QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Kỳ 1

Kỳ 2

Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 1)

 LỜI NÓI ĐẦU

Những ai khi bước vào cửa Khổng đều có đọc sách "Đại-Học" của đạo Nho, trong đó có câu ở phần mở đầu: "Việc học đạo lý của người lớn ở chỗ phải làm sáng rõ cái đức, gần gũi với mọi người và hướng về điều thiện" (Đại-học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chí ư chí thiện – ĐH). Và muốn làm sáng rõ cái đức hầu có có thể hòa nhập cuộc sống để làm nó tốt đẹp hơn thì việc giáo dục, rèn luyện cá nhân sống cho có đạo đức đòi hỏi phải có bài bản khoa học và thành nề nếp trong mọi hình thức giáo dục con người. Công việc dạy ĐẠO LÝ LÀM NGƯỜI  là mối quan tâm hàng đầu ở bất cứ xã hội văn minh, tiến bộ nào. Nói khác hơn, khi xã hội phát triển, đời sống văn hóa và tinh thần con người cũng phải đi đôi với nhau. Con người sống trong cộng đồng xã hội có nhân văn cần phải sống như thế nào để có lương tâm, có tinh thần trách nhiệm, ý thức đúng đắn về bổn phận công dân, giàu lòng nhân ái và sự trung thực. Một khi cuộc sống kinh tế đã cao hơn trước, người dân sống ấm no đầy đủ thì việc làm cho đời sống tinh thần được phong phú, đạo đức con người đáp ứng được với sự tiến triển của nền kinh tế là điều cần thiết.

Do đó, việc giáo dục những vấn đề đạo đức căn bản trên nền tảng những di sản đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc cần phải được duy trì và nâng cao. Đồng thời, việc xác định lại một số khái niệm đạo đức căn bản vẫn thường gặp trong cuộc sống hằng ngày là điều cần thiết để từ đó có điểm tựa vững bền cho việc dạy dỗ đạo làm người. Những triều đại được tổ chức tương đối tốt đẹp ở nước ta như nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê v.v... đều dựa vào Nho học làm nền cho việc giáo dục, kẻ sĩ là những người có đủ khả năng và đức độ để đảm đương việc dân, việc nước. Truyền thống "Tiên học lễ, hậu học văn" chú ý việc giáo dục tinh thần và đạo đức con người trước, đã đào tạo nên những danh sĩ như Chu Văn An, Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng v.v... Đó là những người xuất thân từ Nho học, được rèn luyện và thấm nhuần tinh thần KẺ SĨ sẵn sàng giúp đời, giúp nước. Tinh thần ấy cần được chúng ta củng cố và phát huy sao cho việc giáo dục đạo đức hay là việc HỌC LÀM NGƯỜI của các thế hệ bây giờ và mai sau đạt được hiệu quả tốt đẹp.

Những vấn đề đạo đức mà mọi người luôn quan tâm như lương tâm, trách nhiệm, bổn phận, sự công bằng, quyền và quyền lợi, sự thưởng phạt, lòng nhân ái, lòng trung thực v.v... là những đề tài có khả năng tác động lên đời sống đạo đức con người trong xã hội. Những đề tài ấy đang được dạy cho các học sinh và sinh viên ở rất nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Muốn trở thành những công dân tốt cho xã hội và cao hơn trở thành những con người sống cho ra người giữa lòng nhân loại phải mất một chặng đường dài cả trăm năm với sự tiếp nối truyền thống sẵn có từ trước. Quản Trọng nhà chính trị thời Tề Hoàn Công đời Xuân Thu bên Trung Quốc trong cuốn sách để lại là Quân Tử có viết: "Bách niên chi kế mạc chi thụ nhân" (Kế trăm năm không gì bằng trồng người).

