QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 4)

II- CÁC TÔN GIÁO VÀ HỌC THUYẾT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG ĐẠO ĐỨC:

Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay cho thấy các tôn giáo chân chính đã đóng góp tích cực vào việc rèn luyện, giáo dục và nâng cao đạo đức con người trong cuộc sống và cộng đồng xã hội. Giữa tôn giáo và đạo đức có những mối liên quan với nhau và kinh nghiệm thực tế cho thấy, nhờ có niềm tin tôn giáo đúng đắn mà nhiều người sống có đạo đức và hướng về điều thiện tốt hơn. Ba học thuyết và tôn giáo có ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống tinh thần và đạo đức của dân tộc ta là đạo Phật, Ki Tô giáo và đạo Nho.

1- Đạo Phật:

Một cách đơn giản, ta có thể tạm gọi đó là con đường của những người đi tìm sự giác ngộ, thấy được lễ đạo (đạo: con đường, Phật do tiếng Phạn là Buddha nghĩa là người đã giác ngộ). Đạo Phật ra đời cách đây khoảng 2500 năm do Siddharta Gautama (Tất Đạt Đa – Cồ Đàm) khởi xướng. Anh hưởng của đạo Phật thông qua những lời Phật dạy trong các bộ kinh theo các tăng đoàn lan tỏa từ Ấn Độ vào các nước Á Đông như Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly và ngày nay là một học thuyết được nhiều trí thức tây phương nghiên cứu và thực hành. Riêng ở nước ta, đạo Phật đã được truyền vào từ các thời Bắc thuộc và trở thành một tôn giáo gắn liền với các triều đại nhà Lý, nhà Trần đem lại sự vững mạnh cho đất nước. Ơ các triều đại này, tinh thần đạo Phật đã được thể hiện qua việc cai trị lấy tinh thần từ bi, hỉ xả làm gốc.

Những người am hiểu đạo Phật đều chuộng dùng từ ĐẠO PHẬT hơn là Phật giáo hiểu như là một tôn giáo. Đức Phật trước hết chỉ là một con người bằng nổ lực của trí tuệ đã đạt đạo, thấy rõ và thấu hiểu nỗi khổ đau của con người. Đức Phật thường nhắc nhở: "Các con là nơi nương dựa của chính mình, còn ai khác nữa để làm nơi nương dựa" hoặc "Hãy tự thắp đuốc lên mà đi" (Dhamma pa dà – Kinh Pháp Cú). Ngài luôn luôn tôn trọng sự tự do suy tưởng của con người vì chỉ chính bằng sự tự do suy tưởng, con người mới nhận rõ chân lý chứ không phải dựa vào ân huệ của thần linh hay bất cứ quyền năng nào. Và ngài cũng khuyên các đệ tử rằng kể cả những lời ngài nói cũng phải suy xét chứ đừng vội vàng tin theo (xem Trường Bộ Kinh). Đạo Phật bắt đầu bằng tinh thần tôn trọng tự do và lòng khoan dung với những dị biệt, những sự khác nhau về cách suy nghĩ, về tư tưởng. Sau này Asoka (A-dục vương) một hoàng đế ở thế kỷ thứ 3 – TCN một con người ham chinh chiến, giết chóc đã từ bỏ chiến tranh, học hỏi đức khoan dung từ đạo Phật đã cho khắc vào các trụ đá ngày nay vẫn còn: "... Bởi sự hòa hảo tốt đẹp, mọi người nên lắng nghe nhau và có thiện chí lắng nghe những lý thuyết của người khác đề xướng" (Rahula – Con đường thoát khổ). Và đức Phật vẫn xem sự chấp trước, sự lệ thuộc vào một điều nào đó để chê bai, khinh miệt những điều khác mà mình cho là thấp kém sẽ dẫn đến sự trói buộc, sự nô lệ.

Riêng khía cạnh đạo đức, con đường dẫn đến đức hạnh (Magga – con đường) cao nhất trong đạo Phật là chấm dứt, Dukkha (đau khổ) đạt đến sự an vui giải thoát. Trong đời sống hằng ngày việc rèn luyện đạo đức là để đưa đến sự an tĩnh, trí tuệ và giác ngộ. Bát Chánh đạo (hay là "tám con đường chân chính") sẽ giúp con người đi đến mục đích ấy:

a. Chánh kiến: sự thấy biết chân chính, thấy rõ vấn đề, không lệch lạc.

b. Chánh tư duy: suy nghĩ các vấn đề chân chính, đúng đắn.

c. Chánh ngữ: lời nói khi giao tiếp bao giờ cũng thành thật, đúng đắn, thiện chí.

d. Chánh nghiệp: lựa chọn công việc làm phải là việc đàng hoàng, đúng đắn, chân chính.

