QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 8)

 

PHẦN 2: TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC CƯỚI

HÔN NHÂN THỜI HÙNG VƯƠNG : Thời Hùng Vương – Văn Lang, việc hôn nhân, tục cưới xin đã được hình thành. Việc cưới xin có lễ DẠM, lễ CƯỚI, có SÍNH LỄ (Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh) (Xem THÁCH CƯỚI). Khi đón dâu, nhà trai phải đưa một gói đất và khi đưa dâu, mọi người cùng ném đất theo để tiễn. Sách Lĩnh Nam chích quái (sđd) viết: “ Việc hôn thú lấy gói đất làm đầu, sau đó mới giết trâu để làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân …”. Thời kỳ này đã xuất hiện quan hệ hôn nhân một vợ một chồng và con gái về nhà chồng như các truyện Sơn Tinh – Ngọc Hoa, Chử Đồng Tử – Tiên Dung đã phản ánh. Sau khi về nhà chồng trong lễ cưới, cô dâu lại trở về nhà mình từ vài tháng đến vài năm rồi mới về ở hẵn nhà chồng. Trong thời kỳ này, người chồng qua lại nhà vợ. Tục này còn sót lại sau này, sau ngày cưới hai hay bốn ngày, người vợ về nhà mình cùng với chồng để lạy bái ông bà, tổ tiên nhà vợ (Xem NHỊ HỶ, TỨ HỶ).

HÔN NHÂN TRÁI PHÁP LUẬT : Cuộc hôn nhân mà khi tiến hành kết hôn, một hoặc cả hai bên nam nữ đã vi phạm một trong các điều kiện kết hôn được Luật Hôn nhân và Gia đình quy định. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp chế tài của Luật (Xem HÔN NHÂN VÔ HIỆU LỰC)

HÔN NHÂN VÔ HIỆU LỰC : Xưa, mặc dù hôn lễ đã cử hành, nhưng vẫn coi là không có hiệu lực trong các trường hợp sau:

* MẠO HÔN hay TRÁO HÔN là đánh tráo người này vào người khác trong việc cưới xin. Luật xưa ngăn cấm điều này, ai vi phạm sẽ bị tội.

* Đem vợ mình cầm cố cho người khác, làm vợ người khác, hay giả làm chị, em gái của mình để gả cho người khác. Luật xưa ngăn cấm điều này, ai vi phạm sẽ bị tội.

* Đem VỢ LẼ làm VỢ CẢ hay có vợ cả rồi lại cưới người khác về làm vợ cả. Luật xưa ngăn cấm điều này, ai vi phạm sẽ bị tội.

* Cử hành hôn lễ trong lúc có đại tang (tang cha hoặc mẹ). Luật triều Lê có quy định: Người nào đang có tang cha mẹ hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cưới vợ thì xử tội đồ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử tội biếm và đôi vợ chồng mới cưới phải chia lìa (Quốc Triều hình luật, sđd, trang 129). Nếu người vợ hết tang chồng mà muốn thủ tiết, ai đó (không phải cha mẹ) ép gả cho người khác thì cuộc HÔN NHÂN VÔ HIỆU LỰC, người ép đó phải bị tội.

* Cử hành hôn lễ trong khi ông bà cha mẹ bị giam cầm tù tội, theo luật triều Lê bị xử tội biếm và đôi vợ chồng phải ly dị. Nếu ông bà cha mẹ có cho phép thì chỉ được làm lễ thành hôn mà không được bày ra cỗ bàn ăn uống, trái luật thì xử tội biếm (trang 129). Luật nhà Nguyễn cũng có quy định phạt tội những ai vi phạm.

* Bà con họ hàng lấy nhau (Xem ĐỒNG TÁNH BẤt HÔN)

* Lấy chức quyền ép người khác lấy mình.

* Lấy đàn bà có tội phải đi trốn.

* Thầy tu lấy vợ.

* Một phụ nữ lấy hai chồng.

(Xem LUẬT HỘ CỦA NHÀ NGUYỄN và NHÀ LÊ VỀ HÔN NHÂN)

Luật Hôn nhân và Gia Đình (năm 2000) của ta cũng có những điều quy định những trường hợp cấm kết hôn : 1/ Người đang có vợ hoặc có chồng. 2/Người mất năng lực hành vi dân sự. 3/Giữa những người cùng giòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. 4/ Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. 5/ Giữa những người cùng giới tính (Chương II, Điều 10)

HÔN PHỐI : như HÔN NHÂN.

