu như đều thuộc lòng bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc. Lại nghe, tại Công Viên Quốc Gia Thanh Mai Sơn người Nhật còn cho xây một ngôi chùa theo mẫu hình Hàn San Tự, trong chùa còn có cả lầu chuông và tấm bia đá khắc bài thơ của Trương Kế nữa. Cái vòng Sắc- Không thế là được lặp lại ở mức cao hơn và thật khó giải thích. Mà thực ra có cần gì phải giải thích, bởi vì:”Nhân duyên vô sở pháp” kia mà[!?] Thôi thì cứ hãy hồn nhiên như cuộc đời vốn có…

             Sẽ còn biết bao điều để nói về Bến Phong Kiều, về Hàn San Tự, nhưng nỗi niềm thì cũng chỉ nên dừng lại ở nỗi niềm. Đã gần 10 năm trôi qua từ lần cưỡi ngựa xem hoa Hàn San Tự, lòng tôi vẫn mong canh cánh một lần trở lại, đôi khi còn thấy trong mơ. Mà đâu phải chỉ có tôi, Nhà thơ Vương Sỹ Trinh  đời Thanh khi xưa cũng từng mơ ước thế:

                               “…Thập niên cựu ước Giang Nam mộng,

                                      Độc thính Hàn San bán dạ chung.”

              Lời hẹn với Giang Nam 10 năm qua vẫn chỉ là giấc mộng, nhưng mơ ước được một lần nghe lại tiếng chuông chùa Hàn San vào lúc nửa đêm mong sao không là giấc mơ hoài!  

HPL Nha trang, tháng 5/2008

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net