QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 6)

IV- BẢN CHẤT CỦA LƯƠNG TÂM:

Tìm hiểu bản chất của ý thức đạo đức hay lương tâm là tìm xem những tính chất cơ bản của nó là gì. Tập trung, ta thấy có ba nhóm chủ trương ý thức đạo đức có bản chất bắt nguồn từ tình cảm, lý trí và xã hội.

A- Quan niệm chủ tình cảm:

Theo J. J. Rousseau (nhà tư tưởng Pháp 1712-1741) và một số triết gia khác chủ trương ý thức đạo đức là một cảm quan riêng biệt khác với giác quan mà cũng khác với lý trí. Đó là cảm quan đạo đức. Rousseau đã viết: "Hoạt động của ý thức đạo đức không phải là phán đoán nhưng là những tình cảm". Như thế, bản chất của đạo đức chính là những tình cảm bên trong cũng như khi nó biểu lộ ra ngoài.

B- Quan niệm chủ lý trí:

I. Kant lại chủ trương ý thức đạo đức chỉ là lý trí áp dụng vào thực tế, vào hành vi con người, hướng dẫn hành động con người chứ tình cảm theo sau không có giá trị gì cả. Kant chia lý trí con người làm hai phần:

- lý trí thuần lý (raison rationnelle vu théorique)

- lý trí thực hành (raison pratique)

Với Kant, chính lý trí thực hành mới phân biệt cho ta biết đâu là phải đâu là trái, đâu là thiện hay ác để hướng dẫn đời sống đạo đức chúng ta.

C- Quan niệm chủ xã hội:

1- Durbheim (nhà xã hội học Pháp 1858-1917), Hobbes (triết gia Anh 1588-1679) và các nhà chủ trương xã hội cho rằng phán đoán về giá trị, về phải trái, đúng sai chẳng qua là những phán đoán của xã hội thể hiện trong cá nhân ta. Cái mà ta gọi ý thức đạo đức hay tiếng gọi lương tâm chẳng qua là tiếng vang của tập thể, của xã hội vào tâm hồn cá nhân hay là ý thức tập thể đã được cá nhân hóa.

2- Sigmund Freud (nhà phân tâm học người Ao 1856-1939) chia bản ngã con người thành 3 mặt:

a- Vô ngã (le soi): gồm những bản năng, dục vọng, khuynh hướng không được thỏa mãn hay những ước muốn thầm kín sâu xa (le sa) bị dồn nén, không được xuất phát tự do trên mặt ý thức.

b- Bản ngã (le moi): là những biểu lộ hằng ngày của con người trên mặt ý thức. Dầu vậy, đó chỉ là sự biểu lộ không được tự nhiên; nó bị giằng co giữa le sa (vô ngã) và trước sự cấm đoán, kiểm soát của siêu ngã.

c- Siêu ngã (le sur moi): được coi là những mẫu mực, lý tưởng của con người nhằm kiểm soát, chế ngự vô ngã để cuộc sống bản ngã được quân bình. Nếu siêu ngã hay những lý tưởng đạo đức không kiểm soát nổi vô ngã, con người sẽ trở nên vô luân, phóng đãng và bản ngã sẽ biến thành nô lệ các dục vọng bản năng (le sa ?) của vô ngã. Nhưng nếu siêu ngã hoàn toàn cấm đoán khắt khe đối với vô ngã, con người sẽ bị tâm lý ẩn ức, dồn nén (refoulement) sinh ra bệnh hoạn, suy nhược tinh thần.

Lương tâm hay ý thức đạo đức theo S. Frend chính là siêu ngã nghĩa là một hệ thống gồm những cấm đoán, kiêng cử hoặc cưỡng bách của xã hội được thiêng liêng hóa và nội tâm hóa mà thôi.

D- Nhận xét tổng quát:

Bản chất ý thức đạo đức như thế nào là một vấn đề rất phức tạp, khó có thể quy kết vào bất cứ một quan niệm nào. Con người là một chủ thể có tình cảm, có lý trí, chịu ảnh hưởng xã hội nhưng con người còn có sự lựa chọn và tinh thần tự do nữa. Do đó, bản chất của ý thức đạo đức khó có thể xác định rõ ràng và rốt ráo, ngoài một số tiêu chuẩn về thiện, ác, đúng sai được lý trí, tình cảm hoặc xã hội đương thời nhìn nhận.

