QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Kỳ 1

Kỳ 2

Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 3)

Chương hai

CÁC VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC CĂN BẢN

Ông cha chúng ta vẫn thường nhắc nhở con cháu: "Ăn ngay, ở lành" hoặc: "Làm lành, lánh dữ" v.v... Những lời khuyên như thế đã chỉ ra cho chúng ta cách thế sống đạo đức thông qua các hành vi của bản thân trong cuộc sống thường ngày.

Do đó, sống có đạo đức là sống hợp với nhân tính, sống phù hợp với bản thân và những người chung quanh theo những giá trị truyền thống được chấp nhận bởi xã hội đương thời hoặc không đi ngược lại với truyền thống đạo đức tốt đẹp đã có từ trước. Nói khác hơn, sống có đạo đức là sự thể hiện phẩm cách của con người trong mối tương quan với môi trường sống chung quanh. Khi chúng ta nhìn nhận một người nào đó có nhân phẩm, có nhân cách tức là người ấy biết cách sống cho ra sống, sống cho ra con người với việc làm, hành vi luôn luôn thể hiện có sự suy xét của lý trí, hợp với những qui tắc đạo đức truyền thống xã hội và phù hợp với mọi hoàn cảnh khác biệt của cuộc sống hằng ngày. Cách đây không lâu một người ra tòa với tội danh nhận hối lộ đã trả lời trước tòa án đại loại: Công việc anh ta làm ma không nhận tiền hối lộ là một chuyện lạ. Điều ấy có nghĩa là đã làm việc như anh ta làm (làm trọng tài bóng đá) người nào không nhận tiền hối lộ là chuyện khác thường. Hay nói khác đi, sống ngay thẳng, đàng hoàng, trung thực giữa những người tham ô, chuyên viên nhận hối lộ là khác với họ. Sống đạo đức giữa xã hội đạo đức sa sút không phải là điều dễ dàng. Cái xấu xa thì đầy rẫy khắp nơi lôi kéo biết bao nhiêu người theo nó; những sự tồi tệ vì đạo đức trở thành chuyện bình thường. Từ đó, không thể không xây dựng những vấn đề đạo đức cơ bản để có thể đưa vào việc cải cách đạo đức. Việc xây dựng này vốn lấy từ truyền thống đạo đức tốt đẹp còn thích ứng với xã hội đương thời và có những điểm chung nhất với các hệ thống xã hội khác nhau của nhân loại.

Chúng ta có thể đưa ra một số điểm chính yếu sau đây:

                        I- Sống đạo đức là sống phù hợp với điều thiện:

               Con người không hành động lộn xộn, bừa bãi mà phải biết phân biệt đúng, sai, thiện ác bởi vì con người là một sinh vật cao cấp có lý trí. Hành động theo lý trí là hành động của con người. Hành động theo bản năng là hành động vẫn mang nặng dấu ấn của sự hoang dã, của đời sống sơ khai khi chưa hình thành các cộng đồng xã hội loài người.

          Do đó, khi làm những điều tốt đẹp hướng về điều thiện và phù hợp với đạo lý tức là thực hiện nhân tính của cuộc sống con người có trật tự, có tổ chức, có luật lệ. Và để phân biệt đâu là cái xấu phải tránh, đâu là cái hay, cái đẹp, cái tốt phải noi theo cần phải có ánh sáng của lương tâm. Lương tâm trong sáng, vững vàng sẽ dẫn dắt hành vi đạo đức hướng đến cái thực, cái đẹp, cái tốt (chân, mỹ, thiện). Vì thế mệnh lệnh của lương tâm tùy thuộc rất nhiều vào quá trình giáo dục của gia đình và xã hội. Chính vì điều này mà xưa kia Khổng Tử trong sách Trung Dung có nói: "Thiên mạng chi vi tánh; suất tính chi vị đạo. Tu đạo chi vị giáo" (TD1 – Mạng trời sanh ra con người đều có cái tính bên trong. Noi theo cái tính là đạo. Sửa sang đạo đức để phù hợp với cái tính là giáo, tức là dạy dỗ, rèn luyện cho tốt, gìn giữ đạo làm người). Vai trò của giáo dục trong xã hội để con người có đạo đức vô cùng lớn lao. Đó là công việc của người đi trước, người trưởng thành, người hiểu biết giúp chỉ dẫn, nhắc nhở người đi sau. Đó là công việc của người lãnh đạo sáng suốt, kiến thức đầy đủ xứng đáng làm "cha mẹ dân" (phụ mẫu chi dân) để giáo dục người dân. Đó là công việc cũng của luật pháp đúng đắn, tiến bộ để cho trật tự xã hội được duy trì, đạo đức có cơ hội phát triển tốt đẹp.

