QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Miếu Khổng Tử ở Phước Đa

I. Địa điểm xây cất đầu tiên :

Nguyên thủy, miếu thờ Đức Khổng Tử tại Phước Đa hôm nay là Văn Miếu đầu tiên của huyện Quãng Phước, được xây dựng vào năm 1908 (năm thứ 2, đời vua Duy Tân).

Thời đó, miếu được xây bằng gạch, lợp ngói âm dương, diện tích không lớn lắm, do các cụ thân hào, nho sĩ trong huyện góp công, của thực hiện như: bà Bùi Thị Minh, ông Dương Tung ở Phú Diêm; ông Đặng Luân ở Bá Hà; ông Trương Nguyên ở Phú Thọ; các ông Lê Nhương, Cao Huỳnh, Võ Huy, Nguyễn Lai, Nguyễn Thúc Hoành, Lê Đức Trạch, Nguyễn Duy Phiên ở Phước Đa; ông Trần Đức Chánh ở Bằng Phước; ông Khóa Vận ở Vĩnh Phú …

Ngôi miếu tọa lạc tại chân núi Cấm, thôn Phước Đa, xã Ninh Đa, phía Nam đèo Bánh Ít. Trước  mặt ngôi miếu có con đường lớn, tục danh là đường miếu Bà hay miếu Chuột (vì ở giữa đoạn đường này có ngôi miếu thờ Bà Thiên Y A Na ) và cách khoảng 200 mét về phía tây bắc là quốc lộ 1.

Ngày đó, khu dân cư này còn thưa thớt. Dọc theo quốc lộ 1 có hơn mười gia đình cư ngụ như nhà các ông mười Hứa, ba No, năm Lẳng, mười Thơ, năm Đừng, thầy tư Thuần … gọi là xóm Khách Bắc.

Sở dĩ miếu thờ Đức Khổng Tử huyện Quãng Phước được xây dựng ở dưới chân núi Cấm vì nơi đây thuận tiện cho bà con hội viên đi lại lễ bái, đồng thời ở vùng này cũng có nhiều mẫu chuyện cũ, tích xưa được lưu truyền, thể hiện cái đức tính trung liệt, lòng hiếu thảo hiếm có của người xưa theo đạo lý thánh hiền. Hơn nữa, gần khuôn viên miếu ngày đó là ngôi trường Sơ học yếu lược Phước Đa.

Miếu thờ tồn tại nơi đây trên bốn mươi năm. Mỗi năm xuân thu nhị kỳ, hội viên tập trung về đây tế lễ.

Đến năm 1950, chiến trang ngày càng ác liệt, binh lính Pháp thường đến xóm Khách Bắc khủng bố, bắt bớ dân làng, đốt phá nhà cửa vì tình nghi đồng bào nơi đây tiếp tay với Việt Minh, ban đêm thường cắt đường dây thép (điện thoại) làm mất thông tin liên lạc giữa các đồn bót. Từ đó, hội viên không ai dám lai vãng đến miếu nữa.

II. Địa điểm di dời và xây dựng miếu mới :

Thấy tình hình bất an, việc đi lại khó khăn, nên năm 1952, các cụ Nguyễn Duy Phiên, Lê Đức Trạch, Nguyễn Thúc Hoành, Nguyễn Quận, Trần Đức Chánh … quyết định di dời miếu về bên cạnh đình Phước Đa, xây dựng lại và lập Chi hội Khổng học Ninh Đa, Ninh Phú, Ninh Quí.

Địa điểm mới là một khoảng đất rộng bốn trăm mét vuông ( 40mx 10m ) thuộc thôn Phước Đa 2, xã Ninh Đa. Phía đông giáp đình Phước Đa, tây giáp khu dân cư, nam giáp đường liên xã chạy từ thị trấn Ninh Hòa đến làng Tiên Du (Hòn Hèo) và xa xa là con sông Dinh cùng lũy tre tươi mát, phía bắc giáp đồng ruộng lúa.

Do nguồn tài chánh hữu hạn, chỉ nhờ vào sự vận động, tự lực chung sức chung lòng của hội viên, nên ngôi miếu chỉ được xây dựng đơn giản. Đó là một ngôi nhà gạch, lợp ngói móc, dài 7 mét, rộng 5 mét, dùng làm nhà chánh điện thờ Đức Khổng Tử và Tứ phối cùng các hội hữu quá cố.  Đến năm 1966, các cụ xây thêm bái đường rộng mét để có nơi sinh hoạt, tế lễ.

Tài sản của hội có 01 mẫu 05 sào 01 thước tư điền tọa lạc tại thôn Phước Đa 2, do các cụ hội viên khá giả trước đây mua của cụ Võ Huy, tặng lại cho Hội để hàng năm canh tác lấy hoa lợi cúng tế và nhang khói cho Đức Thánh nên được gọi là ruộng Văn Thánh. Việc mua tậu một số tư điền, mục đích của các cụ là duy trì việc phụng tự lâu dài, bởi không có gì quí và vững bền bằng đất. Từ ruộng vườn, đất đai mới có Xuân Thu nhị kỳ  cúng tế. Và cũng chính nhờ đất đã góp phần tôn tạo Văn Miếu được trường tồn với thời gian .

