QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Kỳ 1

Kỳ 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ảnh hưởng của thơ Đường đối với thơ lãng mạn Việt Nam 1932-1945

NGUYỄN CÔNG THANH DUNG

(Kỳ 1)

Nguyễn Công Thanh Dung, sinh năm 1984, quê quán Thạnh Mỹ, Ninh Quang, Ninh Hòa, Khánh Hòa. Cử nhân Ngữ Văn. Hiện là biên tập viên Nhà xuất bản. Bài viết này được báo cáo trước Hội nghị Khoa học Ngữ văn các trường ĐH các tỉnh phía Nam tháng 3 năm 2005 và được đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ số 08 (84) - 2005

I. NHÌN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIAO LƯU, ẢNH HƯỞNG:

Về ảnh hưởng của thơ ca đời Đường đối với thơ ca Việt Nam nói chung, xưa nay ít nhiều đã được các nhà nghiên cứu văn chương đề cập đến. Trong phạm vi bài viết nhỏ này, tôi chỉ xin mạn phép trình bày vài nét ảnh hưởng của một thời đại thi ca nổi tiếng thế giới (thơ Đường 618 – 907) đối với thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945, và chỉ đề cập sự ảnh hưởng của nó ở vài nhà thơ nổi tiếng mà thôi.         

Các nhà nghiên cứu đã thừa nhận do điều kiện hoàn cảnh địa lý - lịch sử của hai nước mà hai dân tộc Việt –Trung từ lâu đã có mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng, tiếp biến văn hóa (acculturation) rất sâu sắc. Riêng trong lĩnh vực văn học, văn học Việt Nam có thể nói là chịu ảnh hưởng khá nặng nề của văn hóa Hán và văn học Trung Quốc không chỉ trong khoảng nghìn năm của chế độ phong kiến Việt Nam mà ngay khi văn hóa, văn minh, văn học phương Tây với những tư tưởng và ý thức hệ của nó được du nhập vào Việt Nam, được các nhà Nho có tư tưởng “Duy tân” và các trí thức “Tây học” Việt Nam nhiệt tình đón nhận thì lúc này văn hóa, văn học Trung Quốc , trong đó có thơ Đường vẫn còn đủ sức để ảnh hưởng, chi phối, tác động đến, kể cả hôm nay cũng vậy. Văn học Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 cũng không nằm ngoài quy luật trên.

Nói đến thơ Trung Quốc, chủ yếu là nói đến thơ Đường. Đó là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Nhưng cần lưu ý là không phải các bài thơ của các tác giả đời Đường cũng đều sáng tác theo thể Đường luật. Vì thế cần phân biệt hai khái niệm thơ Đường và thơ Đường luật. Thơ Đường luật là khái niệm để gọi các bài thơ được sáng tác theo  các thể thơ với những quy định niêm luật vần đối chặt chẽ mà những quy định này được đặt ra vào đời Đường (tứ tuyệt, bát cú, bài luật theo lối ngũ ngôn hoặc thất ngôn); còn thơ Đường là khái niệm để chỉ các bài thơ của các tác giả sống, sáng tác trong khoảng gần 300 năm dưới thời nhà Đường (618 – 907) và những bài thơ đó được sáng tác theo  thể Cổ phong (cổ thể) hay thể Đường luật (cận thể, kim thể) hoặc Từ khúc và Nhạc phủ. Trong khoảng 48.900 bài thơ Đường ấy, các nhà nghiên cứu lâu nay thường chia ra làm 4 phái chính: Phái biên tái với đề tài chủ yếu là cuộc sống, nỗi niềm người lính nơi biên ải và cõi lòng người chinh phụ nơi quê nhà với phòng không chiếc bóng. Những đại biểu xuất sắc của phái này có thể kể ra như Vương Hàn, Vương Chi Hoán, Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Tham…; Phái điền viên với đề tài chủ yếu là cuộc sống ẩn dật nơi thôn dã hay nơi thâm sơn cùng cốc  nhàn dật, thanh đạm mà những điại biểu xuất sắc là ẩn sĩ phong lưu Mạnh Hạo Nhiên, vị thi Phật Vương Duy…; Phái lãng mạn với những vần thơ phóng khoáng hồn nhiên bay bổng, những ước mơ cháy bỏng táo bạo để đối lập lại hiện thực xã hội đen tối, bất như ý mà đại biểu xuất sắc là vị thi Tiên Lý Bạch…; Phái hiện thực với đề tài chủ yếu là thể hiện hiện thực cuộc sống khốn cùng, cuộ đời đầy dẫy những bất công ngang trái, nỗi niềm của con người trước tai ương chiến tranh v.v.. mà những đại biểu xuất sắc là vị thi Thánh Đỗ Phủ, nhà thơ hiện thực vĩ đại Bạch Cư Dị… và còn vài trường phái thơ khác tuy có thành tựu nhưng ít nổi tiếng.