             Ơ một đoạn khác của sách Trung Dung, Khổng Tử cũng có câu: "Tự thành minh, vị chi tánh. Tự minh thành, vị chi giáo" (TD, 21). Tạm dịch là: Tự mình hiểu rõ đạo lý là do cái tính trời cho. Còn làm cho sáng đạo lý, hiểu rõ đạo lý mà thành gọi là giáo. Giáo tức là sự rèn luyện, học hỏi để hiểu đạo lý làm người. Sách đại học có một câu rất nhiều người biết đến xưa nay đã nhấn mạnh thêm: "Cái học lớn lao của đạo làm người ở nơi chỗ làm sáng rõ cái đức tánh của mình" (Đại học chi đạo, tại minh minh đức)

Học trăm ngàn điều hay nhưng chưa làm sáng tỏ cái đức tức là phẩm cách tốt đẹp, hướng về điều thiện thì cũng chưa đủ để sống cho xứng đáng hai chữ con người. Trong những xã hội lộn xộn, kỷ cương rối loạn, đạo đức suy thoái chưa bao giờ tiếng nói và ánh sáng đạo đức lại cần thiết hơn bao giờ hết.

                       II- Sống đạo đức, sống hợp với luân lý là sống có nhân tính (acte humain):

             Lương tâm trong sáng, có giáo dục, có rèn luyện sẽ hướng dẫn hành vi con người phù hợp với nhân tính. Con người hành động có nhân tính là phải có ý thức trách nhiệm về hành vi của mình. Ngược lại là hành vi không hoặc thiếu tình người.

- Hành vi có nhân tính là hành vi đạo đức (acte moral) phù hợp với các nguyên tắc đạo đức của xã hội, của nhân loại. Hành vi không có tính người (vô nhân tính) sẽ được xem là hành vi vô luân (acte immoral) hoặc phi đạo đức (acte amoral)

- Hành động không theo các qui luật đạo đức chỉ được xem là những hành vi nhân sinh (acte de l' homme) nghĩa là hành động theo bản năng bảo tồn sự sống, hành động chưa qua sự phán đoán của lý trí. Những người hành động như thế gần gũi với bản năng của động vật tự nhiên và hoang dã.

Quá trình giáo dục sẽ dần dà đã làm thay đổi những hành động có tính chất bản năng thành hành động có ý thức. Vì thế, thực hiện hành vi theo qui luật đạo đức là quá trình biến "con người" trở thành NGƯỜI, hay nói tóm gọn là quá trình LÀM NGƯỜI.

                                  III- Sống tuân theo các qui luật đạo đức:

                Muốn LÀM NGƯỜI trong xã hội loài người, con người cần phải tuân theo những qui luật đạo đức. Khi bàn về các qui luật đạo đức, Immanuel Kant đã cho rằng nó có giá trị cho tất cả các hữu thể có lý trí. Mặt khác khi đưa ra mệnh đề: "Không có đạo đức sẽ không có tự do" (Trong Phê Bình lý trí thuần túy), ta thấy ý hướng của Kant sau khi tìm hiểu về các qui luật đạo đức đã kết luận: "Nếu không sống theo các qui luật đạo đức thì con người sẽ không biết mình có tự do".

Ý niệm tuân theo qui luật có trái với ý niệm tự do hay không? Đâu là nền tảng của các qui luật đạo đức? Tại sao ta phải sống có đạo đức? v.v... Những câu hỏi đặt ra chung quanh các vấn đề đạo đức sẽ được lần lượt tìm hiểu ở các chương tiếp theo.

