QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Kỳ 1

Kỳ 2

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ảnh hưởng của thơ Đường đối với thơ lãng mạn Việt Nam 1932 – 1945

Nguyễn Công Thanh Dung

(Kỳ 2)

Nguyễn Công Thanh Dung, sinh năm 1984, quê quán Thạnh Mỹ, Ninh Quang, Ninh Hòa, Khánh Hòa. Cử nhân Ngữ Văn. Tác giả hiện là biên tập viên Nhà xuất bản. Bài viết này tham dự Hội nghị Khoa học Ngữ văn các trường ĐH các tỉnh phía Nam được báo cáo trước Hội nghị tháng 3 năm 2005, sau đó được đăng trên Tạp chí Khoa học Xã hội của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ số 08 (84) - 2005

3. Ảnh hưởng thơ Đường với thơ Quách Tấn: 

“Đêm đã khuya, tôi ngồi một mình xem thơ Quách Tấn. Ngoài kia có lẽ trăng sáng lắm. Nhưng trời về thu, khí trời lạnh lạnh, cửa sổ trên bàn viết đóng kín . Ngọn nến trên bàn tỏa ra một bầu ánh sáng chỉ đủ sáng chỗ tôi ngồi.Chung quanh tối cả. Tối và im.Một thứ im lặng dày đặc. Trong ấy có muôn ngàn thứ tiếng ta không nghe.Lúc này chính là lúc xem thơ xưa.Tôi lắng lòng tôi để đón một sứ giả đời Đường, đời Tống . Đời Đường mới có cái âm u ấy”. Có lẽ những lời nhận xét của Hoài Thanh đã làm cho người đọc thấy rõ hồn thơ của Quách Tấn. Điều này thể hiện rất rõ ở bài thơ: ”Đêm thu nghe quạ kêu”:

 “Từ Ô Y hạng rủ rê sang

Bóng lẫn đêm thâu bỗng rộn ràng

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng,

Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng

Bồn chồn thương kẻ nương song bạc

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng

Tiếng dội lưng mây đồng vọng mãi

Tình hoang mang gợi tứ hoang mang…”

Đọc kỹ bài thơ, đặc biệt là ba từ đầu tiên “Ô Y hạng” làm ta liên tưởng tới một bài thơ cổ của Lưu Vũ Tích đời Đường:

                 Ô Y hạng

“Chu Tước kiều biên dã thảo hoa

Ô Yhạng khẩu tịch dương tà

Cựu thời Vương , Tạ đường tiền yến

Phi nhập tầm thường bách tính gia”

(Cỏ hoa dại bên cầu Chu Tước

 NgõÔ Y lướt thướt nắng tà

En lầu Vương , Tạ xưa xa

Bây giờ bay đậu vào nhà thường dân”)

(Đinh Ngọc Vũ dịch)

Một câu hỏi được đặt ra ở đây, tại sao tác giả lại nghĩ rằng quạ “từ Ô Y hạng rủ rê sang”?. Trong khi bài “Ô Y hạng” không hề nói đến quạ. Theo Quách Tấn thì “tôi dùng điển Ô Y trong bài “Đêm thu nghe quạ kêu” không phải vì vô ý hoặc dốt điển, mà chính vì có sở do. Cái sở do kia phải chăng do bài thơ “Ô Y hạng” ám ảnh và chi phối suy tư của ông?

Để rồi đến bốn câu thơ thượng giải:

“Từ Ô Y hạng rủ rê sang

 Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng

Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng

 Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng”

Lời thơ hay, cảnh thu đẹp. Nhưng khi đọc kỹ và suy ngẫm khiến  ta liên tưởng đến một bài thơ đời Đường. Đó là bài “Phong Kiều dạ bạc “ của Trương Kế:

“Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền”

(Trăng tà chiếc quạ kêu sương

Lửa chài cây bến, sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

 Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.)

               (Ngô Tất Tố dịch)

Từ một câu thơ đầu trong bài “Phong Kiều dạ bạc”của Trương Kế “nguyệt lạc, ô đề , sương mãn thiên” đã được Quách Tấn khéo léo phát triển thành bốn câu thơ cuối của bài.

        Với hai từ “ô đề” ta được hai câu:

“Từ Ô Y hạng rủ rê sang

 Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng”

         Ba từ “sương mãn thiên” đã được phát triển thành câu thứ ba:

“Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng”

         Hai từ “nguyệt lạc”đã được phát triển thành câu thứ tư:

 “Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng”

         Rồi đến hai câu luận:

 “Bồn chồn thương kẻ nương song bạc

Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng?”