HÔN PHU : Người con trai đã ĐÍNH HÔN làm chồng, nhưng chưa cưới.

HÔN SỰ : Những thủ tục lễ nghi trong việc cưới.

HÔN THÊ : Người con gái đã ĐÍNH HÔN làm vợ, nhưng chưa cưới.

HÔN THÚ : (Xem GIÁ THÚ CHỨNG THƯ)

HÔN YẾN : Tiệc đãi hai họ trong lễ cưới.

HỢP CẨN : Lấy quả bầu làm chén uống rượu để dùng trong lễ cưới gọi là chén CẨN. Tục gọi lễ vợ chồng làm lễ chuốc rượu với nhau là HỢP CẨN là do nghĩa đó (theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, sđd).

HỢP DUYÊN : Hòa hợp tình duyên, lấy nhau.

HỨA HÔN : Lời giao ước việc cưới gả. Có gia đình HỨA HÔN với nhau khi hai trẻ còn trong bụng mẹ, gọi là PHÚC HÔN.

K

KÉN CHỌN VỢ CHỒNG : Việc kén vợ kén chồng, xưa, do cha mẹ định đoạt, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, áo mặc không qua khỏi đầu. Cha mẹ cho rằng, trai gái lấy nhau khi tuổi đời còn nhỏ, chưa đủ kinh nghiệm và khôn ngoan để kén chọn người sống trăm năm với mình, nên cha mẹ phải lo. Việc kén chọn vợ hay chồng thường dựa trên quan điểm lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống, môn đăng hộ đối, cái nết đánh chết cái đẹp, đẹp đôi vừa lứa …., đôi khi không cần môn đăng hộ đối, gia đình giàu có mà cần kén chọn người tài, gia đình đạo đức, con gái đảm đang, trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân … Có gia đình ÉP DUYÊN con, nhưng cũng có cha mẹ tuy có kén chọn, nhưng để tự ý con chọn, vì ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên. (Xem thêm HÔN NHÂN). Trong việc kén chọn, người xưa cũng coi trọng việc COI TUỔI, SO TUỔI trai gái xem có hợp nhau hay xung khắc nhau không (Xem KIÊNG KỴ TRONG HÔN NHÂN)

KÉN RỂ : Nói tới hôn nhân, thời xưa, phần nhiều do nhà trai chủ động và nhà gái sau khi cân nhắc, đi đến quyết định cuối cùng. Có trường hợp nhà gái chủ động việc KÉN RỂ. Nhà gái công khai hay bí mật lựa chọn chàng rể, trong trường hợp này, nhà gái bao giờ cũng chọn những chàng trai có địa vị xã hội và điều kiện kinh tế thấp kém hơn gia đình mình, như thế mới có hy vọng gả được con gái của mình. Sau đó, nhà gái chủ động yêu cầu chuyện hôn nhân và nhà trai quyết định. Có khi, người con gái tự chọn cho mình người chồng, nhưng trái với gia đình, chàng trai được lựa chọn phải có tài năng, có gia thế. Tuy nhiên, việc kén rể không phải lúc nào cũng thành công, vì nhà trai không phải trường hợp nào cũng đồng ý vì có những lý do nào đó.

KẾT DUYÊN : Kết làm nhân duyên, làm vợ chồng với nhau.

KẾT HÔN : Trai gái lấy nhau làm vợ chồng, có cưới hỏi theo luật pháp quy định.

KẾT HÔN GIẢ TẠO : Trường hợp kết hôn nhưng hai bên nam nữ không nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và tạo lập gia đình theo luật pháp quy định. Việc kết hôn này vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, có thể bị xử lý hành chánh hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

KẾT TÓC : Dân gian có câu kết tóc xe duyên, nên KẾT TÓC và HÔN NHÂN có những mối liên hệ với nhau. Người xưa có 3 cách giải thích về tục KẾT TÓC, từ Hán Việt là KẾT PHÁT, tóm tắt như sau:

* KẾT TÓC mang ý nghĩa BÚI TÓC, nam nữ lúc nhỏ đều bỏ xõa tóc, khi đến tuổi trưởng thành thì búi tóc lên. Nam 20 tuổi đội mũ, nữ 15 tuổi cài thoa, có thể hứa hôn được. Hai người kết hôn nhau gọi là KẾT PHÁT PHU THÊ, búi tóc lên làm vợ chồng.

