QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT Ở DI TÍCH THÁP BÀ NHA TRANG

TS  NGUYỄN CÔNG BẰNG

(kỳ 2)

(Tác giả là Tiến sĩ khảo cổ học, nguyên là Giám đốc Bảo tàng Khánh Hòa, đã mất năm 2004)

I.4- Về chiều cao kiến trúc:

Nhìn chung tháp Chăm thường rất chú ý đến chiều cao, từ vị trí kiến trúc đến chiều cao của từng công trình. Vào thời kỳ sớm, các đền tháp Chăm thường được xây dựng trong một thung lũng và ở gần kinh đô của vương quốc, như ở thánh địa Mỹ Sơn, Đồng Dương. Tuy nhiên, từ khoảng thế kỷ thứ 9 trở đi do chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Khmer về tính hoành tráng cho nên những đền thờ của Chămpa thường được xây dựng trên đồi cao và luôn luôn hướng về phía Đông . Có thể do nhiều yếu tố, người Chăm không thể xây dựng những ngôi đền tháp thật cao, như kiến trúc Bôrôbuđu ở Indonesia, hay khu đền Angkor của Cămpuchia … Điều này có thể giải thích là do sử dụng các loại vật liệu để xây dựng mà chủ yếu là bằng gạch nung cho nên không thể xây dựng những công trình có qui mô như những kiến trúc kể trên.

Để giải quyết vấn đề này, người Chăm đã đưa ra một phương án có thể nói là tối ưu, đó chính là xây dựng các công trình trên những đồi cao. Được đặt trên những đồi cao, khiến cho người chiêm ngưỡng phải hướng lên phía trên và điều này hoàn toàn phù hợp với mục đích xây dựng, khi mà các tháp Chăm luôn thể hiện trên một không gian chiều cao.Tháp Bà được xây dựng trên một ngọn núi cao 20 m trong một không gian rộng lớn và được kết hợp một cách hài hòa giữa núi-sông- biển. Đồng thời, với 2 mặt bằng kiến trúc được xây dựng trên những độ cao khác nhau, tuy không nhiều ( khoảng 10 m ) song điều này khiến cho mọi người phải trải qua một con đường lên rất hẹp và dốc rồi cuối cùng mới lên đến các tháp.

Các tháp Chăm rất chú trọng đến chiều cao, như ngôi tháp chính có chiều cao là gần 22m; tháp Nam cao 18 m. Đồng thời, bằng những thủ thuật kiến trúc như những trụ ốp tường, những mảng khối rõ nét, các cửa giả và những trang trí trên thân tháp cũng như việc xây dựng những tầng trên, là hình ảnh mô phỏng của tầng dưới được thu nhỏ dần mà trên đỉnh luôn là một phiến đá sa thạch hình trụ tròn ( biểu tượng linga ) tạo cho tháp Chăm một vẻ hoành tráng và cao vút trong không trung.

Không chỉ có những biện pháp xử lý về mảng khối và các trang trí bên ngoài mà cả những kỹ thuật xử lý bề mặt bên trong các tháp cũng tạo ra hiệu quả rất lớn về chiều cao của tháp. Đó là việc xây vách thẳng đứng theo đúng tỷ lệ chiều cao của thân tháp và được xây giật cấp theo từng nấc nhẹ chụm dần lên đến đỉnh càng tạo ra cảm giác cao thăm thẳm của mỗi công trình.

I.5- Về chiều rộng:

Do chức năng là nơi thờ các vị thần An Độ giáo và đền thờ không phải là nơi để tín đồ đến tụ hội và cầu nguyện, mà chỉ có các vị Bàlamôn đã thụ pháp mới được vào đền để tổ chức tế lễ. Song những đền thờ này trong cùng một quần thể cũng có những chức năng riêng. Có đền thờ lớn để thờ các vị thần chính, bên cạnh đó lại có những đền thờ nhỏ hơn để thờ cho các bà vợ, các tùy tùng hay các con vật cưỡi linh thiêng của các vị thần chính hoặc thần phụ. Nếu như ngôi tháp chính là nơi thờ vị thần chính ở Pô Nagar: nữ thần Bhagavati ( Uma- sakti của thần Siva ) hay cũng chính là vị Đại nữ thần của vương quốc: Pô Iư Nagara- nữ thần mẹ xứ sở thì tháp Nam, tháp Tây Bắc chắc hẳn được dùng để thờ những vị thần phụ ( hoặc các con vật cưỡi của thần như “ hình ảnh con voi đáng kính” mà bia ký ở đây đã nói tới). Còn ngôi tháp Đông Nam do qui mô của nó thật khiêm tốn cho nên có thể đây chỉ là nơi cất đồ lễ để phục vụ cho các hoạt động về tôn giáo tín ngưỡng nơi đây.