Chính Hoài Thanh nhận xét “ta có thể lơ đãng không thấy rõ sương trên bến Phong Kiều, trăng trên dòng Xích Bích. Không thấy cả cái giếng sầu rụng. Nhưng sắc vàng kia! Cái sắc vàng trong giây phút chiếu sáng cả trời thơ!” Hai câu thơ ấy lại gợi cho ta nghĩ đến một bài thơ cổ khác có liên quan đến tiếng quạ kêu. Đó là bài “Ô dạ đề” của Lý Bạch:

“Hoàng vân thành biên ô dục thê

Quy phi “á, á”chi thượng đề

Cơ trung chức cẩm Tần Xuyên nữ

Bích sa như yên cách song ngữ

Đình hoa trướng nhiên tư vãn nhân

Độc túc cô phòng lệ như vũ”

 (Mây vàng tiếng quạ bên thành

Nó bay tìm ngủ trên cành nó kêu

 Tần Xuyên cô gái buồng thêu

 Song sa khói toả như khơi chuyện ngoài

Dừng thoi buồn bã nhớ ai

Phòng không gối chiếc, giọt dài tuôn mưa)

                (Tản Đà dịch)

Như vậy, ý của hai câu thơ  trên của Quách Tấn giống như ý tưởng ba câu cuối trong bài thơ của Lý Bạch. Dù rằng về cách biểu đạt thì Lý Bạch sử dụng phương thức kể, còn Quách Tấn lại sử dụng phương thức cảm, song ý thơ vẫn tương tự nhau.

Cái ý tưởng này còn được Quách Tấn sử dụng một lần nữa sát hơn , đó là hai câu cuối trong bài “Đêm tình”:

 “Phòng không thương kẻ ngồi nương triện

Tình gửi mây xa lệ ngập ngừng”

Dồn lại, ta thấy ý tưởng trong bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu”của Quách Tấn đã bắt nguồn lần lượt từ ba bài thơ nổi tiếng đời Đường. Từ đó thấy rằng lời nhận xét của Hoài Thanh về hồn thơ Quách Tấn như đã nêu ở trên là hoàn toàn chính xác.

             4. Ảnh hưởng thơ Đường với thơ Thâm Tâm:

“Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong “Tống biệt hành” lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp, lời thơ gắt. Câu thơ gân guốc, rắn rỏi. Không mềm mại uyển  chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại” (Hoài Thanh). Thâm Tâm nổi tiếng bởi “Tống biệt hành” và chính “Tống biệt hành” đã cho người đọc thấy thơ Đường đã ảnh hưởng như thế nào  đối với Thâm Tâm.

Đề tài tống biệt là một đề tài cũ, thường gặp trong thơ văn xưa ở Trung Quốc hay ở Việt Nam. Hầu như những nhà thơ nổi tiếng đều có những bài thơ hay về đề tài này như Lý Bạch, Đỗ Phủ (Trung Quốc), Nguyễn Du, Cao Bá Quát (Việt Nam) chẳng hạn.

Hành là một thể thơ cổ có trước đời Đường. Nó là một dạng của thơ cổ phong trường thiên với lối viết tự do, phóng túng, không hạn chế về số chữ trong câu, số câu trong bài và cũng không gò bó nghiêm ngặt về niêm, luật, vần, đối. Trong văn học Trung Quốc, chúng ta hay gặp những bài thơ viết theo thể hành như “Lệ nhân hành”, “Binh xa hành” (Đỗ Phủ), “Tỳ bà hành” (Bạch Cư Dị). Ở Việt Nam cũng có những bài hành nổi tiếng như “Sở kiến hành” (Nguyễn Du), “Đoản sa hành” (Cao Bá Quát). Riêng trong thơ ca lãng mạn, một số nhà thơ hay viết thể này như Thâm Tâm, Nguyễn Bính… và các bài hành thường sử dụng để diễn tả một tâm trạng bi phẫn, bi hùng như “Tống biệt hành”, “Trường can hành”(Thâm Tâm), “Vọng nhân hành”,“Hành phương Nam” (Nguyễn Bính)… Với một đề tài cũ, một thể thơ cổ như trên, nhưng tạisao từ khi ra đời đến nay, bài hành của Thâm Tâm lại hấp dẫn bao thế hệ người đọc?