* Người con gái đã ĐÍNH HÔN, dùng dây nhỏ buộc tóc lên, chứng tỏ mình đã có HÔN PHU. Ngày tổ chức HÔN LỄ, chàng rể cởi bỏ dây đó. Nghi thức này cũng được gọi là KẾT TÓC.

* Khi mới KẾT HÔN, nam nữ cắt một ít tóc của mình, bện lại làm một, xem đó là tín vật tình cảm vợ chồng.

KHĂN VOAN CHE MẶT CÔ DÂU : Tục cưới Tây Phương, cô dâu choàng khăn voan che lấy mặt của mình, với mục đích tránh những cặp mắt dòm ngó của khách dự đám cưới. Ngày nay, ở ta, có cô dâu cũng choàng khăn voan che mặt, nhưng đó chỉ là để làm đẹp.

KHÓC TRONG HÔN LỄ : Ngày cưới là ngày vui, ngày đại hỷ, tràn ngập tiếng cười, sự hoan lạc nhưng sao lại có tiếng khóc ? Có người cho rằng khóc trong ngày cưới bắt nguồn từ tục cướp hôn từ thuở xa xưa. Người con gái khóc vì hoảng sợ trước vũ lực và sự hung bạo. Khóc chính là sự phản kháng duy nhất của cô dâu. Sau này, tục cướp hôn không còn nữa, nhưng tiếng khóc vẫn còn. Vì cướp hôn không còn, nhưng sự ÉP DUYÊN vẫn còn, người con gái chưa được quyền tự do trong hôn nhân. Khóc là biểu lộ sự phẫn uất của người phụ nữ không lấy được người mình yêu mà phải KẾT DUYÊN với người mình không yêu. Khóc vì MAI MỐI không đúng chỗ. Nhưng có trường hợp, không ép duyên, nhưng cô dâu vẫn khóc, khóc vì sẽ xa cha mẹ, anh chị em, những người thân thích ruột thịt đã cùng sống với nhau lâu dài với tình cảm sâu đậm. Nay, người con gái phải xa lìa, về nhà chồng, về nơi xa lạ, về với nhiệm vụ làm dâu đầy khó khăn, nặng nhọc. Khấp như thiếu nữ vu quy nhật là thế. Bà mẹ cũng khóc vì xa con gái, lo lắng con gái mình làm dâu có được suông sẻ không.

KIÊNG KỴ TRONG HÔN NHÂN : Việc hôn nhân là việc hệ trọng, có ý nghĩa quyết định số phân của một đời người của đôi vợ chồng và con cái sau này. Do đó, ít nhiều, gia đình cũng thực hiện một số việc kiêng cử trong hôn nhân mà người xưa đã truyền lại. Xưa, trong hôn nhân, có những kiêng kỵ sau, nếu không muốn gặp tai hoạ thì phải tránh hay thực hiện một số điều, hay kiêng cử, không thực hiện một số điều:

* Việc chọn vợ, chọn chồng: kỵ lấy vợ gia đình sãi mõ, gia đình ngụ cư, người bị bệnh hủi, bệnh lao, có dị tật, hay ghen tuông, tính nết lăng loàn, ăn cắp vặt, hành nghề cô đầu, con hoang, con của kẻ trộm cắp, lừa đảo, tù tội, …

