QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Kỳ 1

Kỳ 2

Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 2)

                  II- ĐẠO ĐỨC LÀ GÌ?

Một cách đơn giản, chúng ta có thể định nghĩa đạo đức là cách thế sống cho ra con người, sống "tử tế với nhau" như nhiều người vẫn nói. Nói rộng ra, về phương diện thực tiễn, đạo đức là một nghệ thuật sống theo những quy phạm, những chuẩn mực để đạt đến cái đẹp, cái thiện, cái thực xứng hợp trong mọi hoàn cảnh giao tiếp, cư xử trong cuộc sống. Môn học về những vấn đề hoàn thiện nhân cách được gọi là đạo đức học (tiếng Pháp gọi là Morale). Tuy nhiên, có thể gọi các vấn đề về đạo đức học là luân lý học sẽ gần gũi với chúng ta hơn. Từ "đạo đức" thường dùng cho những người có một đời sống tinh thần và phẩm hạnh cao; những vĩ nhân mà cuộc sống của họ là những khuôn mẫu như đức Phật, đức Khổng Tử, Lão Tử, đức Jesus v.v... Sống có luân lý là sống hợp với lẽ phải và với những giá trị tinh thần của đời sống con người. Ngược lại sống vô luân là sống coi thường mọi giá trị đạo đức, sống bất kể đến những kỷ cương của xã hội, sống không theo những giá trị tốt đẹp của truyền thống xã hội.

Do đó, sống có đạo đức, có luân lý đòi hỏi con người phải luôn nâng cao ý thức của mình vì mọi vấn đề căn bản của cuộc sống con người: ý thức đạo đức, bổn phận, quyền con người, trách nhiệm, lòng nhân ái v.v...

                 III- MỐI QUAN HỆ HÌNH THÀNH GIỮA CÁ NHÂN VÀ XÃ HỘI VỀ MẶT ĐẠO ĐỨC, LUÂN LÝ :

Để một xã hội có được sự ổn định, có trật tự người ta phải cần có luật pháp hầu để ngăn ngừa những hành vi sai lầm, không đúng hoặc xấu xa. Và khi có hành vi sai trái có ảnh hưởng đến xã hội phải cần có luật lệ để xử lý. Còn luân lý và đạo đức lại chú trọng việc đi sâu và nâng cao tâm hồn con người để họ có thể tham dự vào cuộc sống xã hội và môi trường sống chung quanh theo một cách thế vừa có ý thức, vừa có văn hóa.     

Cá nhân là một thành phần của gia đình và xã hội. Gia đình lại là một thành tố tạo nên xã hội và quốc gia. Mỗi gia đình, mỗi xã hội đều có sự tổ chức, sắp đặt theo những nền nếp, lề luật nhất định nhưng cũng có thể thay đổi theo sự phát triển và đồng thuận của các thành viên trong gia đình và xã hội.

                     1- Sự liên hệ giữa cá nhân và gia đình:

              Mỗi gia đình đều hình thành những thói quen, nề nếp riêng biệt theo truyền thống của mình. Hầu như mọi gia đình Việt Nam ta theo truyền thống ông bà để lại đều dạy dỗ, nhắc như con cái phải biết vâng lời cha mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng, thương yêu và đùm bọc mình. Ca dao đã từng khuyên bảo con cái trong nhà:

"Cá không ăn muối cá ương,

Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư."

hoặc: "Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ, kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

                Như thế, việc thờ kính cha mẹ, giữ tròn hiếu thảo là đạo làm con. "Đạo làm con" chính là nề nếp đạo đức, luân lý của gia đình thể hiện qua bổn phận của người làm con trong gia đình. Gia đình có êm ấm, hạnh phúc là nhờ vào những nề nếp như thế mà bất cứ ai cũng đều nhận thấy là cần thiết và đúng đắn. Nền tảng của truyền thống, nề nếp  trong gia đình bắt nguồn từ sự nuôi dưỡng và giáo dục ý thức luân lý, đạo đức cho mỗi thành viên trong gia đình. Vai trò đặc biệt quan trọng của người làm chủ gia đình là một nhân tố tích cực thúc đẩy, gìn giữ nề nếp để gia đình được hạnh phúc tốt đẹp.