Chiều rộng của các kiến trúc đền tháp Chăm còn phải được xem xét đến một bộ phận nữa, đó là gian tiền sảnh ở đằng trước mỗi tháp nối liền với gian điện thờ phía trong. Thông thường, cùng với chiều cao của kiến trúc thì chiều rộng của mỗi công trình cũng phần nào phản ánh chính xác vị trí của chúng trong tổng thể kiến trúc tôn giáo nơi đây.

Mặc dù có kích thước khác nhau song đây vẫn là một đặc trưng của tháp Chăm và những đặc trưng này đã được thể hiện rõ qua phần tiền sảnh của tháp chính. Gian điện thờ được mở ra bên ngoài bằng một tiền sảnh ( hành lang ) vách để trơn, có chiều dài là 2m7, rộng 1m6; vòm xây so le theo cùng kiểu của gian thờ. Hành lang kết thúc bằng một cửa gọi là cửa trong có cánh bằng gỗ. Từ ngưỡng cửa trong, một hành lang dài dẫn đến một gian khác phía ngoài nhỏ hơn có kích thước: 3m x 2m3, có vòm mái cao nhưng thấp hơn của gian điện thờ. Chỉ có ánh sáng tự nhiên chiếu qua cửa soi sáng cho gian này. Ngoài cùng là trụ và mi cửa bằng đá được chạm khắc những bia ký khá dày đặc. Các gian và hành lang này đều nằm ngang tầm gờ trên cùng của tầng nền chung. Bởi vậy, ở khu di tích Tháp Bà Nha Trang diện tích của các gian điện thờ cũng khác nhau, với các số liệu chính như sau:

Điện thờ tháp chính ( Kalan A ) : mỗi chiều là 6m1.

Điện thờ tháp Nam ( Kalan B ) : mỗi chiều là 4m7.

Điện thờ tháp Đông Nam ( Kalan C ): mỗi chiều là 1m8.

Điện thờ tháp Tây Bắc ( Kalan F ): mỗi chiều là 2m5.

Trong mỗi gian điện thờ này đều có những bệ tượng thờ dưới dạng linga-yoni bằng đá, cho dù hình thức biểu hiện không thật giống nhau. Điều đặc biệt so với các đền tháp Chămpa còn lại ở Việt Nam, đó là trong ngôi tháp chính, bên dưới bệ thờ có một đường thoát nước (Soma-sutra) dùng để tắm rửa tượng thờ ra ngoài.(4:228 ).

I.6- Mặt ngoài :

Mặt tường ngoài các tháp đều được trang trí những trụ ốp tường ( thường có 5 hàng trụ ) với những đường gờ chìm, nổi theo một tỷ lệ hợp lý chạy dọc theo thân tháp đến tận đường diềm phía trên. Trên thân tháp có 3 cửa giả ở 3 mặt : Bắc, Tây, Nam và trong những cửa giả này có những trang trí hình người, động vật. Càng lên cao là 3 tầng tháp nhỏ dần theo một tỷ lệ hợp lý, có cấu trúc giống như một ngôi tháp bên dưới, có những hình trang trí rất tỉ mỉ. Trên các tầng có nhiều tượng thần và các góc tháp thường có hình ảnh của các thiên nữ Apsara được gắn vào . Mỗi tầng trên lại lặp lại những hình ảnh trang trí của tầng dưới nhưng nhỏ dần đi và cuối cùng tụ lại vào một đỉnh nhọn vươn cao. Một mái vút cao ở phía trên gian điện thờ được xây theo kiểu so le giật cấp kéo thẳng lên đến tận đỉnh . Đỉnh là một viên đá hình trụ, biểu tượng của một linga. Phía Đông là một tiền sảnh kéo dài và cũng là cửa duy nhất để đi vào điện thờ. Những yếu tố đặc trưng này đều được thể hiện ở tất cả các ngôi tháp còn lại ở đây.

Bên cạnh đó, cho đến nay ở Tháp Bà chỉ còn lại 4 ngôi đền tháp song lại có 4 kiểu kiến trúc khác nhau về hình thức và mỗi loại hình tháp này đều mang đậm những yếu tố nghệ thuật kiến trúc của mỗi thời kỳ. Cho nên sự khác biệt của từng kiến trúc không chỉ thể hiện rất rõ ở phần đế và thân mà còn ở trên từng bộ phận mái. Nếu tháp chính ( kalan A ) mang đầy đủ những yếu tố truyền thống thì các tháp còn lại như tháp Nam lại có hình dáng của một hình nón úp ( có người gọi là hình củ tỏi ) với bộ mái của nó vút cao khum nhọn về phần đỉnh; tháp Đông Nam chỉ có một tầng theo mô hình con thuyền truyền thống của cư dân Đông Nam Á với đặc điểm hơi cong xuống ở phần giữa, và tháp Tây Bắc với hình thức xây dựng chỉ có một mái ( và là một khối đặc ) theo kiểu mái hình thuyền mà được trang trí hình nhọn lửa. Cho nên, điều này cũng góp phần tạo nên sự phong phú và tính sáng tạo mang dậm dấu ấn của nghệ thuật truyền thống Chăm được thể hiện trong loại hình kiến trúc tôn giáo có nguồn gốc từ bên ngoài.