* Cưới vợ gả chồng phải chọn kỹ tuổi, phải SO TUỔI, COI TUỔI. Đám cưới coi tuổi đàn bà, cất nhà coi tuổi đàn ông. Người ta coi tuổi người vợ, người chồng có khắc nhau không, có khắc bố mẹ chồng, bố mẹ vợ không… nhất là sự khắc nhau giữa đôi vợ chồng. Người xưa cho rằng có 6 cặp tuổi xung khắc không nên lấy nhau, gọi Lục xung : Dần Thân, Tỵ Hợi, Mão Dậu, Tý Ngọ, Thìn Tuất, Sửu Mùi. Đôi khi tóm làm 4, gọi Tứ hành xung : Dần Thân Tỵ Hợi, Mão Dậu Tý Ngọ, Thìn Tuất Sửu Mùi. Trái lại có 3 cặp tuổi lấy nhau rất tốt, gọi là Tam hợp : Dần Ngọ Tuất, Tỵ Dậu Sửu, Thân Tý Thìn, Hợi Mão Mùi. Có người căn cứ vào biểu tượng 12 con giáp, cho rằng, tuổi Hợi không lấy tuổi Dần (sợ cọp ăn thịt heo), tuổi Tý không lấy tuổi Mão (sợ mèo ăn thịt chuột), tuổi Tuất không lấy tuổi Mão (mèo chó cắn nhau) … Đặc biệt tuổi Dần ai cũng sợ, cầm tinh ông ba mươi, nhất là ở người con gái, thuộc loại cao số, duyên phận thường dở dang. Ngoài coi tuổi, người xưa còn coi âm dương có hòa hợp, ngũ hành có xung khắc. Có gia đình kỹ hơn, còn coi tử vi của hai tuổi, hay bốc dịch, gieo tiền bốc quẻ để tiên đoán cuộc hôn nhân tốt hay xấu. Người xưa còn cho rằng gái hơn hai, trai hơn một (hơn tuổi), hay bằng tuổi, lủi thủi làm ăn, như thế cũng tốt.

Từ việc coi tuổi, so tuổi, từ đó quy định ngày, giờ, tháng năm tiến hành các nghi lễ trong hôn nhân. Tục ngữ ta có câu Đám cưới chọn ngày cũng như đi cày chọn hướng, làm việc gì cũng phải tính toán cho tiện lợi. Người xưa thường kiêng tổ chức cưới xin các ngày mang tên thọ tử, sát chủ, tam nương …, về tháng, kỵ tháng 7 âm lịch, tháng có Ngưu Lang Chức Nữ chia ly. Về năm, kỵ năm tuổi (tuổi Tỵ, kỵ lấy nhau năm Tỵ). Ngày giờ phải chọn đúng giờ HOÀNG ĐẠO, là giờ rất tốt để tiến hành các nghi lễ. Ngày tổ chức cưới, tránh ngày cận Tết, vì cho rằng năm cùn tháng kiệt không được tốt. Nhưng thực tế, những ngày cận Tết, gia đình chuẩn bị Tết, lo chạp mả, tổ chức đám rất khó khăn. Còn tổ chức đám cưới về mùa xuân tránh những ngày Dậu, mùa hè tránh những ngày Mão, mùa thu tránh những ngày Thân, mùa đông tránh những ngày Dần.

Nếu coi tuổi không hợp, nhưng cuối cùng vẫn tổ chức lễ cưới, thì người xưa tổ chức lễ cưới rất đơn giản, không cho lạy ông bà, trong rước dâu, cô dâu đi một mình sau đám rước. Đến nhà trai, bà mẹ chồng đón cô dâu ở cửa sau, vào nhà, ra mắt hai họ rồi vào phòng tân hôn ngay.

* Việc chọn mai mối, chủ hôn, người đốt đèn, phù dâu, phù rể, người trải chiếu giường phòng tân hôn, người đi đưa, đón dâu: kỵ chọn người trong gia đình không hạnh phúc, sinh con một bề (sinh toàn con gái hay con trai), những người đàn bà, đàn ông góa chồng, góa vợ. Số người đưa, đón dâu tránh số lẻ, phải là số chẵn.

* Trong quá trình RƯỚC DÂU, nhà trai thường bị CHĂNG DÂY, ĐÓNG CỔNG, LẬP HƯƠNG ÁN … kỵ cắt dây, xô cổng, phá hương án … đó là những điều không lành trong lễ cưới, có những hậu quả xấu cho vợ chồng mai sau.

* Trong đám cưới, kỵ nói những điều có ý nghĩa biệt ly, chia cách …, kỵ cãi cọ, tranh luận, kỵ làm đổ bể chén ly bát và còn tránh nói từ bể, vỡ, ly, tách, chia, cắt, chết … Ngay việc chưng trái cây trên bàn thờ tổ tiên cũng tránh quả cam, để tránh tiếng cam chịu, cam khổ

* Khi làm lễ gia tiên, đèn sáp kiêng tắt nửa chừng, hay đèn cháy leo heo, hay ngọn này cháy to hơn ngọn kia … (Xem ĐỐT ĐÈN). Nếu phần tim đèn ló dài ra, kỵ lấy kéo cắt, mà lấy tay ngắt, kỵ từ cắt.

(Xem tiếp kỳ 9)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net