Những suy thoái về đạo đức vẫn được báo chí và dư luận xã hội đề cập hằng ngày đặt ra cho chúng ta một vấn đề là làm thế nào xây dựng công việc DẠY ĐẠO LÀM NGƯỜI cho có phương pháp khoa học, có nền tảng vững chắc và đạt hiệu quả cao để có thể đưa vào việc đào luyện các công dân tương lai hầu trang bị cho họ đủ phẩm chất làm những người tốt. Từ đó, những người mà ý thức đạo đức luôn luôn được bồi dưỡng và giữ gìn sẽ thấm sâu vào tâm hồn mới đủ sức gánh vác công việc xã hội với lương tâm trong sáng và tinh thần trách nhiệm tự giác thực sự. Đọc báo chí hằng ngày (chẳng hạn như bài viết: "Đạo đức không có trong giáo trình dạy lái" hoặc "Học làm người trước, học bóng đá sau" (Tuổi Trẻ Thứ Ba 24/7/2007) cũng như rất nhiều vấn đề liên quan đạo đức con người mà nhiều báo khác đề cập) ta sẽ thấy rõ ràng yêu cầu cấp thiết của việc HỌC LÀM NGƯỜI. Những câu hỏi đặt ra như làm thế nào để dạy dỗ người ta có tinh thần trách nhiệm thực sự, làm thế nào khơi dậy lương tâm con người đang bị phá sản, làm thế nào để người ta sống trung thực đúng nghĩa của nó v.v...

Nhìn lại sự đi xuống đạo đức của nhiều người với nhiều hình thức khác nhau, những ai quan tâm và lo lắng cho các thế hệ mai này không khỏi băn khoăn. Vì thế, việc xây dựng môn học dạy ĐẠO LÀM NGƯỜI  mà ta người ta thường gọi là ĐẠO ĐỨC HỌC hoặc LUÂN LÝ HỌC, GIÁO DỤC CÔNG DÂN là công việc rất cần thiết để phát triển cộng đồng xã hội bây giờ và về sau được bền vững. Sự phát triển và tăng trưởng tốt về mặt kinh tế đem lại ấm no và thịnh vượng cho đất nước, cần phải đặt đồng thời với sự tăng trưởng về mặt đạo đức. Sự cân đối và hài hòa trong việc phát triển xã hội sẽ đem lại một bộ mặt mới mẻ và tươi sáng cho đất nước. Chúng ta vẫn tự hào về một dân tộc đã trải qua bao nhiêu sóng gió vẫn đứng vững. Chúng ta cũng tự hào về con người Việt Nam ở một đất nước có mấy ngàn năm văn hiến. Do đó, việc chú trọng bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất đạo đức để làm thế nào xứng đáng với niềm tự hào ấy. Chắc chắn rằng những vấn đề đạo đức đề cập trong tập sách này còn nhiều thiếu sót, việc chỉ giáo, góp ý và đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức dưới nhiều hình thức và đúng hướng của các bậc cao minh cũng quan tâm vấn đề này là điều mong mỏi của tác giả. Đây chỉ là công việc góp một ngọn đuốc nhỏ để cùng nhiều vị khác giúp cho ánh sáng đạo đức được tỏa chiếu nơi nơi vì tương lai của các thế hệ mai sau.

CHƯƠNG MỘT

KHÁI QUÁT VỀ CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC

I- LÝ DO ĐẶT VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC:

Chưa bao giờ những vấn đề đạo đức con người trong đời sống cộng đồng xã hội hiện nay với nhiều biến chuyển về kinh tế đã được nhiều người quan tâm và rất cần chấn chỉnh để theo kịp sự thay đổi và phát triển ấy. Những sự việc xảy ra hằng ngày trong đời sống xã hội xoáy quanh nhân cách con người đã làm chúng ta phải suy nghĩ và băn khoăn. Nếu con người là một sản phẩm của lịch sử và xã hội thì sự sa sút, đi xuống, thiếu vắng và thậm chí không có đạo đức ở nhiều người trong cuộc sống hằng ngày là một trong những nguyên nhân gây ra những bất ổn, những hiện tượng tiêu cực hoặc xấu xa trong cuộc sống.

Rất nhiều người trong các mối giao tiếp với cuộc sống đã thiếu vắng những bài học căn bản về đạo đức, về cách giao tế gọi chung là cách sống đưa đến những hành vi thiếu nhân cách, thiếu văn hóa v.v... mà chúng ta vẫn thấy , vẫn nghe nhan nhản trong đời sống hằng ngày hoặc qua những tin tức trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Hành động giết người hàng loạt của một sinh viên tại Đại học Virginia vừa rồi ở nước Mỹ, lối sống thác loạn, kém văn hóa tô điểm bởi từ "sành điệu" của nhiều thanh niên ăn chơi như vụ vũ trường New Century ở Hà Nội. Hoặc vụ chia chác đất đai ở Đồ Sơn chẳng hề đếm xỉa gì đến lợi ích của chung mà chỉ nghĩ đến lợi ích riêng tư của một số người v.v... Rồi chúng ta cũng thấy những người lo việc cho dân thì ít chỉ lo việc kiếm chác từ chức quyền thì nhiều. Hoặc nhiều chuyện vô đạo đức trong trường học như chạy điểm, chạy bằng cấp, học vị v.v... Biết bao nhiêu chuyện đại loại như thế đòi hỏi phải làm lại từ căn bản, từ gốc rễ những vấn đề liên quan đến đạo đức để con người sống cho ra con người, con người biết cách xử sự để "sống tử tế với nhau" và hơn bao giờ hết con người sống có tình người.