II- NGUỒN GỐC CỦA LƯƠNG TÂM:

A- Các thuyết bẩm sinh:

1- Thuyết của Mạnh Tử (372-289 TCN)

Mạnh Tử tức Thầy Mạnh tên thực là Mạnh Kha là một trong những người phát huy và thấm nhuần tư tưởng của Khổng Tử một cách xuất sắc. Ong mồ côi cha sớm, được mẹ hiền dạy dỗ và được thụ giáo một nho sư là môn đệ của Khổng Cấp (tức Tử Tư, cháu nội Khổng Tử). Ong đã góp sức đưa học thuyết của Khổng Tử được phổ biến rộng rãi, cụ thể và gần gũi nhân sinh.

Mạnh Tử đã lãnh hội sâu sắc tinh túy đạo Nho và cổ xúy cho thuyết thiên bản về lương tâm. Khi Khổng Tử nói: "Tính người thì gần gũi nhưng sự tập tành, học hỏi làm cho nó xa đi tính người" (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã – Luận ngữ). Mạnh Tử không dừng lại mà đã đào sâu hơn cũng như đưa ra các nhận xét cụ thể: "Không có lòng trắc ẩn, thương xót người là kẻ không có lòng nhân từ; không biết xấu hổ và ghét tội ác là kẻ không có lòng nhân; không có lòng kính trọng, nhường nhịn không phải là người có lòng nhân; không có lòng biết phân biệt phải trái là người không có lòng nhân, không có tính người" (Vô trắc ẩn chi tâm, phi nhân dã; vô tu ố chi tâm, phi nhân dã, vô từ nhượng chi tâm, phi nhân dã; vô thị phi chi tâm, phi nhân dã – Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Thượng, 6). Bốn đức nhân này đã làm người phải có và nó là đầu mối của ý thức đạo đức. Các nhà nho xưa theo cách nói của Mạnh Tử thường cho rằng: "Nhân chi sơ tính bản thiện" – Người ta sinh ra thuở ban đầu (hay là bẩm sinh) vốn là hướng về điều thiện. Do đó, theo Mạnh Tử nếu biết nuôi dưỡng lương tâm cho tốt đẹp sẽ trở thành người thiện hảo tức có đức hạnh cao mà ta gọi là bậc thánh nhân. Ngược lại, không biết nuôi dưỡng cải tâm để trở thành tốt đẹp, không biết thẹn, không biết xấu hổ, không có lòng thương người, không biết phải trái đúng sai chỉ là hạng tiểu nhân nhỏ nhoi không xứng đáng làm người mà chỉ như là loài chim muông, cầm thú.

Sinh ra tính vốn là thiện, nhưng muốn bồi dưỡng lương tâm cho thuần lương, cho tốt đẹp là phải bớt lòng ham muốn (Dưỡng tâm, mạc thiên ư quả dục – M. T, Tân Tâm hạ).

Ngày nay, tình trạng suy thoái đạo đức đã được nhiều người làm những điều xấu xa như chẳng hề biết xấu hổ khi phạm lỗi, tham lam của cải, tham ô của công, gian dối... gây ra bao chuyện đảo điên về đạo đức. Bản chất con người sinh ra là tốt đẹp đi chăng nữa thì môi trường xã hội, công việc giáo dục nếu không chú trọng sửa sang cho trong lành và thúc đẩy nó thì khó nâng cao được đạo đức con người. Hình ảnh bà mẹ Mạnh Tử xưa kia biết lựa chọn môi trường giáo dục để lo cho con mới có thể có được một bậc á thánh như thế.

2- Thuyết bẩm sinh của Jean-Jaque Rousseau (1712-1741)

J. J. Rousseau được xem là nhà giáo dục tiên phong của tây phương chủ trương trở về với tự nhiên, trong đó lương tâm con người là một bản năng thuần túy tình cảm. Trong cuốn sách Emile (hay là Luận bàn về giáo dục-1762) ông đã viết: "Chúng ta không hề đi học để muốn điều thiện, tránh điều ác, cái ý muốn đó là do trời sinh ra. Người ta yêu thiện, ghét ác cũng tự nhiên như người ta yêu quí mình vậy. Những hành động của lương tâm không phải là phán đoán mà là tình cảm". Theo đó, lương tâm con người sinh ra đã có sẵn trước cả sự phát triển của lý trí. Ong đã nhận định: "Lương tâm không bao giờ dối gạt... Ai theo nó là theo về thiên nhiên và không bao giờ sợ lạc lối". Với Rousseau, lương tâm là người hướng dẫn đúng đắn để nâng con người lên trên loài vật. Và lương tâm là quan tỏa không lầm lẫn để xét đoán thiện ác (Un juge infaillible du bien et du mal).