đ. Chánh mạng: cách sống ở đời cũng phải thể hiện sự tốt lành, ngay chính, không tà lệch, không đi vào cái xấu.

e. Chánh tinh tiến: sự cố gắng trong nổ lực tinh thần cũng như các công việc làm hằng ngày cũng luôn luôn theo đường ngay nẻo thẳng, theo điều thiện, lấy cái tốt để hướng đến.

ê. Chánh niệm: việc suy tưởng, các quan niệm đề ra và học hỏi phải đúng đắn, chân chính.

g. Chánh định: sự tập trung tinh thần để cho được an tĩnh, yên vui cũng phải theo con đường chân chính.

Tám con đường này liên kết với nhau gọi chung là "Giới, Định, Huệ". Con đường để trở thành người giác ngộ, người thấu rõ lẽ đời, lẽ đạo bằng cách sống đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng với một tinh thần vươn lên cái thực, cái đẹp, cái tốt lành bằng sự thương yêu (từ bi) bằng lòng khoan dung, lạc quan và độ lượng (hỉ xả) sẽ giúp con người sống có phẩm hạnh, có đạo đức.

Mặt khác, sự ra đời của đạo Phật trong bối cảnh xã hội Ấn Độ có sự kỳ thị, phân biệt đẳng cấp đã giúp cải thiện về sự công bằng, về quyền làm người và lòng chính trực trong cách nhìn nhận và đánh giá con người: Xã hội Ấn Độ thời ấy với các đẳng cấp lớp trên gồm đạo sĩ Bà La Môn, đẳng cấp chiến sĩ và dưới cùng là đẳng cấp tiện dân có một hố ngăn cách lớn lao. Nhưng từ khi đức Phật bắt đầu truyền giảng về đạo giác ngộ, đạo đức của con người mới chính là điều cần thiết nói lên phẩm giá của họ chứ không phải vì họ ở đẳng cấp này hay đẳng cấp kia. Trong Kinh Pháp Cú (Dhamma pa da – Phẩm Bà La Môn) ghi lại những lời Phật dạy có câu: "Chẳng phải vì núm tóc, chẳng phải vì chủng tộc, cũng chẳng phải nơi sanh ra mà gọi là Bà La Môn. Những ai hiểu biết chân thật, thông đạt chính pháp kẻ ấy mới chính là người Bà La Môn hạnh phúc". Như thế, chữ Bà La Môn (Brahamana) đã có một nghĩa mới mẻ để chỉ những người có phẩm chất thanh tịnh, trong sáng về mặt đạo đức chứ không phải người nào ở đẳng cấp Bà La Môn mới là cao quí đẹp đẽ và đẳng cấp tiện dân là xấu xa. Cách nhìn nhận một con người phải dựa trên đức hạnh, trên hành vi đạo đức của họ chứ không phải ở địa vị hay đẳng cấp.

Đức Phật, nhà hiền triết của Ấn Độ đã nói về sinh hoạt đạo đức: "Sống biết hổ thẹn, sống cầu mong sự trong sạch, không đam mê vui thú vật chất, sống khiêm tốn, thật thà, giàu kiến thức, sống như thế mới thật khó làm". (Kinh Pháp Cú – Câu 245).

- Tóm lại, đạo Phật đã đi vào nếp sống, cách nghĩ của người Á Đông từ lâu đời. Trong ca dao Việt Nam có câu:                     

"Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng, lại chen nhụy vàng.

Nhụy vàng, bông trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn."

Con đường "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn" là con đường rèn luyện đạo đức để thật sự có được cái đẹp, cái thực, cái thiện. Đó cũng là một nghệ thuật sống. Nguyễn Du trong Truyện Kiều có câu: "Tu là cội phúc" cũng theo ý hưởng ấy vì "tu" là sửa mình cho tốt để hướng về nguồn cội an vui, hạnh phúc. An vui hạnh phúc là phẩm chất cao nhất của con đường làm người trở nên chính mình.

2/ Thiên Chúa giáo và các tôn giáo khác dựa vào Thánh Kinh:

Là một trong những tôn giáo xem Thượng đế là một đấng siêu nhiên tạo dựng vũ trụ, vạn vật trong đó có con người. Con người là sản phẩm do Thượng Đế tạo dựng có lý trí và tự do để phân biệt thiện ác, làm điều lành tránh điều dữ.