Như thi đề của nó, “Tống biệt hành” là lời của người đưa tiễn, của tác giả đối với người ra đi, với “ly khách”. Vì thế, tình cảm trong bài thơ là tình cảm, là nỗi lòng của người đưa tiễn đối với người ra đi. Và thông qua tình cảm ấy người đọc sẽ hiểu thêmvề nỗi lòng , tâm trạng của ly khách. Bài thơ có hai đoạn thơ và bốn câu thơ sẽ đề cập là bốn câu thơ nằm ở đầu bài thơ. Các nhà phê bình thơ xưa và nay đều thống nhất rằng đây là bốn câu thơ hay nhất trong toàn  bài và đây cũng là những vần thơ mang âm hưởng thơ Đường. Bài thơ ‘Tống biệt hành”nổi tiếng cũng nhờ sức gợi, sức lay động của bốn câu thơ này. Bốn câu thơ thể hiện tâm trạng luyến lưu xao xuyến của người đưa tiễn trong buổi chia tay:

“Đưa người, ta không đưa qua sông

 Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”

Một số bạn cũ của Thâm Tâm cho biết, ông làm bài thơ này để tiễn  một người bạn đi lên chiến khu thực hiện chí lớn. Gần đây chính người được tặng bài thơ cũng xác nhận điều này trong hồi ký của ông, và ông còn có một bài thơ với nhan đề là “Gửi Thâm Tâm” cùng lời chú thích “người đã vìa ta mà viết bài hành Tống biệt”. Người ra đi, ly khách trong bài thơ là ông Phạm Quang Hoà (Đại tá Quân đội NDVN nay đã nghỉ hưu tại Hà Nội) và buổi tiễn đưa ấy, theo ông Hoà, ngoài người ra đi còn có ba người đưa tiễn là ba nhà thơ: Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Nguyễn Bính. Buổi tiễn đưa ấy diễn ra vào khỏang cuối hè năm 1939, và hôm ấy mỗi người tặng ly khách một bài thơ. Nguyễn Bính viết bài Chia tay, Trần Huyền Trân viết bài Tiễn đưa và Thâm Tâm viết Tống biệt hành (dựa theo Thế Anh, Góp thêm một vài tư liệu xung quanh bài “Tống biệt hành”của Thâm Tâm, Tạp chí Văn, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, số 5 – 2000, tr.91-93). Những bài thơ ấy đều hay nhưng bài thơ “Tống biệt hành”của Thâm Tâm lại nổi tiếng hơn cả. Bài thơ là nỗi lòng của người đưa tiễn đối với ly khách và qua nỗi lòng đó, người đọc sẽ hiểu rõ hơn về tâm trạng của ly khách. Trong bài thơ, “ly khách” buồn chiều hôm trước, buồn sáng hôm nay. Nhưng vì chí lớn nên ly khách vẫn quyết tâm ra đi và cố làm ra vẻ dửng dưng trong buổi chia tay: “ một giã gia đình một dửng dưng”… “ li khách! li khách! con đường nhỏ/ Chí nhớn chưa về bàn tay không / Thì không bao giờ nói trở lại/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong”. Câu thơ “Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không  bao giờ nói trở lại” nghe như một lời thề, một sự quyết tâm mà mỗi lần đọc câu thơ này, chúng ta lại nhớ đến lời thề của tráng sĩ Kinh Kha ngày xưa khi vượt dòng sông Dịch, từ biệt Thái tử Đan nước Yên để qua đất Tần hành thích Tần Thuỷ Hoàng đế: “Gió đìu hiu, sông Dịch lạnh lùng ghê/ Tráng sĩ một đi không trở về”. Nước sông hôm ấy lạnh thật! Lạnh đến nỗi mà cả nghìn năm sau vẫn còn thấy lạnh. Cái cảm giác này đã được Lạc Tân Vương, một trong tứ kiệt thời Sơ Đường cảm nhận rồi thốt lên trong bài “Dịch thuỷ tồng biệt”

Điều lưu ý là không gian tiễn đưa trong bài thơ này không phải là dòng sông ly biệt, dòng sông chia tay như chúng ta thường gặp trong thơ văn cổ. Dòng sông trong thơ văn xưa thường là biểu tượng của nơi đưa tiễn. Một Thái tử nước Yên tiễn Kinh Kha trên dòng Dịch Thuỷ để sau này Lạc Tân Vương khi đi qua dòng sông này, nhớ lại  chuyện xưa đã viết nên  tuyệt tác “Dịch Thuỷ tống biệt”; Một Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên về Quảng Lăng cũng bên dòng Trường Giang từ nơi phía tây lầu Hoàng Hạc “Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng”… Ở đây như đã nói, buổi tiễn đưa ấy không diễn ra nơi dòng sông: “ ta không đưa qua sông” nhưng lại “có tiếng sóng ở trong lòng”. Tiếng sóng ở đây là tiếng sóng lòng, là tình cảm , là nỗi đau của người đưa tiễn đối với ly khách. Vì là tiếng sóng lòng nên dòng sông ở đây chỉ là dòng sông tâm tưởng.