                                                              Chương ba

                                        NỀN TẢNG CỦA CÁC QUI LUẬT ĐẠO ĐỨC

                  I- CÁC HỌC THUYẾT VỀ ĐẠO ĐỨC:

               Tại sao con người phải sống có đạo đức? câu hỏi đó đòi hỏi nhiều triết gia, nhiều nhà tư tưởng từ đông sang tây, từ xưa đến nay ra sức tìm hiểu và đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau:

                         1/ Đạo đức vụ lợi:

- Aristippe de Cyrêne (Thế kỷ 5 – TCN) triết gia Hy Lạp cổ xem sự khoái lạc là cùng đích đời người. Con người với cách nhìn thiếu sót như thế, sẽ chỉ còn đời sống của bản năng, phủ nhận sự vươn lên những giá trị cao quí tốt đẹp.

- Epicure (triết gia Hy Lạp 342-270 TCN) lại chủ trương đạo đức là sự lựa chọn giữa khoái lạc vật chất và khoái lạc tinh thần. Theo ông, người có đạo đức là người có đức hạnh để đạt hạnh phúc, tránh những khoái lạc không cần thiết để giảm bớt đau khổ. Con người đạo đức cần sống đạm bạc và vui với sự lựa chọn được cho là khôn ngoan khi biết gạn lọc những dục vọng thấp hèn.

- Mặc-Tử (đời nhà Hán bên TH. 200 TCN) đưa ra học thuyết "kiêm ái" chủ trương rằng người có đạo đức, có đức nhân làm việc là để dấy lên cái lợi của thiên hạ, trừ khử cái hại của thiên hạ nhờ đó mà được việc (nhân nhân chi sở dĩ vi sự giả, tất hưng thiên hạ chi lợi, trừ khử thiên hạ chi hại, dĩ thử vi sự giả dã – Kiêm Ai). Kiêm là bao gồm hết tất cả. Kiêm ái yêu mọi người như yêu mình không phân biệt sơ, thân, đẳng cấp. Với Mặc-Tử, thiên hạ không yêu nhau sẽ sinh loạn, và có yêu mến nhau sẽ có lợi lớn là thiên hạ sẽ thái bình. Vì không yêu nhau nên các chư hầu tranh cướp lẫn nhau, kẻ mạnh bắt nạt kẻ yếu, giàu khinh rẻ nghèo v.v... Ông lấy cái Lợi cho mọi người, cho thiên hạ làm thước đo đạo đức. Cái lợi ấy bao gồm cái nghĩa bên trong; phải biết lựa chọn cái lợi lớn và cái lợi nhỏ, cái nào có lợi cho thiên hạ, cho mọi người là làm.

       Các triết gia Hy Lạp còn hạn hẹp trong chủ nghĩa đạo đức cá nhân để chọn cái lợi. Trong khi quan niệm của Mặc-Tử hoặc Mạnh Tử, Tuân Tử sau thời đại của Khổng Tử bên Trung Hoa tầm nhìn lớn hơn, có tác động lên đời sống nhân quần xã hội nhiều hơn.

                              2/ Các học thuyết đạo đức thiên về xã hội:

        Nhiều nhà tư tưởng Tây Phương cũng như Đông Phương xem xã hội là nền tảng của đời sống đạo đức:

- Bentham (triết gia Anh 1748-1832) cho rằng sống có đạo đức là biết hy sinh những khoái lạc riêng lẻ của mình để có được một số khoái lạc lớn hơn bằng cách phụng sự lợi ích cho cộng đồng xã hội.