Sống đạo đức theo tinh thần đạo Ky Tô là "mến Chúa yêu người" với lòng yêu thương rộng khắp (bác ái). Sách Thánh kinh Thiên Chúa giáo có câu: "Người nào yêu đồng loại, tức là giữ tròn lề luật".

Như thế, truyền thống của các tôn giáo tin vào Thượng đế theo thuyết hữu thần (théiome) dựa vào Thánh Kinh như Công giáo hoặc Tin lành đều cho rằng Thượng đế là nguồn gốc của sự hiện hữu, là nguồn gốc của sự vẹn toàn đạo đức bởi vì Thượng đế chí thiện. Con người sở dĩ có lương tâm, biết bổn phận, biết trách nhiệm biết hướng tới các giá trị cao cả của con người là vì niềm tin yêu vào Thượng đế như là nguồn cội của sự toàn hảo.

Các tôn giáo dựa vào Kinh Thánh chỉ mới du nhập vào nước ta khoảng từ thế kỷ 16 trở đi nhưng cũng có những ảnh hưởng nhất định trong đời sống đạo đức của những người theo đạo, giúp họ sống "tốt đạo, đẹp đời".

3/ Anh hưởng của tư tưởng Khổng, Mạnh đối với đời sống đạo đức:

Bên cạnh ảnh hưởng quan trọng của tư tưởng đạo Phật từ lâu đời, Nho giáo hay nói cho đúng là đạo Nho và tư tưởng Khổng, Mạnh đã có những ảnh hưởng sâu đậm đi vào nếp sống, nếp nghĩ của nhiều dân tộc châu Á như Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, v.v...

Trước khi Khổng Trọng Ni tức Khổng Tử (Thầy Khổng) xuất hiện, Nho giáo vốn là một hệ thống các tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh đã có từ trước. Những người giảng giải và học hỏi đạo của các thánh hiền để biết lẽ trời đất và đạo làm người được gọi là những người theo đạo Nho hay các Nho sinh. Và một khi thấu đáo lời dạy của các hiền nhân, rèn luyện đạo đức bản thân được tốt mới có thể ra đảm nhận việc dân, việc nước. Chữ "sĩ" đi kèm với chữ "Nho" chỉ rõ đó là những người có khả năng phân biệt đúng sai, thiện ác bằng tri thức đã được học hỏi, rèn luyện và dùng khả năng này để ra giúp dân, giúp nước. Nếu học đạo làm người tức đạo Nho chưa đầy đủ, chưa thấu đáo thì chưa đủ khả năng để làm việc giúp đời và chưa xứng danh với chữ "sĩ" (Nho sĩ).