Tống biệt là đề tài xưa, hành là thể thơ cổ nhưng qua bài thơ này Thâm Tâm đã có sự đổi mới, cách tân, sáng tạo. Hình ảnh tiếng sóng trong lòng và hoàng hôn trong mắt có thể xem là hai hình ảnh độc sáng. Cũng là buổi tiễn đưa nhưng không có dòng sông ly biệt để gợi không khí bi hùng mà chỉ có nỗi buồn man mác, bâng khuâng. Cũng là buổi chiều ly biệt nhưng không có nắng vàng nhớ nhung mà chỉ có nắng không thắm, không vàng vọt. Chút nắng hoàng hôn ấy đủ để xâm chiếm cõi lòng và đọng lại trong đôi mắt của kẻ ở, người đi. Chính sự cách tân về hình ảnh, về cách diễn đạt ấy cùng với sự kết hợp hài hoà các biện pháp tu từ  mà cả bài thơ cũng như bốn câu thơ mở đầu đã tăng thêm cảm xúc cho người đọc. Ở đây, do hoàn cảnh lịch sử của thời đại, Thâm Tâm không thể nói rõ tiễn đưa ai và ly khách ra đi để làm gì mà chỉ biểu lộ lòng yêu nước sâu kín của mình qua tình cảm ngưỡng vọng đối với người bạn ra đi vì nghĩa lớn. Đó là điều giúp ta hiểu tại sao khi bình bài thơ này trong ‘Thi nhân Việt Nam” Hoài Thanh đã xem bài thơ “đượm chút bâng khuâng, khó hiểu của thời đại”. Cái đượm chút bâng khuâng đấy phải chăng do âm hưởng thơ Đường bao trùm toàn bài thơ, đặc biệt là bốn câu thơ đầu?

III. KẾT LUẬN:

Như đã trình bày, có thể khẳng định rằng thơ Đường đã có ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1932_1945. Tuy sự ảnh hưởng ở mỗi nhà thơ mỗi khác nhau  nhưng sự ảnh hưởng đó đã tạo ra một dấu ấn rất riêng, tạo ra những phong cách thơ khác nhau làm đa dạng, phong phú vườn thơ lãng mạn Việt Nam “Huống chi trong hàng thanh niên chịu ảnh hưởng thơ văn Pháp nhiều người lại quay về thơ Đường. Thanh thế thơ Đường ở nước ta xưa nay bao giờ cũng lớn. Nhưng vì cái học khoa cử, những bài thơ kiệt tác ngâm đi giảng lại hoài đã gần thành vô nghĩa. Nó chỉ là cái máy  đe đúc ra hàng vạn  thí sinh cùng hàng vạn bài thơ cổ.Đến khi khoa cử bỏ, chữ Nho không còn là một con đường tiến thân. Song thiếu niên Tây học cũng có người thích xem sách Nho. Họ chỉ cốt tìm một nguồn sống tinh thần. Họ đi tới thơ Đường với một tấm lòng trong sạch và mới mẻ, điều kiện cần thiết để hiểu thơ. Cho nên, dầu dốt nát, dầu nghĩa câu, nghĩa chữ lắm khi họ rất mờ, họ đã hiểu thơ Đường hơn nhiều tay khoa bảng”. Xin mượn lời của Hoài Thanh, nhà phê bình văn học nổi tiếng của thế kỷ XX để kết thúc bài viết nhỏ này.

      NGUYỄN CÔNG THANH DUNG

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Trọng San (biên soạn), Thơ Đường, 2 quyển, Bắc Đẩu, SG tái bản lần thứ 3, 1972.

2. Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, HN, tái bản, 1998.

3. Trương Chính, Nguyễn Khắc Phi, Văn học Trung Quốc, tập 1, NXB GD, HN, 1987.

4. Hoài Yên, Thấy gì khi đọc bài thơ “Đêm thu nghe quạ kêu” của Quách Tấn, Tạp chí Hán  Nôm – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số 3 –2001, tr.63-69.

5. Thế Anh, Góp thêm một vài tư liệu xung quanh bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm, Tạp chí Văn – Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh, số 5 –2000, tr. 91-93.     

                              ___________________________                  

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net