- Stuart Mill (triết gia Anh 1806-1873) cho rằng mục đích đời sống là mưu cầu một hạnh phúc đầy đủ và cao hơn cho nhiều người chứ không hạn hẹp ở đời sống cá nhân. Sống phải biết suy nghĩ và tìm đến công lợi chứ không phải lợi ích cá nhân (tư lợi). Ong khẳng định: "Thà làm một con người khốn khổ hơn là một con heo thỏa mãn, thà làm một Socrate bất mãn hơn là một người sung sướng" (Socrate là nhà hiền triết Hy Lạp sinh năm 470 mất năm 399 TCN, ông đề cao nhân bản và giáo dục đức hạnh cho con người để con người có thể biết rõ hơn về mình với những khả năng và giới hạn của nó).

Hành động đạo đức là biến mình thành một phần tử của hạnh phúc trong những liên kết giữa người và người.

- Đối với Durkheim (nhà xã hội học Pháp 1858-1917) lý tưởng cá nhân chỉ là một yếu tố của ý thức tập thể mà khoa học xã hội có thể khảo sát được. Y muốn của xã hội là định luật của đạo đức cá nhân. Khoa học về phong tục, về những cái được xem là tốt, xấu sẽ thay thế cho ý tưởng đạo đức cá nhân.

- Khổng Tử (551-479 TCN) quan niệm sống đạo đức là phải có đức nhân. Người có đức nhân (người quân tử) biết sống hòa hợp với chung quanh tuy không cùng ý kiến vì mình đã vượt lên xa rồi ("Quân tử hòa nhi bất đồng, cường tai kiểu – Trung Dung). Khổng Tử coi trọng việc giáo dục đức nhân, giáo dục để con người trong xã hội, nhân quần biết sống với nhau. Với ông, việc dạy dỗ con người không phân biệt ngu hay trí, sang hay hèn, dân hay quan, nòi giống này hay nòi giống khác... Ông đã khẳng định: "Hữu giáo vô loài". Do đó, từ Khổng Tử cho đến các đệ tử và sau này các hàng nho sĩ khi học đạo Nho đều muốn thành nhân để giúp đời, giúp xã hội.

- Mạnh Tử (372-289 TCN) hay Mạnh Kha là một người nối chí Khổng Tử làm sáng rõ hơn về đạo đức làm người. Với ông, ai sinh ra cũng có lòng thương yêu con người (Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm – Mạnh Tử). Ai không có lòng trắc ẩn không phải là người, không có lòng hổ thẹn không phải là người, không có lòng nhân từ, không biết nhún nhường không phải là người, không biết phân biệt phải trái không phải là người. Đó là bốn đầu mối của đạo làm người (Mạnh-Tử, Công Tôn Sửu, Tập Thượng). Và đạo làm người phải biết lo cho xã hội nhân quần, không "độc thiện kỳ thân", nghĩa là lo giữ thiện, làm lành cho riêng bản thân mình. Sống đạo đức là rèn luyện lòng nhân vì đức nhân sẽ làm cho người được yên ổn (Nhân, nhân chi au trạch giã – Mạnh Tử, Tập thượng).

Người có đức nhân là sống có đạo đức. Và sống có đạo đức là biết quí dân, yêu cái dân yêu, ghét điều dân ghét (Dân vi quý – M. T, Cáo Tử, Tập Hạ – Ly Lân, T. hạ). Dân tức là nhân quần họp nhau thành xã tắc, xã hội vậy.

                             3/ Học thuyết đạo đức tiến hóa do Herbert Spencer (1820-1903, triết gia Anh) chủ trương con người trong quá trình tiến hóa sẽ biết thích nghi với đời sống tập thể và sẽ hoàn toàn vì người khác. Dựa vào học thuyết của S. Mill ông cho rằng con người sinh ra vốn ích kỷ, nhờ kinh nghiệm và sự giáo hóa làm cho con người có tính bán vị tha (vị tha phân nửa) nghĩa là tìm lợi ích của kẻ khác trong đó có lợi ích của mình. Hành động đạo đức phân nửa là vì người khác dần dần chuyển hóa hành động hoàn toàn vì người khác; Luật tiến hóa theo Spencer là con đường tất yếu tiến đến sống vì người khác như là một nhiệm vụ đạo đức. Thực tế cho thấy con người vốn ích kỷ, bộ phận biết yêu con người quá ít ỏi khó thể nào biến thành hiện thực được.