Người có công sắp xếp, hệ thống hóa về đạo làm người để Nho giáo đi vào thực tiễn đời sống là Khổng Tử (551-479 TCN). Khổng Tử sinh vào thời đại Xuân Thu, nhà Chu suy nhược các chư hầu tranh giành đất đai, quyền lực gây nên chiến tranh triền miên. Ngài có tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Năm 19 tuổi, ngài thành gia thất rồi ra nhận một chức quan nhỏ coi kho gạo thóc. Tuy còn trẻ, ngài nổi tiếng là người siêng năng, chăm học và rất chú ý về lễ nghi, phép tắc của các tiền nhân. Từ năm ba mươi tuổi đến năm mươi tuổi (522-503 TCN), Khổng Tử đã là một bậc thầy có tiếng, học trò theo học rất đông nhưng các vua nước Lỗ, nước Tề dù khâm phục nhưng vẫn không dùng học thuyết của ông để trị nước. Ơ tuổi 35, 36, ông lại quay về nước Lỗ chuyên dạy học trò về đạo của các thánh hiền. Từ năm 51 tuổi, ông được vua Lỗ dùng và làm đến chức Nhiếp tướng sự, tham dự vào việc sắp xếp việc chính trị trong nước. Nhưng rồi thấy vua Lỗ ham chơi, bê trễ việc nước, ông xin từ chức bỏ qua nước Vệ rồi định sang nước Trần thì bị vây ở đất khuông do có sự lầm lẫn. Sau đó, ông lại quay về Vệ, rồi sang Tống, sang Trần. Được ba năm lại quay về nước Vệ. Ít lâu sau lại sang nước Trần, nước Thái rồi trở về nước Vệ ở năm, sáu năm không đi "chu du thiên hạ" nữa. Khi rời Lỗ đã 51 tuổi, đến khi quay lại Vệ đã 68 tuổi, trải qua 14 năm ròng rã. Bấy giờ, tuổi đã cao, ông không muốn ra làm quan giúp đời nữa mà mở trường dạy học trò, sắp xếp, sau định lại sách vở, soạn sách Xuân Thu cho đến khi mất. Những lời giảng dạy của ông trong cả quảng đời dạy các môn đệ được tập hợp, ghi chép lại trong LUẬN NGỮ, ĐẠI HỌC, TRUNG DUNG và một số sách nữa như Lễ, Ký, Nhạc ký... Toàn bộ các tư tưởng chính yếu của Khổng Tử đều lấy "Chí thiện" làm đầu mối cho đạo làm người (Chí thiện tức nhân). Ong thường nói với các môn đệ: "Đạo của ta suốt từ đầu chí cuối chỉ có một mà thôi" (Ngô đạo nhất dĩ quán chi – L. N, Lý Nhân, IV). Muốn xét rõ việc trời đất, vũ trụ rộng lớn thì điều căn bản nhất phải hiểu rõ đạo làm người. Do đó, muốn "làm người" phải hiểu "đạo", muốn hiểu "đạo" phải tu tập rèn luyện bản thân để trở thành kẻ "sĩ". Kẻ "sĩ" theo quan niệm trong giáo dục xưa kia là người luôn luôn học hỏi và đề cao năm đức tính cần cho đời sống đạo đức tức ngũ thường gồm: NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN. Trong chế độ giáo dục của các triều đại từ nhà Lý, nhà Trần, đến nhà Lê, nhà Nguyễn theo đường lối nho học thì việc tiến cử hiền tài ra giúp nước bao giờ cũng lựa chọn những người có sĩ khí bên cạnh các môn học khác của nho học. Các từ như cử nhân, tiến sĩ vừa chỉ học vị nhưng nghĩa lý đích thực là cử người có đức nhân, tiến cử người có khả năng làm việc, phân biệt đúng sai, thiện ác (sĩ) ra giúp vua trị nước. Các nhà nho như Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Nguyễn Thượng Hiền, Trần Quí Cáp, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng v.v... đều là các nho sĩ xuất thân. Và những kẻ sĩ ấy đều là những người thấm đượm tinh thần Khổng, Mạnh trong cách hành xử, giữ tròn tư cách của trí thức nho học: "Giàu sang không làm cho ham muốn, nghèo hèn lòng vẫn không thay đổi, cường quyền sức mạnh không hề sợ hãi khuất phục" (Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất – M. T, Tận Tâm Thượng, Đằng Văn Công, 2).

4/ Từ Nhân cho đến Nghĩa,Lễ,Trí.Tín:

a- Đạo làm người của Khổng Tử xoay quanh đức NHÂN. Tùy từng hoàn cảnh, tùy vào trình độ và tính tình mỗi người, Khổng Tử đã giảng giải về chữ nhân dưới nhiều hình thức:

- Khi Trọng Lung hỏi về đức nhân; ông đã trả lời: "Điều gì không muốn làm cho mình cũng đừng làm cho người" (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – L. N. Nhan Uyên, 2).

- Có khi ông lại nói: "Chỉ có bậc đạt được đức nhân mới biết yêu người, ghét người" (Duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân – L. N. Lý Nhân, 3).

- Với Khổng Tử việc dạy con người không hề có sự phân biệt (Hữu giáo vô loài). Cho nên ghét cái xấu, cái ác nhưng không hề ghét con người vì dù họ xấu xa vẫn có thể giúp sửa đổi rèn luyện để nên người. Ong nói: "Điều gì mình muốn làm nên hãy làm cho người nên; điều gì mình muốn đạt thành, hãy làm cho người được thành đạt" (Kỷ dục lập nhi, lập nhân; kỷ dục đạt nhi, đạt nhân – L. N, Ung Giã, 28).

- Có khi ông lại trả lời: "Rộng yêu mọi người, nhưng gần gũi với người nhân đức" (Phiếm ái chúng nhi thân nhân – L. N. Học nhi, 6).