Sự thiếu vắng đạo đức trong nhiều lớp người của xã hội đã tạo ra tình trạng bát nháo, lộn xộn không có kỷ cương, không có trật tự trong nhiều mối quan hệ xã hội. Đời sống kinh tế đã tác động thêm vào sự phân hóa về mặt đạo đức. Đồng tiền, quyền lợi cá nhân, lòng tham lam, sự thiếu minh bạch rõ ràng cũng đưa đến sự suy thoái của nhân cách, sự đi xuống tồi tệ về đạo đức. Sự tăng trưởng kinh tế của xã hội chưa đi đôi với sự tăng trưởng đạo đức con người tạo ra một hố sâu cần phải được lấp đi để đất nước và dân tộc bền vững đi vào tương lai.

Nhiều người trong xã hội đã vươn lên từ sự học hỏi, nâng cao trình độ trí thức, nâng cao kiến thức và hoàn thiện nhân cách để góp phần xây dựng hình ảnh và sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, nhiều kẻ đã ngoi lên để có sự thành đạt, sự giàu có bằng những con đường lầy lội, những đường tắt như tham ô, tranh chức quyền, chạy lo bằng cấp, chạy điểm, chạy chỗ làm ra tiền v.v... Và khi có quyền, có tiền người ta dễ sa ngã, đi vào ngõ cụt, tối tăm của nhân cách. Từ đo, hình thành những loại người thiếu văn hóa, thiếu đạo đức hoặc tệ hơn nữa là không có văn hóa và chẳng có chút đạo đức nào cả! Và cũng từ đó khi ra đường cũng như trong chỗ đông người ,lắm kẻ khiến ta phải cau mày và lắc đầu vì những hành vi chẳng có văn hóa, không đúng mực trong cách cư xử và quan hệ với người chung quanh.

Do đó, để cải thiện bộ mặt của xã hội cho tốt đẹp, chúng ta phải thành thực và thẳng thắn nhìn vào các hiện trạng tiêu cực ấy để mạnh dạn cải cách đạo đức chứ không phải rút kinh nghiệm suông nữa. Các định chế xã hội, các luật lệ phải rõ ràng; cách giáo dục về đạo đức con người phải căn cớ, gần gũi với cuộc sống mới có thể xây dựng nên các thế hệ tiếp theo có truyền thống đạo đức tốt đẹp để cho xã hội và đất nước ngẩng cao đầu với thế giới, vững tin bước vào tương lai. Nói khác đi, việc giáo dục con người phải bài bản, sâu rộng và thường xuyên mới có được những con người có nhân cách thực sự, có trình độ kiến thức vững vàng và đúng thực chất mới có thể đáp ứng kịp thời, đầy đủ cho sự phát triển của đất nước, làm cho xã hội tốt đẹp hơn.

Chúng ta vẫn thường nghe câu tục ngữ: "Tiên học lễ, hậu học văn" của người xưa. Lời dạy ấy vẫn có giá trị muôn đời và là nền tảng để đào tạo những con người tốt cho xã hội. Đương nhiên, việc dạy tốt, dạy có căn bản về đạo đức và việc học hành có tốt, có đúng cách, đúng phương pháp mới có con người tốt dẫn đến xã hội tốt. Ngược lại, dạy sai, dạy chưa tốt, chưa đầy đủ sẽ sinh ra những con người chưa hoàn thiện về nhân cách. Đó là quy luật biện chứng. Một khi con người thiếu vắng nhân cách sẽ nẩy sinh biết bao nhiêu cái xấu xa, tiêu cực mà chúng ta vẫn nghe và vẫn thấy trong cuộc sống xã hội.