Sau ba năm gián đoạn, sinh hoạt Hội trở lại bình thường. Các ngày lễ Thánh đản, Thánh húy được tổ chức trọng thể, trang nghiêm.

Trong thời gian từ 1952 đến 1975, các cụ sau đây đã nối tiếp làm Hội trưởng : Cụ Trần Đức Chánh, cụ Nguyễn Duy Phiên, cụ Lê Trọng Quí, cụ Cao Thuần. Có điều ngạc nhiên là trong những năm này, con của các cụ có một số thi cử đỗ đạt, thành danh : anh Nguyễn Nỗi, con cụ Nguyễn Duy Phiên (cử nhân luật, 1965); anh Lê Trọng Phẩm, con cụ Lê Trọng Quí (cử nhân khoa Văn và Công pháp quốc tế,1966); anh Cao Trọng Bửu, con cụ Cao Thuần (cử nhân luật, 1977).

III. Thời kỳ khó khăn :

Cuối năm 1975, cụ Cao Thuần xin từ chức Hội trưởng, các cụ sau đây thay thế, tiếp tục công việc, mặc dù trước mắt có muôn ngàn khó khăn.

Nối tiếp chặng đường, cụ Lê Trọng Châu được cử làm Hội trưởng, các cụ Cao Cầm, Nguyễn Tư làm Hội phó, cụ Nguyễn Châu làm thư ký, cụ Phan Cương làm thủ quỹ kiêm thủ miếu.

Ngày 12/11/1979, HTX Nông nghiệp thị trấn Ninh Hòa mượn ngôi miếu làm kho chứa nhiên liệu, vật tư đến tận năm 1992 mới hoàn trả. Theo dòng chảy thời gian, cơ sở ngày càng xuống cấp, cộng thêm hậu quả trận bão lụt năm 1993, cổng miếu bị gãy đổ, bái đường trốc mái, hư hỏng trầm trọng !..

Thời bao cấp, kinh tế đất nước còn đang khó khăn … Hội viên còn phải lo bương chải mưu sinh, đời sống chưa mấy ổn định. Tiền bạc tài sản của hội không còn mà cũng không có nguồn thu nào khác. Từ ngày Luật điều chỉnh đất đai ban hành, tư điền của Hội được chia cho nông dân canh tác, thay vì các năm trước đưa vào làm ăn tập thể còn được HTX Nông nghiệp trả cho ít lúa hoa lợi, nhang khói qua ngày !

Thêm một khó khăn nữa là trong năm 1993, ban Quản lý có ba cụ là Hội trưởng, Hội phó và thủ quỹ lần lượt qua đời. Đó là lý do mà Văn Miếu chưa được tôn tạo, sửa chữa kịp lúc.

IV. Thời kỳ ổn định :

Xưa có câu “Sáng nghiệp nan, thủ thành bất dị”. Đứng trước tình hình khó khăn “tiền không, miếu đổ”, một số hội viên nhiệt tình đã cùng nhau vận động hội hữu xa gần hiệp lực khôi phục lại Văn Miếu, nhân dịp Thánh đản 27 tháng 8 năm Nhâm Tuất(1994).

Bước đầu một số hội viên quy tụ được 86 người, phần lớn là bà con thừa kế. Hội đã bầu ban quản trị mới gồm năm người. Cụ Trần Ngọc Nam làm trưởng ban, cụ Nguyễn Châu làm phó ban, các anh Lê Trọng Hường, Phạm Ngọc Tiềm làm thư ký và thủ quỹ, anh Trần Đức Thông làm thủ Miếu.

Trong lúc khó khăn, lần nữa, tập thể hội viên đã khắc phục, cùng nhau vươn tới.

Ban quản lý cố gắng vận động sự đóng góp của hội viên và bạn hữu xa gần ủng hộ công của để có phương tiện phục hồi, tu bổ lại cơ ngơi.

Ở đây, xin được một lần nữa tri ân UBND xã Ninh Đa đã tạo điều kiện cho Hội bằng cách cấp 1300 mét vuông ruộng trong quỹ đất của địa phương để hội viên tự canh tác lấy hoa lợi, nhang khói hàng năm.