Nói chung, khi tìm hiểu về chữ nhân, Khổng Tử có rất nhiều hình thức giảng giải và sau này những môn đồ nho học như Mạnh Tử, anh em họ Trình, Vương Dương Minh v.v... đều tìm cách giảng rộng rãi hơn. Nhưng xuyên suốt đức nhân là lòng thương yêu, quí trọng con người, đề cao con người biết sống cho nhân quần cho xã hội, cho hạnh phúc con người. Khổng Tử vẫn xem con người không phải ai sinh ra đã có đức nhân. Trong sách Lễ Ký và Luận Ngữ ông thường nhắc nhở môn đệ: "Ngọc không được mài giũa không thành vật dùng được, người không học không hiểu đạo làm người" (Ngọc bất trắc bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo). Do đó, muốn đạt đến đức nhân, muốn làm người và xứng đáng là người việc dạy dỗ, rèn luyện, nuôi dưỡng, giáo dục đạo làm người vô cùng cần thiết cho xã hội. Với Khổng Tử, Mạnh Tử người không biết thương yêu, quí trọng con người sẽ là những kẻ vô đạo, phi nhân nghĩa là không có đạo nghĩa và tư cách làm người. Còn người có đạo đức là kết quả của sự giáo dục lâu dài nối tiếp truyền thống mà cha ông đã gầy dựng. Trong đời Khổng Tử, ông rất ghét bọn giả nhân mà ông gọi là "xảo ngôn lệnh sắc, tiễn hỉ nhân" (L. N, Học nhi, I, 3) nghĩa là "Người nói năng ngọt ngào, ra vẻ hớn hở mà lòng không thực thà, không có lòng nhân". Và hình ảnh người dáng vẻ kiên nghị, nói năng chắc chắn, mộc mạc, giản dị sẽ gần gũi với lòng người (Cương, mộc, một cận nhân – LN, Tử Lộ, XIII, 27).

Như thế, lòng nhân và đức nhân là con đường làm người. Dù ở hình thức nào chăng nữa đạo làm người hay đức nhân là mục đích lớn lao của nho học để xây dựng những kẻ sĩ có thể đủ tài năng và đạo đức để đảm đương công việc xã hội.

b- Kế đến, NGHĨA  cũng là nền tảng của đạo làm người. Việc gì hợp với nghĩa, thuận với lòng người là sẵn sàng làm ngay (Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi – L. N. Vệ Linh Công, XV, 17). Người theo đạo làm người phải hiểu rõ về nghĩa, thấy việc nghĩa là xắn tay làm; và làm không vì ham lợi lộc, ham danh như kẻ tiểu nhân, kẻ không tốt. (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi – L. N, Lý Nhân, IV, 16). Người có đạo đức, người quân tử sống là chuộng nghĩa, chứ không cầu lợi vì lợi lộc là nguyên nhân gây ra biết bao sự xấu xa, sa sút đạo đức, bại hoại con người. Khổng Tử luôn nhắc nhở môn đệ: "Thấy việc nghĩa mà chẳng làm là kẻ không có dũng khí" (Kiến nghĩa bất vi, vô dũng giả – L. N. Vi Chính, II, 24). Được học hỏi từ tinh thần trong nghĩa như thế nên trong lịch sử nước ta mới có được những anh hùng. Chẳng hạn, Trần Hưng Đạo vì nghĩa lớn là chống quân xâm lược đã quên đi thù nhà; vì nghĩa lớn mà Trần Bình Trọng đã khẳng khái chịu chết chém hơn là theo giặc ngoại xâm; vì nghĩa lớn mà Lê Lai đã hy sinh để cứu Lê Lợi; Nguyễn Trãi đã gạt nước mắt khi Nguyễn Phi Khanh cha mình bị giặc Minh bắt đi theo đường vào Thanh Hóa bầy mưu tính kế giúp Lê Lợi chống giặc thù cho đến thành công. Do đó, tinh thần trọng nghĩa đã ăn sâu vào tâm hồn của biết bao nhiêu anh hùng, dũng sĩ của dân tộc ta để bảo vệ, gìn giữ cho đất nước được yên ổn, thái bình. Đó chẳng phải là nghĩa khí từ đạo làm người của đạo nho đó chăng?