              Sách Đại Học, một trong bốn cuốn sách (Tứ Thư) mà nền giáo dục Á Đông xưa chịu ảnh hưởng đã nhắc nhở: "Tu thân, tề gia" (mục 7, 8) nghĩa là muốn sắp đặt việc nhà, phải sửa đổi, tu tập bản thân mình (tề kỳ gia, tại tu kỳ thân). Có tu sửa bản thân tốt đẹp mới có thể làm gương sáng để nhắc nhở được con cái. Do đó, vấn đề luân lý khởi đi từ ngưỡng cửa của mỗi gia đình rồi mới có thể bước tiếp theo vào cuộc sống xã hội hay còn gọi theo cách xưa là: "trị quốc, bình thiên hạ" (muốn cho thiên hạ được thái bình, phải sửa sang việc nước cho tốt – Đại học, mục 9, 10)

Cho nên, nền tảng của việc làm cho thế giới được thái bình bắt đầu từ việc sửa sang, rèn luyện bản thân mình. Và truyền thống đạo đức của gia đình nếu được xây dựng với những chuẩn mực tốt đẹp sẽ là nền tảng để xây dựng và phát triển xã hội.

                           2- Sự liên kết giữa gia đình và xã hội:

                  Giữa gia đình và xã hội có sự liên quan gắn bó chặt chẽ với nhau. Gia đình êm ấm, hạnh phúc hòa cùng các gia đình khác trong cộng đồng dân cư sẽ là động lực thúc đẩy xã hội có được nề nếp luân lý, đạo đức tốt đẹp. Cá nhân vừa là điểm kết nối, vừa là chất xúc tác để gia đình và xã hội tiến bộ. Xã hội tiến bộ không chỉ là sự đánh giá trên đời sống kinh tế, mà còn chú trọng sự phát triển của một xã hội có văn minh, có văn hóa, có luật lệ rõ ràng, có tinh thần đề cao sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong xã hội. Đó chính là xã hội có nhân văn trong đó yếu tố gia đình là căn bản.

                Mặt khác, những định kiến của xã hội có thể thay đổi theo hoàn cảnh nhưng những chuẩn mực về luân lý và đạo đức chắc chắn phải luôn luôn đặt trên sự trong sáng, hướng đến cái thực, cái đẹp. Đó là quá trình không ngừng nâng cao theo con đường biện chứng: đã tốt đẹp, phải làm sao tốt đẹp hơn nữa; chưa tốt phải làm cho tốt, đã tốt cần phải làm cho tốt hơn. Khi gia đình và xã hội cùng quan tâm và tác động lên các sự kiện về đạo đức sẽ dễ dàng nâng cao ý thức của cá nhân. Và ngược lại, từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội một khi coi nhẹ những sai trái về đạo đức, xem những cái xấu là "việc bình thường", xã hội đó có dấu hiệu suy thoái về đạo đức. Những câu chuyện như tham ô khắp chốn, chạy điểm, chạy chức, chạy trường, chạy giấy tờ – hoặc sự nói dối, trốn tránh trách nhiệm, những thói ăn chơi xấu xa của một lớp người v.v... đều xem là "bình thường", "không đáng kể" sẽ là sự "vô cảm" trước các diễn biến xã hội tác động lên gia đình. Sự "vô cảm" (theo cách nói của báo chí và nhiều người bây giờ) là biểu hiện của những cá nhân, những con người tâm hồn đang chai sạn, rỗng tuếch trước mọi sự. Từ đó, con người "vô cảm" hờ hững trước khổ đau của con người, thờ ơ với các bất công chung quanh cuộc sống, ý thức về hành vi đúng, sai sẽ lẫn lộn; cái tốt, cái xấu không phân biệt rõ ràng. Nói khác hơn, con người vô cảm chỉ tồn tại, sống cho có chứ chưa biết cách sống và sống cho ra sống.