Tuy nhiên Montaigne và Pascal đã nhấn mạnh đến tính chất hay thay đổi của lương tâm hoặc cách nhìn nhận lương tâm mỗi nơi có khác nhau: "Bên này dãy Pyrénées được xem là chân lý thì bên kia dãy Pyrénées lại cho là sai lầm" (Vérité en deca des Pyrénées, erreur au delà). Mặt khác, trong thực tế, lương tâm có khi vẫn sai lầm khi làm theo tiếng gọi của lương tâm nhưng vẫn phạm vào điều xấu với một niềm tin chân thành và ngây thơ là đã làm điều tốt, điều thiện. Do đó, theo Kant, hành động đạo đức cần phải dựa vào các qui luật đạo đức mà nền tảng là lý trí thực hành tức khả năng nhận thức các sự việc. Tình cảm không thể dẫn dắt đúng đắn cho lương tâm nếu thiếu ánh sáng của trí tuệ. Và Kant đã nhận định rất đúng: "nhân đức không làm ta hạnh phúc, nhưng chỉ xứng đáng được hạnh phúc".

3- Thuyết tập thành (Thèse génétiste)

Thuyết này chủ trương lương tâm có được do kinh nghiệm, thói quen và ảnh hưởng xã hội mà dần hình thành.

3.1- Với phái duy nghiệm do Stuart Mill (1806-1873) khởi xướng, lương tâm là do kinh nghiệm hằng ngày mà có từ những thói quen tạo thành cùng với sự tiếp nhận từ môi trường chung quanh. Spencer (triết gia Anh 1820-1903) lại bổ túc bằng thuyết tiến hóa cho rằng ý thức đạo đức do cá nhân thu thập được từ trước rồi truyền lại cho con cháu, lại được kiện toàn sau nhiều thế hệ làm cho nó thêm tốt hơn vì kinh nghiệm càng về sau càng đầy đủ và phong phú hơn.

Tuy nhiên, chủ trương của Stuart Mill và Herbert Spencer cho thấy kinh nghiệm và sự tiến hóa không đủ hình thành ý thức. Thế nào là điều thiện, đâu là cái ác, sao gọi là đúng, là sai đều cần phải dựa vào các qui luật đạo đức được xét định bởi lý trí như là một khả năng phán đoán. Ơ đây, một lần nữa, chúng ta thấy học thuyết của Kant rất hợp lý vì lý trí thực hành sẽ giúp ta đi đúng hướng hơn trong việc tìm hiểu nguồn gốc của lương tâm.

3.2- Với phái duy xã hội do Durkheim (nhà xã hội học Pháp 1858-1917) đề ra lại chủ trương ý thức đạo đức là do sự học hỏi của cá nhân nơi xã hội. Ong viết: "Khi lương tâm nói, chính là xã hội nói trong ta". Blondel (triết gia Pháp 1861-1949) đi sau Durkheim đã đẩy mạnh thêm khi cho rằng lương tâm đóng vai trò quan sát, đánh giá bên trong để phán xét hành động đạo đức nơi ta. Hay nói khác hơn, lương tâm chính là đoàn thể đặt chỗ ngồi trong ta.

Vai trò của xã hội chắc chắn có tác động mạnh mẽ vào lương tâm của con người qua những hình thức khác nhau đặc biệt là việc giáo dục và môi trường xã hội. Đó là điều rất hiển nhiên và khoa học. Tuy vậy, lịch sử nhân loại cũng đã cho thấy sự ra đời của các cá nhân với trí tuệ lớn lao có khi đã làm thay đổi bộ mặt của nhân loại như sự ra đời của đức Phật, đức Ki-Tô, đức Khổng Tử v.v... đã hướng nhiều bộ phận nhân loại đi đến các giá trị tốt đẹp. Ơ đây chúng ta chỉ muốn nói đến con đường tìm kiếm chân lý và những lời dạy trí tuệ của những vị ấy, còn hình ảnh của họ qua lăng kính tôn giáo với sự sùng bái là một việc khác nữa. Do đó, cá nhân tài ba vượt bậc có ảnh hưởng đến xã hội và ngược lại xã hội cũng là cái nôi để sản sinh các cá nhân.

VI- NHẬN XÉT CHUNG:

Lương tâm nếu không dựa trên các qui luật đạo đức sẽ có thể thay đổi hoặc sai lầm khi áp dụng vào các trường hợp riêng trong đời sống. Qua bao nhiêu thời đại, lương tâm cũng thay đổi nhưng chắc chắn nó có những vấn đề bất biến không hề đổi thay theo thời gian: làm con phải có sự hiếu kính cha mẹ, vợ chồng sống với nhau cần giữ lấy vừa tình vừa nghĩa, trẻ phải kính trọng người già cả, con người sống trong cộng đồng xã hội phải đùm bọc, giúp nhau, con người sống cần phải có tình con người v.v... Đó là những luật tắc đạo đức ở bất cứ nền văn minh tiến bộ nào cũng đều tuân thủ như là một nề nếp của cuộc sống dựa vào tiêu chuẩn tốt, xấu – thiện, ác – đúng, sai. Vì thế, chúng ta cần hành động theo lương tâm tuy nó có thể sai lầm. Và để tránh sai lầm, con người cần được giáo dục lương tâm dưới ánh sáng của lý trí. Một khi hành động đạo đức có suy xét bằng vào sự dẫn dắt của lý trí sáng suốt nhờ ảnh hưởng giáo dục hoàn thiện, tốt đẹp thì những tiếng nói lệch lạc, sai trái từ lương tâm như lòng tham, sự dối trá, sự ích kỷ v.v... nghĩa là những mầm mống xấu xa sẽ bị tiêu trừ. Giáo dục lương tâm ngày nay ở bất cứ nơi đâu đều cần thiết để có được những con người tốt đẹp thật sự và đúng nghĩa: sống với cộng đồng, xã hội như là một con người có lý trí rõ ràng, có tình người đầy đủ. Đây là một vấn đề đạo đức cần được mở rộng trong phạm vi giáo dục.

Thêm vào đó, việc giáo dục lương tâm đạo đức cho con người phải dựa vào truyền thống đạo đức tốt đẹp có từ trước của xã hội, loại bỏ những hành vi phản đạo đức hoặc ngộ nhận những hành vi xấu, không được đẹp đẽ là đạo đức bình thường. Chẳng hạn, chúng ta thường thấy sự tương phản về giáo dục khi nhà trường dạy cho học sinh biết thương người và có lương tâm nhưng khi tiếp xúc bên ngoài các học sinh ấy thậm chí người lớn cũng thường có thái độ dửng dưng, thờ ơ khi gặp những trường hợp hoạn nạn. Đó là sự vô cảm (theo cách nói bây giờ) dẫn đến vô lương tâm, vô đạo đức nghĩa là không có sự xúc động của tình người, không có ý thức về lòng thương người v.v...). Hoặc những chuyện tham ô, lợi dụng chức vụ để bòn rút của công, bòn rút tiền thuế của dân đóng góp vào ngân sách... qua các dự án, các công trình được một số bộ phận người dân xem là "chuyện bình thường"( Nguy hiểm nhất là những điều bất bình thường đã trở thành bình thường !). Đó là một điều đáng lưu tâm vì sự sa sút của ý thức đạo đức do chưa được giáo dục đúng đắn, đầy đủ để phân biệt sai, đúng tức là việc giáo dục lương tâm con người và dư luận xã hội.

Nói khác hơn, một con người lương tâm trong sáng sẽ thể hiện qua nhiệt tình công việc. Và họ sẽ hành động đạo đức với cả tấm lòng của mình. Chúng ta có thể thấy điều ấy ở những người thầy thuốc tận tụy việc giúp đỡ cứu người bệnh không hề quản ngại khó khăn. Nhưng ngược lại cũng là công việc cứu người song có những bác sĩ lại nghĩ quá nhiều đến chuyện thu nhập khi bày ra nhiều xét nghiệm không cần thiết, móc ngoặc để nâng giá thuốc lên v.v... Đó là những người thiếu y đức hay là lương tâm của người thầy thuốc (Trong hai chữ "bác sĩ" hoặc "nghệ sĩ" v.v... chữ "sĩ" theo định nghĩa là người biết phân biệt thiện ác, đúng sai và có khả năng để đảm nhận chức việc lo cho dân, cho nước. Nếu chưa phân biệt được xấu, tốt, đúng và sai thì chữ "sĩ" đi kèm như bác sĩ, thạc sĩ, tiến sĩ, văn sĩ, họa sĩ v.v... cần phải xem lại sao cho "xứng kỳ danh" và khỏi phải thẹn với danh xưng).

Tóm lại, lương tâm hay ý thức đạo đức luôn luôn gắn bó với việc được giáo dục đầy đủ và luôn luôn tự mình trau dồi, học hỏi để ý thức luân lý của mình ngày càng hoàn thiện. Từ đó, mới có thể tham gia vào đời sống cộng đồng xã hội được chu đáo, không sai sót, lầm lẫn dẫn đến sự tiêu cực. Cho nên, giáo dục lương tâm là việc làm muôn đời của con người và rất cần thiết trong đời sống hiện tại khi lương tâm của bao lớp người đang bị xói mòn trước sự cám dỗ của vật chất, lợi nhuận đưa đến lòng tham lam, vô đạo đức. Và việc giáo dục lương tâm phải sao cho có hệ thống để có thể tác động vào lớp trẻ là tương lai đất nước sau này.

Dương Anh Sơn

(Xem tiếp kỳ 7)

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net