c- Ngoài ra, LỄ là đầu mối trong việc giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày và ở trong xã hội. Đạo Nho của Khổng Tử đã giảng giải là lễ của người có đức nhân (hay là người quân tử) phải trọn bề với cha mẹ, người thân khiến cho dân chúng phát sinh lòng nhân ái; đối đãi với người cũ, bạn bè xưa không đổi thay, khiến cho dân chúng không bừa bãi, cẩu thả (Quân tử đốc ư thân, tắc dân hưng ư nhân; cố cựu bất di, tắc dân bất du – L. N. Thái Bá, VIII, 3). Nhờ có Lễ, và trau dồi về lễ mới có thể lập thân vững vàng để sống hòa hài giữa cuộc đời và giúp ích cho xã hội (Lập ư lễ – L. N., Thái Bá, VIII, 8. Bất học lễ vô dĩ lập – L. N., Quí Thị, XVI, 13). Như thế, sống có đạo đức, sống làm người phải biết kính trên, nhường dưới, phải kính cha, trọng mẹ, thương anh em; với người trong xã hội cũng thế phải biết khiêm tốn, chân thành, tôn trọng phép tắc lễ nghi mà chúng ta thường gọi là sự lễ phép. Người làm quan lo cho dân phải biết quí trọng dân. Mạnh Tử đã khẳng định: "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" (M. T, Cáo Tử, Tập hạ). Có dân mới có xã tắc, đất nước, có đất nước mới có vua, có quan. Do đó kẻ làm quan, làm vua nếu chỉ biết mình bắt dân quỵ luy tôn sùng mình là trái với đạo nghĩa, trái với mệnh trời. Nguyễn Du ngày trước khi làm quan được người dân kính trọng vì hành chính giản dị, lo lắng việc dân với tinh thần của một nho sĩ lấy lễ để cai trị dân. Tóm lại, con người có đạo đức hoặc muốn trui rèn đạo đức luôn luôn giữ lễ để có thể lập được thân; lập thân đòi hỏi sự vững vàng và khiêm tốn trong các mối quan hệ gần, xa hoặc trên dưới. Đương nhiên người không có lòng nhân cũng sẽ chẳng có sự trọng lễ. Người làm quan có lòng nhân sẽ biết lắng nghe, lo lắng và tôn trọng ý muốn của người dân. Đó là chữ Lễ rất cần cho cuộc sống xô bồ, lộn xộn như hiện thời.

d- Thêm vào đó, TRÍ cũng là nền tảng căn bản của đức nhân. Khổng Tử khi được hỏi về trí đã đáp: "Trí là biết người" (Vấn trí. Tử viết: Tri nhân – L. N. Nhan Uyên, XII, 21). Đạo làm người không những phải có lòng nhân để không lo lắng, có sự suy xét (trí) để không lầm lẫn việc đời và đức dũng để không hề sợ hãi khi làm điều nhân. (Nhân giả bất ưu; trí giả bất hoặc; dũng giả bất ại – L. N. Hiến Vấn, XIV, 30). Việc rèn luyện, dạy dỗ con người phải dựa vào việc tập tành về trí não để biết suy nghĩ cho đúng phân biệt đâu là đúng, đâu là sai trái hoặc xấu xa. Người có trí mà vẫn sai lầm chưa phải là người thực sự có trí, chưa thực sự là trí thức vì trí thức đòi hỏi sự tỉnh táo trong công việc, trong hành động đạo đức.

Mạnh Tử đã cho rằng: "Họa hại lớn của người tầm thường là thích làm thầy người ta" (Nhân chi hoạn, tại háo vi nhân sư – M. T, Ly lâu, 23). Người mà mỗi hành động đều gây ra họa hại là người tầm thường, học hành chưa đến nơi đến chốn, trí thức còn sơ sài, tài và đức kém cỏi mà dám làm kẻ soi đường chỉ lối, làm thầy thiên hạ. Đó là những kẻ chưa đạt được trình độ gọi là TRÍ của đạo nho. Vậy muốn đạt TRÍ nghĩa là có tầm suy xét việc đời cao, rõ ràng, không phạm sai lầm lớn lao. Việc cần thiết là phải giáo dục cho thật tốt, cho đầy đủ, có phương pháp, đúng thực chất để thể hiện được đạo lý làm người. Mạnh Tử cũng nhấn mạnh: "Con người cần cho có đạo lý, ăn cho no, mặc cho ấm, ở cho yên ổn mà chẳng có giáo dục, dạy dỗ tức sẽ gần với loài chim muông, loài thú mà thôi" (Nhân chi hữu đạo dã, bão thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cân ư cầm thú – M. T., Đằng Văn Công, Thượng).