                Ngoài ra, cá nhân, gia đình và xã hội luôn luôn có những ảnh hưởng qua lại với nhau. Xã hội có văn hóa, có đạo lý vì cá nhân đã được dạy dỗ, giáo dục tốt từ trong gia đình cho đến nhà trường để sống sao cho có văn hóa, có đạo lý làm người. Sống là sống với môi trường xã hội chung quanh và nhân loại rộng lớn. Ý thức về bản thân mình sẽ giúp nhận ra vị trí của mình trong xã hội, sống cùng xã hội chứ không phải kẻ đứng bên lề hoặc đứng ngoài vòng để nhìn sự thay đổi xã hội. Và khi cá nhân có ý thức sẽ tạo nên xã hội có ý thức; ý thức cá nhân và xã hội luôn luôn được nâng cao để hướng về cái thực, cái đẹp, cái tốt. Ơ giữa đó, gia đình sẽ đóng vai trò giáo dục, xây dựng và nâng cao ý thức đạo đức cá nhân song song với việc giáo dục của xã hội. Gia đình tốt sẽ có những thành viên gia đình, những cá nhân tốt. Và nhiều gia đình tốt sẽ tạo ra một xã hội tốt đẹp. Ngược lại, xã hội bên ngoài càng lúc càng tốt đẹp, đời sống nhân văn được chú trọng chắc chắn sẽ tác động làm cho đời sống gia đình và cá nhân tốt theo.

Cho nên, mối quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội thường vẫn tác động qua lại với nhai. Những tác động tích cực, tốt đẹp sẽ dẫn đến xã hội văn minh với nhiều con người biết sống đẹp. Ngược lại, các tác động tiêu cực sẽ dẫn đến sự trì trệ, làm chậm đà phát triển, thậm chí đi xuống của cả một xã hội.

                IV- NHỮNG LÝ DO CƠ BẢN CỦA VIỆC ĐẶT RA CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC:

Dù ở hoàn cảnh nào, thời đại nào xã hội con người phải đặt ra những vấn đề đạo đức mà không thể nào thoái thác, lẩn tránh được vì những lý do cơ bản sau đây:

                 1- Bản tính con người:

Mỗi sự vật đều có những tính chất riêng biệt. Con người là động vật phát triển có trí thông minh cao hơn các loài khác và có những bản tính riêng biệt. Chúng ta thường gọi từ "nhân bản" như khi nói: "Đây là một xã hội tốt đẹp nhân bản" hoặc: "Đó là cuốn phim hay tràn đầy tính nhân bản" v.v... Vậy sống nhân bản là sống phù hợp với bản tính người khác với cách sống như loài thú vật không có suy nghĩ. Do đó, quá trình rèn luyện bản tính con người để sống cho ra người vươn lên khỏi bản năng loài vật bó buộc phải đặt ra vấn đề đạo đức.

               Chúng ta vẫn thường gọi tên các loài động vật: con chó, con mèo, con trâu, con lợn, con người... Quá trình đi từ loài động vật, thú vật trở thành con người có tư duy, có lý trí là một bước dài của sự tiến hóa. Và từ con người trở nên người có lương tâm, người có ý thức đạo đức, người có trách nhiệm v.v... là một quá trình rèn luyện, nâng cao ý thức đạo đức theo đà tiến hóa của xã hội loài người.

Nói chung, con người là một con vật có lý trí, và từ lý trí nó đã làm cho con người có bản tính khác với loài vật.

                 2- Con người sống trong một xã hội, một thế giới có trật tự:

Con người sinh ra trong mái ấm gia đình, lớn lên trong sự nâng đỡ, học hỏi từ xã hội. Xã hội loài người là xã hội có tổ chức, có trật tự. Thôn làng có thôn trưởng, phường có chủ tịch phường lãnh đạo...; trường học có hiệu trưởng điều khiển, chỉ đạo; thầy giáo dạy dỗ, hướng dẫn học sinh... Ở gia đình, cha mẹ có bổn phận và trách nhiệm nuôi dạy con cái v.v...; đi ra đường xá phải theo luật giao thông để khỏi gây tai nạn v.v... Con người có tuân theo tôn ti, trật tự của gia đình, xã hội và thế giới mới tạo cho thế giới được ổn định tốt đẹp.Trái đất quay chung quanh mặt trời, thái dương hệ quay theo những quỹ đạo của các galaxy, các vũ trụ lớn hơn. Trái đất có ngày đêm, có xuân, hạ, thu, đông... Vì thế, con người phải sống theo trật tự của thiên nhiên bên cạnh trật tự của xã hội, gia đình. Muốn sống trong trật tự ấy, con người phải đề ra các vấn đề đạo đức để xã hội được phát triển tốt đẹp hơn.