Qua nhiều đợt vận động, tổng kết tính đến năm 2002, bà con trong hội đóng góp được 15 triệu 290 ngàn đồng và thân hữu ngoài Hội ủng hộ được 03 triệu 50 ngàn đồng. Trong đó, có 29 hội viên đóng góp từ 200 ngàn đồng trở lên, là :

Ông Phạm Ngọc Tiềm

840 ngàn đồng

       Lê Trọng Hường

720    “       "

      Trần Ngọc Nam

530    “       "

      Lê Chàm

530    “       "

      Phạm Nhứt

520    “       "

      Nguyễn Châu

480    “       "

     Trần Bình Sanh

470    “       "

      Đặng Ngọc Bôi

400    “       "

      Võ Hữu Hạ

400    “       "

      Lê Trọng Tiếp

380    “       "

      Phạm Ngọc Quận

360    “       "

      Lê Nhuận

360   “       "

     Trần Đức Thành

350   “       "

     Nguyễn Ngọ

300   “       "

     Nguyễn Thuận (TT)

300   “       "

     Phùng Lẽo

290   “       "

     Nguyễn Ngự

280   “       "

     Nguyễn Diệp Cầu

280   “       "

     Huỳnh Cường

280   “       "

     Lê Háo

260   “       "

     Lê Phúng

240   “       "

     Nguyễn Ngọc Diêu

240   “       "

     Nguyễn Tư

230   “       "

     Phạm Huyến

230   “       "

     Huỳnh Hữu Lộc

230   “       "

     Hồ Ân

230   “       "

    Trần Đức Thắng

210   “       "

     Dương Gành

210   “       "

    Trần Thành

210   “       "

Số hội viên còn lại đóng góp từ 200 ngàn đồng trở xuống.

Số Mạnh Thường Quân ủng hộ cho hội là 10 người :

Hiệu buôn Ngọc Linh       (Ninh Hòa)

01 triệu

Ô.Trương Quang Hưng  (Hoa Kỳ)

700 ngàn đồng

Cao Đắc Bửu                  (Hoa Kỳ)

200   “        “

Lê Trọng Tím                  (Hoa Kỳ)

200   “        “

Phạm Thành Kính           (Hoa Kỳ)

300   “        “

Trần Ngọc Thượng         (Na Uy)

200   “        “

HTX  Cơ giới nhẹ           (Ninh Hòa)

150   “        “

HTX Vĩnh Phước           (Ninh Hòa)

100   “        “

Hiệu buôn Giáo Hạ        (Ninh Hòa)

100   “        “

Bà Nguyễn Thị Tha        (Ninh Hòa)

100   “        “

Số tiền thu được, ưu tiên dành cho việc trùng tu sửa chữa :

Đơt 1 : Năm 1994, xây mới lại cổng miếu và bức tường đá chẻ phía tây, sơn quét vôi trong ngoài, chi phí hết 2 triệu 949 ngàn đồng.

Đợt 2 : Năm 1977, thay tôle, lợp ngói bái đường, đắp lân phụng, liễn đối ở mặt tiền hết 3 triệu 187 ngàn đồng.

Đợt 3 : Năm 2000, sửa chữa lớn nhà chính điện, xây sân miếu và lối đi ra đến cổng, chi phí hết 5 triệu 328 ngàn đồng.

Song song với công tác trùng tu, sửa chữa lại miếu vũ, Hội còn quan tâm đến việc vấn an tinh thần sức khỏe của hội viên :

-Thăm viếng, tặng quà khi hội viên đau ốm, tai nạn.

- Phúng điếu, chia buồn khi có hội viên đau ốm, tai nạn.

-Tổ chức lễ chúc thọ cho hội viên cao tuổi.

-Thành lập quỹ khuyến học để khen thưởng cho con em trong Hội học giỏi hoặc học sinh nghèo vượt khó.

Đến năm 2002, trong Ban quản lý có 2 thành viên qua đời nên trong dịp họp trù bị,  chuẩn bị lễ Thánh đản năm Nhâm Ngọ, Hội đã bầu lại Ban quản lý mới gồm 08 người là : Cụ Võ Hữu Hạ làm Trưởng ban, cụ Nguyễn Châu làm phó ban, các anh Lê Trọng Hường, Phạm Ngọc Quận làm thư ký và thủ quỹ, anh Trần Đức Thông làm thủ Miếu, và các anh Cao Mên, Cao Chín (CNQ), Trần Đức Thắng làm ủy viên.

Do việc phân chia lại ranh giới hành chính và địa danh thay đổi, hiện nay, ngôi miếu nằm trên phần đất thôn 9, thị trấn Ninh Hòa, nên Văn Miếu thêm một lần đổi họ thay tên. Và cái danh mới bây giờ là Chi hội Khổng học Ninh Đa, Ninh Phú và Thị trấn.

Phần kết :

Miếu thờ Đức Khổng Tử tại Phước Đa được hình thành  đến nay được khoảng 100 năm (1908 -- 2008),  đã một lần di dời và trải qua nhiều bước thăng trầm, có lúc tưởng chừng như mai một.

Ngày nay, ngôi miếu tuy chưa được khang trang và phát triển lớn mạnh, nhưng cũng không còn là một hình ảnh đáng buồn như mười năm về trước.

“Tre tàn, măng mọc”.  Thế hệ hôm nay cố gắng tôn tạo, giữ gìn cái di sản của cha ông ngày trước và … ước mong thế hệ con em rồi mai lại có dịp quay về với cái cội nguồn văn hóa của dân tộc.

Lê Trọng Hường – Lê Trọng Tiếp

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net