                                4/ Học thuyết đạo đức thuần lý:

- I. Kant (triết gia Đức, 1724-1804) cho rằng hành vi đạo đức là hành vi phù hợp với bổn phận như là một mệnh lệnh tuyệt đối. Và dưới ánh sáng của lý trí con người phải hành động phù hợp với đạo đức. Con người nếu muốn vượt lên hàng động vật để sinh hoạt xứng đáng với tư cách một hữu thể có lý trí phải dựa trên lý trí, thuần túy theo một sự tiến triển không hạn định để tiến đến các khuôn mẫu đạo đức bằng con đường lý trí thực hành (la raison pratique).

- Với Khổng Tử của Trung Hoa (551-478 TCN) cái học lớn lao để làm người là làm sáng rõ cái đức (Đại học chi đạo tại minh minh đức – Đại học). Đồng thời, muốn tu tập, sửa đổi thân mình phải có lòng ngay thẳng, thành thật; muốn đạt đến sự thành thật phải có trí thức thấu đáo; muốn có trí thức thấu đáo phải nghiên cứu sự vật. (Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm; dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý; dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri; trí tri tại cách vật – Đại học, phần mở đầu). Nói khác hơn, chỉ có sự học hỏi, rèn luyện, giữ gìn đức hạnh và bằng lý trí sáng suốt mới có thể làm cho con người đến chỗ sống cho ra con người, sống xứng đáng làm người, sống có đạo làm người.

                               5/ Học thuyết đạo đức đặt trên tình cảm:

- Với Henri Bergson (triết gia Pháp, 1859-1941) đạo đức đặt trên nền tảng tình cảm vì con người luôn hướng cảm xúc của mình đến điều thiện. Một khi cảm xúc đã vượt lên trên và nhắm đến cái tốt, điều thiện, con người sẽ không cảm thấy bị áp lực xã hội mà chỉ hành động đạo đức theo tiếng gọi của lương tri. (Lương tri là sự thấu hiểu một cách tự nhiên về đạo đức, về cách thế làm người giữa cuộc đời được hình thành nhờ sự rèn luyện lý trí để hướng tới điều thiện).

- Mạnh Tử (372-289 TCN) người nối chí của đức Khổng Tử cũng đã cho rằng lòng trắc ẩn, biết thương xót là đầu mối của lòng nhân ái; lòng hổ thẹn là đầu mối của điều nghĩa; lòng khiêm nhường là đầu mối của lễ nghi; lòng biết phân biệt phải trái là đầu mối của lý trí. (Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; tu ố chi tâm, nghĩa chi đoan dã; từ nhượng chi tâm, lễ chi đoan dã; thị phi chi tâm, trí chi đoan dã – Mạnh Tử, Tận Tâm Thượng, Công Tôn Sửu, chương I, 6). Nhờ bốn đầu mối tình cảm này con người có điều kiện để "tu tâm, dưỡng tính" hướng về điều nhân nghĩa, điều thiện. Do đó, người có lòng nhân ái khi thấy những nỗi khổ đau sẽ dễ xúc cảm. Đó là lòng trắc ẩn. Và khi làm điều gì trái với lương tâm như nói năng giả dối, ngụy biện, tham ô của công, làm ăn tệ hại bê bối như làm cọc bê tông bảo đảm an toàn tính mạng cho người sử dụng đường xá lại làm cọc xi măng xấu (với cốt tre thay vì bê tông với cốt sắt) mà không hề biết xấu hổ là gì, không có chút cắn rứt của lương tâm. Mạnh Tử xem những kẻ không có lòng hổ thẹn như thế không xứng đáng làm người, không có đức nhân (Bất sỉ bất nhược nhân – Tận Tâm Thượng, 7 - sách Mạnh Tử). Từ "vô cảm" mà ngày nay thường được sử dụng cùng một ý như thế để chỉ hành vi đạo đức không có tính người. Làm người phải có lòng nhân từ, lòng yêu thương và quí trọng con người. Đó là thứ tình cảm đơn giản như mọi người đều có sẵn trong mình. Tình cảm có thể chưa được tốt nếu được giáo dục, dạy dỗ, soi sáng sẽ dần dà thay đổi để có tình cảm thật hơn, sáng hơn và đẹp hơn. Nói tóm lại, với Mạnh Tử chỉ sợ rằng con người không có tình cảm, không biết xấu hổ (lòng trắc ẩn, lòng tu ố) chứ nếu đã có chút gì tình cảm cũng có thể cải hóa dần để có tính thiện. (xem sách Mạnh Tử, mục Tận Tâm).