Vì thế, việc nâng cao ý thức đạo đức cho con người ngay từ những năm tháng bước vào trường học sẽ là tiền đề để xã hội mai sau đẹp hơn, tốt hơn, văn minh hơn, tiến bộ hơn. Chúng ta phải can đảm, mạnh dạn nhìn thẳng vào thực tế về đạo đức để đề ra những giải pháp căn bản, thiết thực và để xây dựng con người cho xã hội bây giờ và mai sau. Nếu chỉ chú ý vào việc đầu tư về kinh tế, coi trọng sự tăng trưởng, sự phát triển về kinh tế mà coi nhẹ việc giáo dục ý thức đạo đức cho các thế hệ trẻ sẽ tạo nên sự hụt hẫng, mất cân đối. Đời sống dân chúng có thể ấm no, đầy đủ hơn trước rất nhiều nhưng con người chưa biết cách sống xứng đáng và sống cho ra con người sẽ cản trở sự đi lên bền vững của cả một đất nước mai sau.

Ngoài ra, việc giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức tốt đẹp của tiền nhân cũng cần thiết không kém để xây dựng nền tảng của đạo đức. Dân tộc và đất nước ta tồn tại được đến ngày hôm nay cũng là nhờ tiếp nối con đường đi của tổ tiên và các thế hệ đi trước. Phủ nhận hoặc coi nhẹ quá khứ là đi ngược với quá trình phát triển: hiện tại có được là nhờ quá khứ và tương lai tốt đẹp hay không là nhờ hiện tại, nhờ sự xây dựng từ bây giờ.

Lịch sử dân tộc ta từ thời dựng nước của Hùng Vương đến nay tuy có những bước thăng trầm khác nhau nhưng giềng mối để xây dựng nền đạo đức đều học hỏi chủ yếu từ Nho giáo. Đạo Nho đã có từ lâu trong lịch sử của Trung Hoa trước cả thời Khổng Tử. Khi du nhập vào nước ta, đạo Nho trở thành phương tiện vừa để xây dựng các chế độ phong kiến, vừa để giáo hóa và mở mang đạo đức. Từ thời tiền Lê, qua đến nhà Lý, nhà Trần, nhà hậu Lê, nhà Nguyễn, đạo Nho được xem là học thuyết chính để giáo dục đạo đức. Cha ông ta tiếp thu Nho giáo từ Trung Hoa nhưng đã thay đổi ít nhiều cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của dân tộc. Nhờ đó, những khi bị ngoại xâm cũng như khi thái bình, bao giờ cũng có được những con người có tài đức để giúp vua chống giặc thù và xây dựng đất nước. Từ những danh tướng như Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo... xưa trước cho đến những kẻ sĩ như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp thời nhà Trần, nhà Lê và thời đại Quang Trung đều là những người chịu ảnh hưởng của nền giáo dục của Khổng Mạnh. Gần đây, những năm thực dân Pháp xâm lược nước ta, những kẻ sĩ hào hùng như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Trung Trực, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp v.v... đều là những người xuất thân từ cửa Khổng sân Trình cả.

Khi đã bình tĩnh và gạt bỏ những thành kiến (bỏ 3 chữ), chúng ta sẽ thấy rõ nền giáo dục Nho học có một tác động tốt đẹp và thực tiễn trong việc dạy dỗ và đào luyện con người. Đất nước chúng ta giờ đây, sau chiến tranh, đã có được sự phát triển kinh tế một bước dài. Việc cần làm bên cạnh sự phát triển về kinh tế là phải chu toàn và chăm lo sự phát triển nền giáo dục sao cho có căn bản, phù hợp với sự phát triển chung của đất nước và thế giới. Ngoài việc giáo dục về khoa học, kỹ thuật mọi mặt, việc giáo dục đạo đức phải được xem là nền tảng để giáo dục con người. Không có đạo đức thì không có con người tốt đẹp để xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.