1.7- Mặt trong :

Nếu như các nhà kiến trúc Chăm rất chú trọng đến việc trang trí bên ngoài thì bên trong tháp hoàn toàn khác. Để đi vào bên trong, cho dù dài hay ngắn thì tất cả các tháp ở đây đều có một hành lang khá hẹp, hơi tối vì thiếu ánh sáng dẫn thẳng vào gian điện thờ. Ở những tháp lớn như tháp chính ( kalan A ), và tháp Nam ( kalan B ), khi mà tiền sảnh là một thân tháp phụ được gắn vào thân tháp chính ở phía Tây luôn có sự ngăn cách giữa gian ngoài và gian bên trong ( gian điện thờ ) là 1 hoặc 2 lớp cửa bằng gỗ. Bên trong kalan là một gian điện thờ có bình đồ vuông rất chật, ở chính giữa gian điện, người ta để một tượng thần hoặc một ngẫu tượng thờ như linga-yoni và bao quanh là những bức tường gạch. Phần vách tường có thể nhận thấy có hai phần rõ rệt. Phần dưới, có độ cao tương ứng với chiều cao của thân tháp, trên các vách tường thẳng đứng thường để trống không có trang trí nào, ngoại trừ một vài hốc để đèn được khóet vào vách tường. Phần phía trên là những hàng gạch được xây theo kiểu giật cấp, so le nhau với một tỷ lệ vừa phải nghiêng dần vào phía trong, tạo nên một vòm mái khum dần vào trong và vươn lên chụm vào một điểm cao nhất của kiến trúc. Tuy nhiên, từ điểm xuất phát của phần trên chỉ có hai vách tường phía Bắc và Nam là được kéo dài lên với kỹ thuật xây dựng như đã nói, còn phần vách của các mặt Đông, Tây vẫn kéo dài lên đến đỉnh theo chiều thẳng đứng và được thu nhỏ dần lại tương xứng với độ khum của 2 vách Bắc Nam. Điểm chụm vào nhau của bốn vách tường cũng chính là đỉnh của ngôi tháp.

Với những đặc điểm nêu trên có thể nhận thấy, dù cho các ngôi tháp còn lại ở khu di tích Tháp Bà Nha Trang có thể không thật giống nhau về hình thức, qui mô kiến trúc, có tháp 3 tầng, tháp 2 tầng ( mái) và có tháp chỉ là một khối thẳng vươn lên trời song tất cả những kiểu thức kiến trúc cơ bản của một ngôi tháp Chăm truyền thống đều được qui tụ và thể hiện ở trong từng kiến trúc cụ thể, tùy theo từng ngôi tháp được xây dựng vào những thời gian khác nhau, mang theo phong cách kiến trúc của mỗi thời kỳ khác nhau tạo nên dáng vẻ bên ngoài có khác nhau. Chính điều này đã tạo cho từng kiến trúc trong quần thể Tháp Bà Nha Trang một vẻ độc đáo về nghệ thuật , sự phong phú về loại hình, mang đậm dấu ấn của mỗi thời kỳ trong lịch sử nghệ thuật Champa; đồng thời còn được tôn lên rõ ràng hơn trong từng ngôi tháp, trong từng mảng khối, đường nét cụ thể.

II- NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ:

Nghệ thuật trang trí, điêu khắc trên kiến trúc Chămpa luôn phát triển cùng với kỹ thuật xây dựng kiến trúc hoặc dựa trên cơ sở phát triển của kỹ thuật xây dựng. Trang trí và kiến trúc luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau; nghệ thuật điêu khắc trang trí thể hiện trên các tháp Chăm được kết hợp nhuần nhuyễn với kiến trúc, tạo cho các ngôi đền tháp có vẻ hài hòa và độc đáo. Kỹ thuật xây dựng và nguồn cảm hứng tôn giáo làm cơ sở cho nghệ thuật trang trí, đồng thời nghệ thuật điêu khắc trang trí cũng thể hiện phù hợp với trình độ kỹ thuật xây dựng, thúc đẩy kỹ thuật xây dựng phát triển để đáp ứng nhu cầu của thẩm mỹ tôn giáo. Cho nên, ở Tháp Bà tất cả các tháp đều được trang trí trên cả 3 phần : đế, thân và mái tháp.

TS  NGUYỄN CÔNG BẰNG

(Xem tiếp kỳ 3)

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net