                3- Con người sống là con người hành động:

           Sự vận hành của trái đất là theo qui luật tự nhiên. Hết mùa xuân đến mùa hạ. Hết hạ qua thu rồi đến mùa đông. Con người hành động tuân theo trật tự xã hội và thiên nhiên với ý thức và sự tự do.

- Hành động của con người có ý thức để lựa chọn hành động sao cho xứng hợp, sao cho ra con người chứ không phải hành động theo bản năng của loài thú hoang dã.

- Và con người hành động có tự do và biết rõ giới hạn của sự tự do ấy. Con người không thể bay như loài chim, nhảy chuyền cành như loài khỉ, tự do nhịn đói để sống... Tự do nơi con người bị hạn chế bởi bản tính, bởi trật tự sẵn có. Cho nên, con người hành động và ý thức rõ về giới hạn của mình. Đặt ra vấn đề đạo đức là để chỉ rõ những giới hạn ấy.

               4- Con người "sống là sống với":

           "Sống với" có nghĩa là sống với thiên nhiên, sống với thế giới loài người, sống với xã hội chung quanh và sống với gia đình. Do đó, con người không thể hành động mà không có sự suy nghĩ và phán xét về hành động của mình vì hành động bao giờ cũng có những ảnh hưởng đối với môi trường sống cũng như những người chung quanh. Anh hưởng tốt là khi ý thức đúng đắn dẫn đến hành vi tốt đẹp về mặt đạo đức. Anh hưởng xấu là khi hành vi đạo đức sai trái, lệch lạc, gây ra những tác hại cho người khác và xã hội.

Mặt khác, con người sống là phải hành động. Lựa chọn hành động phù hợp và ý thức cao để có thể ảnh hưởng tốt đối với người chung quanh. Từ đó, bó buộc phải đặt ra vấn đề đạo đức để con người sống hòa hợp tốt đẹp với chung quanh và hành động luôn luôn có trách nhiệm, có ý thức.

          Người cha sống với gia đình luôn luôn sống có đạo đức sẽ là tấm gương sáng và ảnh hưởng sâu đậm lên con cái. Người thầy chân chính không những chỉ dạy tốt mà còn là người trao truyền và sống đạo đức để học trò học hỏi và tin tưởng. Nhà lãnh đạo mẫu mực trong cuộc sống, "cần, kiệm, liêm, chính" mọi lúc mọi nơi sẽ khiến người dân tin cậy vào công việc mình làm cho dân. Dĩ nhiên giữa đức và tài luôn đi đôi với nhau và rất cần cho người lãnh đạo là một vấn đề khác nữa cũng cần bàn luận.

           V- NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC PHẢI XÂY DỰNG THÀNH MỘT MÔN HỌC:

            "Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc, thập niên chi kế mạc như thụ mộc, bách niên chi kế mạc như thụ nhân" (Quản Trọng trong sách Quản Tử). Câu nói của hiền nhân xưa kia tạm dịch là: Kế sách cho một năm là trồng lúa, kế sách cho mười năm không gì bằng trồng cây, kế sách cho trăm năm, không gì bằng trồng người. "Trồng người" đòi hỏi xây dựng cả một quảng đời dài cả trăm năm, nghĩa là hơn cả đời người. Trồng người tức là nuôi dưỡng và giáo dục con người thành kẻ hữu ích cho xã hội. Các vấn đề giáo dục con người bao giờ cũng là mối quan tâm cao nhất của những người cầm vận mệnh xã hội và có lòng lo lắng cho tiền đồ mai sau của các thế hệ tiếp nối.

                 Do đó việc xây dựng những môn học để tìm hiểu, nghiên cứu về con người theo tinh thần khoa học phải đạt được sự khách quan, chính xác dựa vào việc tìm hiểu các nguyên nhân, các định luật và sắp xếp các vấn đề có liên quan về con người thành hệ thống. Đó là khoa nhân học hoặc khoa học về nhân văn, xã hội.