Trên đây là đôi nét có tính khái quát nhất về thơ Đường. Còn thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1932 – 1945 thì sao?

Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng, bước sang thế kỷ XX, văn học Việt Nam chuyển sang phạm trù khác, tư duy nghệ thuật khác, mà phạm trù văn học và tư duy nghệ thuật này hoàn toàn khác với văn học trước đó: văn học trung đại. Đây là thời kỳ diễn ra quá trình hiện đại hoá văn học.  Quá trình này diễn ra chưa đầy nửa thế kỷ nhưng lại có một nhịp độ phát triển mau lẹ, nói như  nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã nói trong Nhà văn hiện đại là “ở nước ta, một năm đã có thể như  ba mươi năm của người”. Nếu ở chặng đường từ đầu thế kỷ XX đến 1930, 1932 là chặng đường đầu tiên có nhiệm vụ đặt nền cho công cuộc hiện đại hoá văn học mà GS. Trần Đình Hượu gọi đây là văn học giai đoạn giao thời, thì sang chặng đường 1932 –1945 công cuộc hiện đại hoá này đã hoàn thiện. Nguyên nhân sâu xa là lúc này xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi nên dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong tâm lý và ý thức hệ. Mặt khác lúc này ta có điều kiện  vượt ra ngoài giới hạn của khu vực để tiếp xúc với văn hoá, văn minh của phương Tây, của thế giới hiện đại. Đó là tiền đề tạo điều kiện cho văn học mau chóng thoát khỏi hệ thống thi pháp trung đại, để chuyển sang một hệ thống thi pháp mới. Văn học Việt Nam giai đoạn 1932 –1945 đã làm được điều kỳ diệu ấy, đã cách tân một cách toàn diện và sâu sắc nhất. Trong đó thành tựu nổi bật công đầu là thuộc về các tác giả của dòng văn học lãng mạn, mà đáng kể nhất là các nhà thơ của phong trào thơ Mới. Chỉ với một thời gian rất ngắn chưa đầy 10 năm, nếu tính từ ngày bài thơ Mới đầu tiên trình giữa làng văn đăng trên báo Phụ nữ tân văn số 122, ngày 10 tháng 3 năm 1932, bài Tình già của Phan Khôi (thì lập tức có cuộc tranh luận nổ ra gay gắt giữa thơ cũ và thơ mới) đến năm 1941, nhà phê bình Hoài Thanh đã có thể lựa được trong số hàng chục nghìn bài của hàng trăm nhà thơ để chọn ra 169 bài thơ xuất sắc của 44 tác giả với nhiều phong cách khác nhau, trong đó có nhiều tác phẩm của những tác giả sẽ sống mãi với thời gian! Nếu so sánh thơ Đường gần 300 năm có 48.000 bài thơ hay của gần 2300 tác giả với thơ Mới gần 10 năm có 169 bài thơ hay của 44 tác giả thì về mặt tỷ lệ, sự thành tựu thơ ca của ta không phải là nhỏ. Tuy thơ Mới thể hiện những cái rất mới về bút pháp, hệ thống thi pháp, tư duy nghệ thuật, về cách cảm nhưng nó vẫn là nguồn mạch thơ với dòng chảy không hề gián đoạn từ xưa đến nay, vì thế ít nhiều dòng thơ này cũng đã kế thừa và phát triển, cách tân những thành tựu thơ ca quá khứ của cha ông, ít nhiều chịu ảnh hưởng thành tựu của nền thơ Đường nổi tiếng thế giới. Thế thì thơ Mới đã chịu ảnh hưởng của thơ Đường như thế nào? Vấn đề vừa nêu sẽ được lý giải ở phần tiếp theo.

