QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

* Nghề làm bánh tráng  ở Xóm Rượu NH: Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 10)

PHẦN 2: TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC CƯỚI

LUẬT HỘ CỦA NHÀ NGUYỄN (1802-1945) NÓI VỀ HÔN NHÂN : Trong bộ sách Khâm Định Đại Nam Hội điển sự lệ do Nội Các triều Nguyễn biên soạn, phần Bộ Hình về Việc Hộ, có những điều đề cập đến việc Hôn nhân về Luật Hộ, tóm tắt như sau:

1/ Việc Con trai, con gái lấy vợ, lấy chồng, hai nhà thông báo nhau rõ ràng về sức khỏe, hình dáng, lớn bé, con đẻ hay con nuôi, nếu bằng lòng thì tìm mối làm hôn thú, theo đúng lễ cưới xin. Nếu trước đã bằng lòng mà không lấy, hay gả cho người khác, hay có ý TRÁO HÔN, hay chưa đến hạn mà ép lấy… thì CHỦ HÔN bị tội phạt. Lại quy định người trai đi làm ăn xa, ở nhà cha mẹ hỏi vợ, nếu người đó đã cưới vợ rồi thì chấp thuận cho, còn người con gái cha mẹ đi hỏi thì cho lấy nơi khác. Nếu người đó chưa có vợ, phải về lấy người vợ cha mẹ đã hỏi. Nếu trái lệnh, bị tội phạt. Lại có quy định về CHỦ HÔN và Ở RỂ.

2/ Việc Cấm đợ (cầm thế) vợ (vợ cả, vợ lẽ) hay gả vợ lẽ cho người khác thì chồng bị tội phạt. Nếu đem con gái cầm thế cho người khác thì người cha bị tội phạt.

3/ Việc Vợ cả, vợ lẽ không đúng thứ tự, đem VỢ CẢ làm VỢ LẼ thì người chồng bị tội phạt. Hay đã có vợ cả rồi mà lấy vợ cả nữa thì cũng bị tội phạt và người vợ sau buộc phải ly dị.

4/ Việc Đuổi con rể đi, gả chồng khác cho con gái hay cho rể sau vào ở rể thì bị phạt tội, người con gái không bị phạt, trừ trường hợp thông đồng với cha mẹ. Nhà trai của chàng rể sau, biết thế mà vẫn làm, cũng bị phạt tội, trừ trường hợp không biết chuyện..

5/ Việc Đang để tang mà tự lấy vợ, lấy chồng cũng bị tội phạt (Xem CƯ TANG Phần TỪ NGỮ VIỆC TANG)

6/ Việc Cha mẹ bị giam tù mà lấy vợ, lấy chồng cũng bị tội phạt, trừ trường hợp cha mẹ trong tù cho phép.

7/ Việc Cùng họ đồng tông lấy nhau cũng bị tội phạt (Xem ĐỒNG TÁNH BẤT HÔN).

8/ Việc Vai trên vai dưới lấy nhau sẽ bị tội phạt (Xem ĐỒNG TÁNH BẤT HÔN).

9/ Việc Lấy người con gái họ đồng tông và vợ cả, vợ lẽ của người thân thuộc với mình phải bị tội phạt (Xem ĐỒNG TÁNH BẤT HÔN).

10/ Việc Quan phủ, huyện, châu lấy đàn bà, con gái nhà dân làm vợ cả, vợ lẽ trong hạt mình cai trị hay hay lấy con người đang xét hỏi, hay cậy thế ÉP DUYÊN… đều bị tội phạt.

11/ Việc Lấy đàn bà con gái có tội trốn đi, coi như tòng phạm, bị trị tội, trừ trường hợp không biết.

12/ Việc Cướp đoạt vợ và con gái nhà tử tế bị tội phạt, người đàn bà, con gái đó trả về cho gia đình họ.

13/ Việc Bọn tăng, đạo lấy vợ cũng bị cấm và phạt, đuổi về nhà không cho tu nữa.