                    Nhìn chung các học thuyết bàn về nền tảng của các qui luật đạo đức rất đa dạng. Không ai dám nói mình là chân lý và học thuyết của mình có thể soi sáng và giải thích được các vấn đề đạo đức đặt ra. Ngay đến các vấn đề về khoa học cũng thế. Thí dụ như cùng nhìn và tìm hiểu các vấn đề vũ trụ từ thời của Platon (TCN) cho đến Newton và Einstein về sau này cách giải thích mỗi thời mỗi khác theo sự tiến bộ của khoa học. Vấn đề giải thích nền tảng các qui luật đạo đức cũng thế. Mỗi thời đại và theo đà phát triển của xã hội loài người, các nhà tư tưởng đều có những lý lẽ để giải thích vấn đề. Tuy nhiên, vấn đề đạo đức khác với khoa học thực nghiệm vì nhìn như thế nào, giải thích ra sao về các qui luật đạo đức nhưng mẫu số chung là nhằm cải thiện đạo đức và giúp xã hội được hoàn thiện hơn, sống tốt đẹp hơn. Con người và xã hội có sống tốt đẹp, hướng về điều thiện, nâng cao nhân tính mới mong có một thế giới hòa bình đúng với nghĩa của nó.

          Đồng thời, khi xã hội loài người tốt đẹp, con người sống có tình người và có tính người việc rèn luyện đạo đức cho các thế hệ tiếp nối sẽ dễ dàng và chắc chắn sẽ tốt hơn. Vai trò của những người đi trước với nhân cách vững vàng, biết sống hòa hợp với chung quanh, biết sống với tình cảm quí trọng, yêu thương con người sẽ ảnh hưởng rất lớn cho con cháu và thế hệ về sau.

        Tóm lại, mọi suy nghĩ vì các học thuyết đạo đức đều là thái độ lo lắng, nghĩ đến tiền đồ của xã hội loài người. Những học thuyết tốt đẹp, gần gũi, dễ áp dụng trong thực tế và đưa con người lại gần nhau, giúp con người sống cho ra con người, "sống tử tế với nhau" đều đáng trân trọng. Lựa chọn và đưa vào vận dụng những tư tưởng về đạo đức sao cho có thể áp dụng được và có hiệu quả là công việc của biết bao người quan tâm đến con người và vì con người, vì nhân loại.

         Nói khác hơn, các qui luật đạo đức đều dựa vào các vấn đề chính yếu, có ảnh hưởng trực tiếp và gần gũi với con người thường ngày như lương tâm, trách nhiệm, bổn phận, quyền lợi, thưởng phạt, lòng nhân ái v.v... Đó là những vấn đề mà ngày nay hầu hết các trường học trên thế giới từ các nước còn chậm tiến cho đến những nước tiến bộ thịnh vượng đều dựa vào đó để xây dựng những bài học về đạo đức. Đó là những điều mà nhân loại đã trải qua có tính chất phổ quát và thực tiễn. Như Goethe, văn hào Đức (1749-1832) đã nói: "Mọi lý thuyết đều xám xịt, riêng cây đời mãi mãi xanh tươi". Cuộc sống và con người, tương lai của nhân loại, nền hòa bình cho thế giới sẽ là màu xanh mà chúng ta nên hướng tới. Làm cho con người và thế giới mãi màu xanh tươi, mãi mãi hướng về chân, thiện, mỹ là con đường của các bài học về đạo đức không riêng của ai mà là của cả nhân loại. 

(Xem tiếp kỳ 4)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net