II. VÀI ẢNH HƯỞNG CỦA THƠ ĐƯỜNG ĐỐI VỚI THƠ CỦA MỘT SỐ NHÀ  THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1932 –1945:

1) Anh hưởng của thơ Đường với thơ Xuân Diệu:

Nhắc đến thơ Mới là nhắc đến Xuân Diệu “nhà thơ Mới nhất trong các nhà thơ Mới” (Hoài Thanh).

Thế nhưng, trong cái hiện đại, cái mới vẫn còn cái hoài cổ, cái xưa. Có thể nói chính hai yếu tố đó đã hòa quyện vào nhau để hồn thơ, chất thơ của chàng thi sĩ họ Ngô trở nên độc đáo, hấp dẫn tuổi trẻ, được sự hoan nghênh của tuổi trẻ “đã có những thiếu niên, thiếu nữ hoan nghênh tôi…” như Xuân Diệu từng phát biểu.

Anh hưởng của thơ Đường đối với thơ Xuân Diệu rất phong phú, đa dạng, mang một cá tính sáng tạo rất riêng của Xuân Diệu. Chẳng hạn trong cảnh mùa thu rất quen của Việt Nam, chỉ Xuân Diệu mới để ý đến : “những luồng run rẩy rung rinh lá”  cùng cái “cành biếc run run chân ý nhi”. Nghe đàn dưới trăng thu, chỉ Xuân Diệu mới thấy  “lung linh bóng sáng bỗng rung mình” và mới có cái xôn xao gửi trong mấy hàng chữ lạ lùng này:

                       “Thu lạnh , càng thêm nguyệt tỏ ngời

                         Đàn ghê như nước lạnh, trời ơi

                         Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

                         Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc  nhớ người”

                                                                  (Nguyệt cầm)

Rõ ràng, với những câu thơ vừa trích, người đọc nhận thấy rằng mùa thu là đề tài muôn thuở của thi ca, và khi viết những dòng thơ trên ít nhiều Xuân Diệu nhớ đến bài Tỳ bà hành nổi tiếng của Bạch Cư Dị khi miêu tả tiếng đàn của người kỹ nữ trên bến Tầm Dương trong đêm trăng, lúc ấy cung đàn vừa bặt tiếng tơ thì cả chủ lẫn khách đều im lặng vô ngôn, ngay cả thiên nhiên cũng cảm nhận tiếng đàn huyền diệu ấy “một vầng trăng trong vắt dòng sông”. Mùa thu là khởi nguồn cảm hứng cho thi nhân, từ các nhà thơ nổi tiếng bên Trung Quốc đời Đường như Lí Bạch, Đỗ Phủ, đến các nhà thơ Việt Nam như Nguyễn Khuyến (Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh), Lưu Trọng Lư  (Tiếng thu), hay Bích Khê “Ô hay! buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”. Tất cả đều để lại những tác phẩm độc đáo về mùa thu. Anh hưởng ở đây của  Xuân Diệu  và của các nhà thơ Việt Nam đối với thơ Đường là đề tài. Đ ề tài đó tuy cũ nhưng mới, tuy quen nhưng lạ. Cũ và quen như đã trình bày ở  trên bởi lẽ đó là đề tài muôn thuở trong thi ca, còn mới và lạ là do các nhà thơ đã cách tân, sáng tạo, biến  cái chung thành cái riêng của mình mà Xuân Diệu là một điển hình:

                         “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

                          Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

                          Đây mùa thu tới, mùa thu tới

                          Với áo mơ phai dệt lá vàng”

                                                     (Đây mùa thu tới)