14/ Việc Người lương dân và kẻ hèn hạ lấy nhau : cho nô bộc của mình lấy con gái, con trai nhà lương dân, sẽ bị kết tội phạt.

15/ Việc Bỏ vợ (Xem LY DỊ, THẤT XUẤT).

16/ Việc Lấy vợ, lấy chồng trái luật, người chủ hôn và người làm mối phải tội.

(sđd, trang 299 – 320)

Trong bộ Luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) ban hành năm 1813 (Gia Long thứ 12) cũng có một chương riêng nói về việc cưới gả, gồm có 16 điều, nội dung như trong Khâm Định Đại Nam Hội điển sự lệ tóm tắt ở trên {Xem Lược khảo Hoàng Việt luật lệ (sđd)}.

LỪA DỐI ĐỂ KẾT HÔN : Hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai sự thật về nhân thân, hoàn cảnh của mình, nên đã đồng ý kết hôn. Việc kết hôn này trái với nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, trái với với pháp luật, toà án có thể hủy hoại nếu có yêu cầu.

LY DỊ : Còn gọi là LY HÔN, ĐỂ VỢ, RẪY VỢ, cả người vợ lẫn người chồng đồng ý chia tay nhau trước cửa quan, tòa án, sau khi đã nhiều lần hoà giải nhưng không thành công, Giấy HÔN THÚ bị hủy bỏ, hai người ĐỂ BỎ nhau một cách chính thức. Ngày xưa, không có việc LY DỊ, mà người chồng muốn bỏ vợ là bỏ. Luật nhà Lê quy định nếu chồng bỏ vợ trong 5 tháng, nếu bà vợ có trình báo quan làm chứng thì chồng coi như đã mất vợ. Nếu vợ đã có con, bỏ vợ cho thời gian 1 năm. Nếu đã bỏ vợ mà người chồng ngăn cản người khác lấy vợ mình đã bỏ thì bị tội. Luật cũng quy định đàn ông có 7 nguyên cớ để bỏ vợ, gọi THẤT XUẤT, nhưng nếu người chồng giấu, không bỏ thì bị tội. Luật cũng có quy định vợ chồng bỏ nhau trong một số trường hợp (Xem THẤT XUẤT)

Luật Hôn nhân và Gia Đình (năm 2000) của ta đã có những điều quy định khi vợ chồng ly dị, bảo đảm về con cái và tài sản. Luật cũng ghi rõ cấm việc cưỡng ép ly hôn, tức là buộc người khác phải ly hôn trái với nguyện vọng của họ.

LY HÔN : (Xem LY DỊ)

LY HÔN CHẾ TÀI : Sự ĐỂ BỎ của đôi vợ chồng vì có một bên, chồng hay vợ đã không tròn nghĩa vụ chính yếu trong đời sống gia đình.

LY HÔN GIẢI CỨU : Sự ĐỂ BỎ có tính cách giải thoát cả vợ lẫn chồng khỏi sự đau khổ hay giải thoát một người vì người kia mắc bệnh tâm thần hay quá tàn nhẫn.

LY THÂN : Vợ chồng được tòa án quyết định cho sống riêng biệt, quyền chung tài sản và nghĩa vụ vẫn còn, trừ sự sống cùng nhau dưới một mái nhà.

M

MAI : Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (sđd), Kinh Thi có thơ phiếu mai – nói sự trai gái lấy nhau cập thời, nay gọi con gái sắp đi lấy chồng là phiếu mai là bởi cớ đó. Do đó, người LÀM MAI là người nói cho hai nam nữ lấy nhau. MAI có MAI TRONG (người nói giúp trong gia đình trai hay gái) và MAI NGOÀI (người lo việc bên ngoài cho hai họ, lo việc cưới hỏi).

MAI DONG : DONG cũng đọc là DUNG là hai vật khác nhau mà hòa tan với nhau làm một. Vậy, MAI DONG có thể hiểu là người đứng ra giữa hai gia đình có trai gái đến tuổi lấy chồng lấy vợ, tác hợp cho hai trẻ lấy nhau, cho hai gia đình hòa hợp làm một. (Xem BĂNG NHÂN).