             Tuy nhiên, các vấn đề đạo đức, luân lý lại liên quan đến lĩnh vực tinh thần nên không thể tìm hiểu như phương pháp của khoa học thực nghiệm được. Những tiến bộ của các khoa học đặc biệt là các khoa học về nhân văn và xã hội sẽ giúp cho việc xây dựng môn đạo đức có hệ thống hơn chung quanh các vấn đề cơ bản như: lương tâm con người (hay là ý thức về đạo đức), bổn phận và quyền làm người, trách nhiệm, sự thưởng phạt, công bằng và lòng nhân ái v.v... Việc đối chiếu với thực tế sinh động sẽ giúp làm sáng tỏ vai trò của đạo đức, luân lý trong cuộc sống. Bên cạnh đó các kiến thức, sự hiểu biết về các môn khoa học nhân văn và xã hội cũng soi sáng và định hướng các vấn đề đạo đức.

                Một khi các vấn đề về đạo đức và luân lý được xây dựng thành môn học một cách có hệ thống, có nền tảng, có khoa học nó mới có thể giúp chuyển hóa đạo đức nơi con người, đặc biệt là các thế hệ trẻ sẽ tiếp thu cái đẹp, cái tốt, cái đúng dễ dàng hơn để mai sau áp dụng vào cuộc sống xã hội. Trình bày và đề cập (bỏ chữ đến)các vấn đề đạo đức cho lớp trẻ là điều cấp thiết phải làm để dần dà giảm trừ những tiêu cực, những cái xấu đang lan tràn mà chưa thể ngăn chặn được sao cho có hiệu quả. Và với nhiều người, việc giáo dục đạo đức một cách có bài bản, có cơ sở dựa trên truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trên sự tiến bộ của nhân loại về việc tìm hiểu đạo đức con người là một điều cần phải làm. Tất cả các hệ thống giáo dục trên thế giới đều quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, luân lý cho các học sinh ngay từ khi ở các lớp mẫu giáo và tiểu học. Cây tre muốn mọc nhanh, mọc thẳng phải được uốn nắn ngay từ khi còn non, còn trẻ. Bài học tưởng chừng xưa cũ ấy nhiều người biết đến nhưng không được quan tâm đúng mức nên mới xảy ra tình trạng thiếu đạo đức như xã hội hiện nay.

Nền tảng của môn học về đạo đức và luân lý ấy luôn luôn có sự đổi mới cho phù hợp với sự đi lên của nhân loại nhưng những giá trị đạo đức của truyền thống trước kia cần phải được tìm hiểu và giữ gìn những cái hay, cái đẹp để bảo tồn và phát huy. Cái nền không có thì ngôi nhà xây chắc chắn sẽ chẳng thể vững vàng gì. Vì thế, việc xây dựng đạo đức như là một môn học có hệ thống rõ ràng mới có thể đem lại hiệu quả giáo dục tốt đẹp. Các hành vi đạo đức của con người cần phải được tìm hiểu và xét xem do cách thức nào, nguyên nhân nào mà các quy luật đạo đức trở thành động lực cho các hành vi của các cá nhân. Môn học để tìm hiểu các động lực đạo đức ấy chính là môn đạo đức học hay môn học để biết cách làm người.

Có nhiều phương pháp để xây dựng các vấn đề đạo đức thành môn học. Nhưng có lẽ việc làm nghiêm chỉnh là phải dựa vào những vấn đề cốt lõi nhất, gần gũi nhất mà chúng ta đụng chạm, tiếp xúc thường ngày như đã đề cập bên trên (lương tâm con người, bổn phận, trách nhiệm, sự thưởng phạt, quyền lợi, quyền con người, lòng nhân ái, lòng trung thực v.v...). Ta có thể mượn đến các câu hỏi của I. Kant (triết gia Đức 1724-1804) khi tìm hiểu những vấn đề cơ bản của con người đã đặt ra ba câu hỏi lớn: -Tôi có thể biết gì? -Tôi phải làm gì? –Tôi được phép hy vọng gì? (Phê Bình Lý Tính Thuần Túy). Sử dụng các câu hỏi ấy như là phương pháp để tìm hiểu về các vấn đề đạo đức và giúp soi rõ thêm những khía cạnh khác nhau các vấn đề ấy.

Nói khác hơn, việc tìm hiểu các qui luật đạo đức sẽ thuận lợi hơn khi xây dựng từ các phán đoán, suy luận, từ cái riêng biệt đến cái tổng quát đối chiếu với thực tế. Thực tế là sự phản ảnh của các qui luật đạo đức. Hai việc ấy không thể tách rời nhau.

(Xem tiếp kỳ 3)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net