Mùa thu in dấu khắp nơi và hồn thu thấm sâu trong từng cảnh vật với nét đẹp buồn tàn phai, nhuốm màu thê lương. Đầu đề bài thơ là “Đây mùa thu tới”, đầu đề ấy như  một bức thông điệp thông báo cho người đọc mùa thu đã về. Vì thế nên mở đầu bài thơ, Xuân Diệu tả cảnh rặng liễu buồn lúc tàn thu. Rặng liễu là hình ảnh ước lệ, thường gặp trong thơ văn xưa để chỉ nỗi buồn chia ly. Tuy Xuân Diệu dùng hình ảnh này có vẻ sách vở một chút nhưng lại hoàn toàn sáng  tạo với sự liên tưởng độc đáo, thể hiện một nhãn quan tinh tế. Trong khí thu se lạnh, gió thu hiu hắt và không gian thu nhuốm vẻ buồn đìu hiu, rặng liễu đang nghiêng mình đứng chịu tang  .Một dáng vẻ buồn như chịu đựng , như chấp nhận tang tóc,  thê lương!  Liễu rủ, lá buông dài mà Xuân Diệu liên tưởng rồi so sánh với mái tóc buồn của người cô phụ đang chịu tang chồng. Càng buồn hơn là lá liễu rủ buông xuống dưới cơn mưa làm nhà thơ ngỡ như có hàng ngàn giọt lệ nhỏ từ cõi lòng tang tóc của người cô phụ. Chính cảm xúc chân thành và cảm quan tinh tế cùng với bút pháp  lãng mạn đã giúp nhà thơ phá vỡ tính ước lệ, sáo mòn của hình ảnh  liễu trong thơ văn xưa, để đem lại cho nó một dáng vẻ cụ thể và một linh hồn mang nặng nỗi sầu muộn của con người. Điều đó cũng có nghĩa là Xuân Diệu đã phát hiện nét đẹp lúc tàn thu thông qua dáng liễu rũ buồn dưới cơn mưa.

Nếu ở hai câu thơ  trên nhịp thơ chậm và lơi, thì hai câu thơ tiếp theo của khổ thơ này, nhịp thơ như gấp rút hẳn lên , nghe như một tiếng trầm trồ, một tiếng reo, thầm báo cho người đọc biết mùa thu đã đến với một  nỗi ngạc nhiên bất chợt:

                                 “Đây mùa thu tới, mùa thu tới

                                   Với áo mơ phai dệt lá vàng.”

Điều lưu ý là khác với  bút pháp miêu tả  mùa thu trong thơ xưa,  mùa thu chính là cái cớ để  các nhà thơ cũ tức cảnh, gởi gắm nỗi niềm; còn ở đây, bản thân mùa thu buồn chính là đối tượng để chàng thi sĩ  lãng mạn nhìn ngắm, chiêm nguỡng và rung động trước một vẻ đẹp của  thiên nhiên. Vì thế, nhìn lá rụng, lá úa, Xuân Diệu lại thấy như là một sắc áo đẹp của mùa thu khoác lên vạn vật. Chỉ cần mấy câu thơ  ấy thôi cũng đủ cho người đọc thấy bút lực tài hoa của Xuân Diệu.

Bút lực tài hoa ấy không chỉ dừng lại ở đấy, bút lực đó còn giúp cho nhà thơ phát hiện ra nét độc đáo, thú vị của cảnh đồng quê Việt Nam:

                              “Mây biếc về đâu bay gấp gấp

                                Con cò trên ruộng  cánh phân vân

                                                            (Thơ duyên)

Cũng là áng mây, cũng  là cánh cò thường gặp trong thơ xưa nhưng dưới ngòi bút của Xuân Diệu lại đầy  sáng tạo, độc đáo, mới mẻ. Nếu trong thơ xưa khi miêu tả mây mùa thu thường là “mây đùn cửa ải xa” như  Đỗ Phủ hay mây đang trôi nhàn nhã “cô vân độc khứ nhàn” như Lý Bạch miêu tả, thì ở đây, mây của Xuân Diệu lại “bay gấp gấp” với vẻ hối hả nhưng chẳng biết về đâu, đi đâu? Cũng là cánh cò, nhưng  cánh cò của Vương Bột thì đang cô đơn cùng bay với ráng chiều vừa sa xuống :

                                   “Lạc hà dữ cô lộ tề phi

                                     Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”

                                                              (Đằng Vương Các tự)

còn cánh cò của Xuân Diệu lại là cánh cò đang “phân vân”, ngập ngừng, lưỡng lự, nửa muốn đậu, nửa muốn bay  và nếu bay thì không biết bay cao hay  thấp, gần hay xa? Các nhà phê bình xưa nay đều khen hết lời về hai câu thơ đầy sáng tạo, độc đáo, tinh tế này của Xuân Diệu.