Một khi nền kinh tế tương đối đã ổn định, đời sống dân chúng đã ấm no hơn trước, việc giáo dục đạo đức lại càng cấp thiết. Khổng Tử được xem là "Vạn thế sư biểu" (Người thầy ngàn đời) không những của Trung Hoa mà còn của nhiều nước Á Đông khác như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản v.v... Câu chuyện giữa Khổng Tử và người học trò tên là Nhiễm Hữu sau đây đã cho thấy điều ấy: "Đức Khổng Tử đến nước Vệ, Nhiễm Hữu theo hầu. Ngài nói: "Dân nước Vệ đông thật". Nhiễm Hữu hỏi: "Dân đã đông cần thêm gì nữa?" Đức Khổng Tử đáp: "Phải làm cho họ giàu có". Hỏi: "Giàu có rồi phải cần thêm gì nữa?". Đáp: "Phải giáo hóa họ". (Tử thích Vệ. Nhiễm Hữu bộc. Tử viết: "Thứ hĩ tai!". Nhiễm Hữu viết: "Ký thứ hĩ, hựu hà gia yên?". Viết: "Giáo chi" – LUẬN NGỮ, Tử Lộ, XVII, 9). Vậy ai là kẻ sẽ giáo hoá người dân sau khi họ đã có cơm ăn, áo mặc tương đối đầy đủ? Ai là kẻ có khả năng nâng cao dân trí, giáo dục đạo đức cho người dân? Đó là công việc của những người cầm cân nẩy mực và muốn làm công việc "dạy dân", giáo hóa người dân theo tinh thần dân chủ thời đại mới phải là người được đào tạo vừa có chuyên môn cao, vừa có kiến thức về xã hội, vừa có tư cách đạo đức. Cho dầu chuyên môn giỏi nhưng tư cách đạo đức tệ hại hoặc thiếu sót sẽ khó là hình ảnh tốt đẹp và sáng sủa để cho dân chúng trông cậy. Bên trên có nghiêm minh, ngay thẳng thì bên dưới sẽ không dám bất kính; trên chuộng điều nhân nghĩa, giữ chữ tín thì mọi người ai ai cũng sẽ tuân theo và kính phục. Những vấn đề tưởng chừng xưa cũ về bài học đạo đức vẫn còn có giá trị thực tiễn để cải cách đạo đức như hiện nay. Những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc ít nhiều nhờ tinh thần coi trọng đạo Nho trong việc giáo dục đã trở thành những nước có nền kinh tế thịnh vượng, xã hội tương đối tốt đẹp. Ơ Trung Quốc hiện nay, việc đề cao Khổng Tử, tìm đọc sách Luận Ngữ và các sách về đạo đức xưa đã được phục hồi và được nhiều hưởng ứng vì quá cần thiết cho một xã hội đang phát triển nhanh về mọi mặt.

Do đó, việc giáo dục đạo đức trên nền tảng truyền thống của đạo Nho có từ lâu của dân tộc ta cho mọi thế hệ và đặc biệt cho lớp trẻ là một việc làm cấp thiết hơn bao giờ hết. Những hình ảnh sa sút về nhân cách, về đạo đức mà chúng ta vẫn nghe thấy hằng ngày khiến cho bất cứ ai nghĩ đến tiền đồ đất nước và xã hội không khỏi lo lắng. Tương lai của các thế hệ kế thừa nếu không quan tâm việc giáo dục đạo đức cho thật căn cơ e rằng sẽ trở thành một thế hệ thiếu vắng nhân cách và đầu óc trống rỗng như đã xảy ra ở xã hội tây phương hiện nay. Sự hờ hững trước các vấn đề xã hội, sự thiếu vắng nhân cách, sự vô cảm trước mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực là những dấu hiệu báo động cho những người đi trước, cho những kẻ thức giả. Nếu lịch sử là một sự tiếp nối từ thời đại này sang thời đại khác luôn luôn có sự đổi mới và thích ứng với con đường phát triển của nhân loại thì đạo đức cũng cần phải thay đổi trên tinh thần "On cố nhi tri tân" (Trung Dung, 28 – Luận Ngữ, Vi Chính, 11) nghĩa là ôn lại những cái cũ để biết những cái mới. Cái mới cần dựa vào cái nền tuy cũ nhưng có giá trị vững bền từ hằng ngàn năm rồi mà tiên tổ, cha ông chúng ta từng đi qua. Một khi cái mới còn thiếu sót, chưa đủ sức lấp trám cái cũ và thực sự cái cũ nếu còn có giá trị cho việc cải cách đạo đức xã hội thì vẫn nên dựa vào truyền thống đạo đức của tiền nhân. Hơn nữa, phủ nhận truyền thống cũ từng được chứng minh là tốt đẹp tức là coi thường cha ông, coi thường quá khứ. Quá khứ bao giờ cũng là di sản quí báu và là nền tảng cho hiện tại cùng tương lai đất nước cũng như của nhân loại.

Vậy thì sống thế nào là sống có đạo đức? Sống có đạo đức cần đến những vấn đề căn bản nào? Những học thuyết nào cần thiết và có thể áp dụng vào thực tế để nâng cao đạo đức cho con người? Những câu hỏi ấy sẽ lần lượt được giải đáp ở các phần sau.

(Xem tiếp kỳ 2)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net