đ- Sau cùng chữ TÍN cũng là một yếu tố làm nên nhân cách của con người từ người bậc trên cho đến người bên dưới. Đạo Nho rất chú trọng việc rèn luyện người hiền tài hay là kẻ sĩ để ra làm việc dân, việc nước. Vì thế, họ phải là người mẫu mực để cho người bên dưới và dân chúng nghe theo. Khổng Tử thường dạy môn đệ: "Nếu người trên chuộng NGHĨA, thì dân chúng chẳng ai không phục. Nếu người trên biết chuộng chữ TÍN thì dân chẳng ai không có tình cảm" (Thượng háo nghĩa, tắc dân mạc cảm bất phục. Thượng háo tín, tắc dân mạc cảm bất dụng tình – L. N, Tử Lộ, XIII, 4). Đã trọng chữ TÍN thì phải coi trọng ý muốn của người dân. Do đó, Mạnh Tử rất mạnh mẽ khi nói rằng: "Dân không tín nhiệm, thì khó đứng vững được" (Dân vô tín, bất lập – L. N, Nhan Uyên, XII, 7). Giữ tín tức là giữ đức nhân, trọng lễ, nghĩa, những đức tính ấy liên kết với nhau. Cho nên, ngày xưa những có đức nhân đi ra làm quan hoặc khi tiếp xúc với dân chúng thì như người ra cửa gặp khách quí, sai khiến cai trị dân như làm lễ lớn; điều gì mình không muốn, đừng làm cho người (Xuất môn như kiến đại tân, sử dân như thừa đại tế; kỷ sở bất dục, Vật thi ư nhân – L. N, Nhan Uyên, XII, 2).

Do đó, NHÂN, NGHĨA. LỄ, TRÍ, TÍN là năm đầu mối của đạo đức làm người ngày xưa. Những đức tính ấy nhờ tác động của nền giáo dục đã ăn sâu vào tâm trí của biết bao nhiêu thế hệ cha ông chúng ta nói riêng và các nước Á Đông khác nói chung. Những nhà tư tưởng lớn của đạo Nho như Khổng Tử, Mạnh Tử đều đặc biệt chú trọng nhắc nhở trực tiếp hoặc gián tiếp các bậc vua chúa, các hàng quan lại chỉ cầu mong họ một khi hiểu rõ đạo lý làm người sẽ là những nhân tố có tác động mạnh mẽ làm thay đổi và nâng cao đạo đức con người trong xã hội để dân chúng được yên vui hạnh phúc. Câu nói của người xưa: "Thượng bất chính, hạ tắc loạn" (Bên trên không ngay thẳng đàng hoàng, bên dưới sẽ sinh ra hỗn loạn. Và ngược lại, bên dưới thiếu sự rèn luyện đạo đức sẽ thiếu người có đức độ, hiền tài ra làm việc dân, việc nước. Một xã hội thịnh vượng và tiến bộ là khi trình độ dân trí cao và đều khắp từ bên dưới cho đến bên trên. Dân trí hay là trình độ hiểu biết mọi vấn đề khác nhau của cuộc sống từ các vấn đề xã hội, đạo đức, con người, sức khỏe, luật pháp, giao thông, môi trường v.v... Riêng về mặt đạo đức một xã hội có nhiều công dân tốt, nhiều nhà lãnh đạo tài đức sẽ là điều kiện cho một xã hội có văn minh, có văn hóa và nhân bản...

Ngày xưa, cửa Khổng sân Trình hay là các trường học dạy đạo Nho là nơi hun đúc, đào tạo người hiền tài hay là KẺ SĨ ra giúp đời. Con đường làm quan chỉ là phương tiện để thi thố tài năng giúp nước, giúp dân. Từ tinh thần ấy, những người giỏi theo con đường khoa cử hoặc khi đất nước cần đến sẵn sàng lo việc nước. Hình ảnh và con người Nguyễn Trãi là một tấm gương sáng của kẻ sĩ "ưu thời, mẫn thế". Cái lo lắng cho thời thế của Ức Trai thấm đượm tinh thần nhân, trí, dũng của đạo nho. Sau khi giúp Lê Lợi dẹp tan giặc Minh xâm lược ròng rã mười năm trời, ông cùng quần thần giúp Lê Lợi lo việc xây dựng lại đất nước. Khi bàn luận về LỄ NHẠC (một trong bốn môn học ngày xưa: thi, thư, lễ, nhạc) ông đã cho rằng ý nghĩa của lễ nhạc là làm thế nào để nơi hang cùng, ngõ hẻm không còn tiếng oán than người dân mới đúng là lễ nhạc. Rồi cuộc đời của các nho sĩ tiêu biểu như Nguyễn Du về sau cũng cho chúng ta học hỏi được về chữ nhân. Những năm ra làm Tai Bạ ở Quảng Bình với cách sử dụng hành chính nhẹ nhàng, giản dị đã được dân chúng kính trọng, tin tưởng.