Qua những dẫn chứng vừa nêu, có thể khẳng định, Xuân Diệu đã đem lại cho dòng thơ lãng mạn một sức hấp dẫn nồng nàn, mãnh liệt, sục  sôi với một bút lực tài hoa, với cách dùng từ ngữ chính xác, sáng tạo, giàu hình ảnh và gợi cảm. Đúng là “Xuân Diệu đã gửi trong  thơ của người một chút hương xưa của đất nước” như nhà phê bình Hoài Thanh đã nhận xét. Cái “chút hương xưa” ấy phải chăng đó chính là phong vị thơ truyền thống phương Đông trong đó có phong vị Đường thi đã  ảnh hưởng sâu đậm trong hồn thơ của “nhà thơ Mới nhất trong các nhà thơ Mới” lúc bấy giờ?

2. Anh hưởng thơ Đường với thơ Huy Cận:

“Khác với  Xuân Diệu, Huy Cận vừa bước vào  làng thơ đã được người ta dành ngay cho một chỗ yên ổn” (Hoài Thanh). Thật diễm phúc biết nhường nào!

Có được điều đó bởi lẽ do hồn thơ của Huy Cận “đã có hồi người ta tưởng muốn làm thơ hay phải là người hay khóc và thi nhân mỗi lần cầm bút là một lần phải “nâng khăn lau mắt lệ”. Nhưng buồn mãi cũng chán . Trên Tao Đàn Việt Nam bỗng  phe phẩy một ngọn gió  yêu đời, tuy không thổi tan những đám mây sầu, u ám , song cũng mấy lần ngân lên những tiếng reo vui… Phải tinh lắm  mới thấy lòng mình như thế giữa thế giới ồ ạt, cái rộn rịp của cuộc đời hàng ngày” (Hoài Thanh). Đây có lẽ là một điều Huy Cận đã học được qua thơ Pháp. Nhưng với tài quan sát được rèn luyện trong bối cảnh mới, Huy Cận đã làm một việc táo bạo là tìm về những cảnh xưa. Người nói cùng ta nỗi buồn  nơi quán chật đèo cao, nỗi buồn của sông dài, trời rộng , nỗi buồn  của người lữ thứ dừng ngựa trên non… Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này. Huy Cận triền miên trong cảnh xưa, trò chuyện với người xưa, luôn luôn đi về trên con đường thời gian vô tận. Những con đường về quá khứ đi càng xa, càng cô tịch tứ bề càng vắng lặng, mênh mông. Có lẽ thi nhân trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian, có lẽ người đã nghe trong hồn  hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa đến. Một Pascal hay một Huygo trong lúc đó sẽ rùng mình, sẽ hốt hoảng . Với cái điềm đạm của người phương Đông, Huy Cận chỉ lặng lẽ buồn:

                                  “Một chiếc linh hồn nhỏ

                                    Mang mang thiên cổ sầu”

Đọc hai câu thơ ấy, ta nhớ lại cái buồn của một thi nhân khác, Trần Tử Ngang ngàn năm trước, cũng đã có một  cuộc viễn du tương tự như thế trong bài Đăng U Châu đài ca:                            

                                        “Tiền bất kiến cổ nhân

       Hậu bất tri lai giả

       Niệm thiên địa chi du du

       Độc sảng nhiên chi thế hạ”

      (Ai người trước đã qua?

       Ai người sau chưa đến?

       Nghĩ trời đất vô cùng

       Một mình tuôn giọt lệ)

             (Võ Liêm Sơn dịch)

Cái buồn của Huy Cận không chỉ dừng lại ở đó mà còn trải dài, trải rộng sâu thẳm trong không gian, như  vươn tới một miền quê viễn xứ :

                                          “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

                                            Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

                                            Lòng quê dợn dợn vời con nước

                                            Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

                                                                                   (Tràng giang)

Không gian nghệ thuật trong khổ thơ mở ra đến chân trời xa lơ xa lắc,  do thế nỗi buồn của tác giả cũng vô tận. Bằng một sự quan sát tinh tế và sử dụng ngôn ngữ chắt lọc, Huy Cận đã vẽ lên một cảnh tượng thiên nhiên kỳ vỹ trong buổi hoàng hôn. Những đám mây bạc trắng xoá, hết lớp này đến lớp khác, từ trên cao dồn tụ lại, đùn lại nơi ngọn núi. Những lớp mây ấy lung linh, rực sáng trong ánh nắng chiều thật đẹp. Dưới bầu trời mênh mông kia, nơi ngọn núi xa xăm ấy, có một cánh chim nhỏ nhoi, đơn độc, đang nghiêng cánh dưới ánh nắng chiều vừa sa xuống. Buổi chiều đã buồn , cánh chim chiều nơi bầu trời mênh mông càng làm cho buổi chiều buồn thêm và lẻ loi hơn. Huy Cận đã từng phát biểu rằng từ “đùn” được sử dụng trong câu thơ “lớp lớp mây cao đùn núi bạc” là ông mượn từ bài thơ “Thu hứng “ của Đỗ Phủ “Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Và có lẽ hình ảnh chim nghiêng cánh dưới ánh chiều vừa sa xuống trong khổ thơ cũng là tứ, là ý mà Huy Cận chịu ảnh hưởng của Vương Bột đời Đường trong bài “Đằng Vương Các tự”: “Lạc hà dữ cô lộ tề phi”(ráng chiều sa xuống cùng với cánh cò đơn chiếc đang bay). Hình ảnh  mây , núi , chim trời và ánh chiều tà được kết hợp trong hai câu thơ đã tạo nên một phong vị cổ điển. Người ta thường nói thơ của Huy Cận mang âm hưởng phong vị thơ Đường có lẽ cũng bắt nguồn từ chỗ này đây. Hình ảnh thiên nhiên ấy đã gợi cho Huy Cận một nỗi nhớ quê cồn cào da diết. Điều cần nói thêm là nhà thơ với tâm hồn đang cô đơn, ngắm nhìn vũ trụ bao la, lặng lẽ rồi cảm nhận cái vĩnh viễn vô cùng của không gian, thời gian. Thời gian vô hạn vô cùng, không gian mênh mông vô tận, còn kiếp người thì hữu hạn. Chính cảnh ấy, tình ấy đã gợi cho nhà thơ viết nên hai câu cuối tuyệt tác:

                                      “Lòng quê dợn dợn vời con nước

                                       Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Huy Cận thường phàn nàn rằng hai chữ  “dợn dợn” trong câu thơ của ông là điệp từ nhưng khi in lại thành “dờn dợn”. “Dờn dợn” là một từ láy giảm nhẹ sắc thái nghĩa. Ý thơ của Huy Cận không phải thế. “Dợn” là nổi lên, cuộn lên như sóng. Lúc dòng thuỷ triều lên hay xuống, con nước chảy xiết, cuộn lên như sóng. Lòng nhớ quê của tác giả cũng y như thế. Có điều như nhiều nhà nghiên cứu đã nói, khi viết hai câu thơ này, Huy cận đã mượn tứ và ý từ hai câu kết của nhà thơ Thôi Hiệu đời Đường trong bài “Hoàng Hạc lâu”nổi tiếng, nổi tiếng đến nỗi khi vị thi Tiên Lý Bạch đến thăm danh thắng này không thể cất bút đề thơ được nữa, bởi “Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”:

                                          “Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

                                            Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

             Nhà thơ Tản Đà đã dịch:

                                         “Quê hương khuất bóng hoàng hôn

                                          Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Câu thơ mang một nỗi nhớ thiết tha, một nỗi buồn sâu lắng  của Thôi Hiệu trong buổi chiều tà nơi đất khách nhớ về quê hương. Có điều, thi nhân đời Đường ngày xưa nhìn khói sóng trên sông mới nhớ quê tức là còn có cái để bám víu  mà nhớ. Ngày nay, với Huy Cận, dù không có khói hoàng hôn trên sông, tức không có chỗ bám víu nhưng nhà thơ vẫn cứ nhớ nhà, vẫn cứ buồn. Đ iều đó chứng tỏ chàng thi sĩ lãng mạn Việt Nam buồn hơn, sầu hơn thi nhân đời Đường ngày xưa! Nỗi buồn nhớ quê hương ấy tràn ngập tâm hồn của kẻ tha hương trong buổi hoàng hôn. Nó cắt cứa, xoáy mạnh và cuồn cuộn đến da diết trong tâm hồn nhà thơ. Một nỗi buồn sông núi, biểu hiện tình yêu quê hương sâu đậm đến nhường nào!

Chỉ với bốn câu thơ như vừa nêu, Huy Cận đã cho người đọc thấy rõ  hồn thơ của mình, một hồn thơ hiện đại nhưng đậm chất cổ xưa, một trí thức Tây học nhưng mang đậm phong vị thơ Đường.

(xem tiếp kỳ 2)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net