Dĩ nhiên, kẻ SĨ cũng có nhiều loại người. Cho nên, Khổng Tử đã xem hạng kẻ Sĩ có khí độ nhỏ nhen như cái "đấu" cái "sao" (Đẩu sao chi nhân, hà túc toán dã – L. N, Tử Lộ XIII, 20) (Đấu, sao là đồ dùng để đo lường cũng để chỉ sự tầm thường không có gì đáng nói).

Ngoài năm đầu mối về đạo đức kể trên, kẻ Sĩ cũng cần đến đức DŨNG nữa. Kẻ Sĩ hay là người có đức nhân khi giàu sang không làm họ ham muốn, nghèo khó không làm họ đổi thay, sức mạnh không làm họ phải khuất phục (Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất – M. T, Đằng Văn Công hạ, 2). Sức mạnh của giặc xâm lược, của bạo lực, của cường quyền chẳng hề làm cho những kẻ Sĩ anh hùng như Trần Bình Trọng (thời chống giặc Nguyên), Nguyễn Thái Học, Hàm Nghi, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp v.v... (thời chống thực dân) đều là những người thấm đượm đạo thánh hiền đã vững vàng, không cúi phục khi rơi vào tay kẻ thù.

Có khi Khổng Tử đã thu gọn đạo của người quân tử hay là những người đạt đức nhân vào ba đầu mối: NHÂN, TRÍ, DŨNG. Tuy là ba đầu mối nhưng nói gọn lại đó là đức Nhân bao gồm hết thảy vì "Nhân tức là đạo làm người" (Nhân đạo – Trung Dung, 20). Về sau, Mạnh Tử cũng đưa ra một vế đối xứng thâu tóm đức nhân: LỄ, NGHĨA, LIÊM SỈ (Liêm sỉ là sự trong sạch rõ ràng và biết hổ thẹn khi làm điều gì trái với đạo làm người, trái với lương tâm). Đạo lý làm người thể hiện qua những đức tính ấy. Khi thêm vào và nhấn mạnh đến "liêm sỉ", Mạnh Tử đi vào thực tế hơn. Ong đã nói: "Làm người không thể không có lòng hổ thẹn". (Nhân bất khả dĩ vô sỉ – M. T, Tận Tâm Thượng, 6) và mở rộng ra ông cho rằng: "Hễ làm người phải có lòng nhân". (Nhân dã giả, nhân dã – M. T, Tận Tâm hạ, 16). Ngược lại, làm người mà không có lòng nhân chỉ như loài chim muông, cầm thú. (xem trên).

Trong các mối giao tế xã hội đặc biệt là các hoạt động liên quan đến tài chánh, lợi lộc có nhiều sự cám dỗ, "liêm sỉ" sẽ là thước đo lòng người. Lòng người khó biết được, nhưng cách thể hiện trong cuộc sống nếu ai giữ gìn được liêm sỉ sẽ là những hình ảnh của người tốt và có ích cho xã hội. Biết giữ gìn sự trong sáng và biết hổ thẹn sẽ đưa con người hướng đến điều thiện. Ngày nay nhiều kẻ chẳng có lương tâm nói chi đến hai chữ "liêm sỉ" mà Mạnh Tử thường dạy bảo.

Những đầu mối về luân lý đạo đức Khổng Mạnh đã có từ hơn hai ngàn năm nay ở Á Đông. Đó là những giềng mối then chốt để duy trì đạo đức và đạo lý làm người. Xã hội Á Đông ngày nay trước những ảnh hưởng của các nền văn minh phương tây có nhiều thay đổi và hướng về cái mới. Tiếp xúc với biết bao cái mới trong xu hướng toàn cầu hóa, việc giữ gìn truyền thống và những bản sắc đạo đức mà tiền nhân đã gạn lọc áp dụng vào việc dạy dỗ con người vẫn cần thiết. Cuộc sống chạy theo lợi nhuận, các phương tiện truyền thông tốt xen lẫn với nhiều loại truyền thông có nội dung xấu xa về đạo đức càng làm cho con người bị vong thân và thoái hóa đạo đức. Do đó, con đường duy trì và phát huy truyền thống đạo đức là sự lựa chọn hợp lý để bảo tồn những giá trị nhân bản.

Dương Anh Sơn

(Xem tiếp kỳ 5)

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net