MẠO HÔN : (Xem TRÁO HÔN)

MỐI : Người đứng điều đình việc cưới xin. Người ĐEM MỐI là người LÀM MAI LÀM MỐI, người nhận việc làm cho hai bên nam nữ lấy nhau. Người DẪN MỐI cũng gọi là người MỐI LÁI.

MÔN ĐƯƠNG (ĐĂNG) HỘ ĐỐI : Nhà cửa, tiền của, địa vị xã hội của 2 gia đình sắp LÀM SUI xứng nhau, không bên nào hơn bên nào. Khi nói đến môn đương hộ đối thường là so sánh về gia sản, cơ sở vật chất hơn là mặt tinh thần, địa vị. Đây là tiêu chuẩn ngày xưa của các gia đình khi chọn dâu kén rể cho con cái nhà mình, một quan niệm thật lạc hậu, bất công, đã từng chia rẽ nhiều mối tơ duyên.

MỘT ĐỜI CHỒNG : Ý chỉ người đàn bà đã có một người chồng trước đây cưới hỏi hợp pháp mà người chồng đó đã ly dị hay đã chết.

MỘT ĐỜI VỢ : Ý chỉ người đàn ông đã có một người vợ trước đây cưới hỏi hợp pháp mà người vợ đó đã ly dị hay đã chết.

MỜI CƯỚI : (Xem ĂN CƯỚI).

MƯỜI HAI BẾN NƯỚC : Dân gian ta có câu: Thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu. Có nhiều cách giải thích về MƯỜI HAI BẾN NƯỚC như sau :

* Đại Nam quấc âm tự vị của Hùinh Tịnh Paulus Của (sđd) giải thích: BẾN: Bến nước: Mé sông; bến đò; chỗ tắm; chỗ gánh nước. Con gái mười hai bến nước: Thân con gái như chiếc đò, hoặc gặp bến trong, hoặc mắc bến đục, hoặc đưa người tốt, hoặc đưa người xấu, may thì nhờ, rủi thì chịu. Tiếng nói mười hai bến, là nói cho vần “.

Về CON SỐ 12, có nhiều cách giải thích:

* 12 cương vị trong xã hội xưa của Trung Quốc và của ta: Công, Hầu, Khanh (hay BÁ), Tướng (hay Tử), Sỹ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục. Cách giải thích này còn khiên cưỡng, vì Công, Khanh … không phải là Sỹ ? Canh không phải là Nông ?

* 12 nghề nghiệp trong xã hội xưa: Sĩ, Nông, Công, Thương, Nho, Y, Lý, Bốc, Ngư, Tiều, Canh, Mục. Cách giải thích này cũng còn khiên cưỡng : Nho không phải là Sỹ ? Canh không phải là Nông ?

* 12 tuổi (Thập nhị chi): Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Đây có phải là xét về khoa tử vi ?

Lại có người giải thích: từ xưa, hai từ bến thuyền vẫn được dùng theo ẩn dụ để chỉ người con gái và người con trai trong quan hệ đính ước, hẹn hò. Từ cách dùng này, đi xa thêm một bước, bến lại được dùng để chỉ số phận của cá nhân, thường là người phụ nữ trong quan hệ nhân duyên. Nhân duyên ở đây có nghĩa là số phận gắn bó hai người với nhau. Bến nước trong mười hai bến nước chính là thứ nhân duyên này. Nhưng trong từ Hán Việt lại có một từ nhân duyên khác. Đây là nhân duyên của nhà Phật, là cái nhân tạo ra những cái quả trong kiếp sau. Theo điển lý nhà Phật thì có tất cả mười hai nhân duyên (thập nhị nhân duyên). Có người đem nhân duyên của thần Ái tình vào chỗ nhân duyên nhà Phật, rồi diễn nôm thập nhị nhân duyên thành mười hai bến nước. Theo Paulus Của, chỉ có 2 bến, bến trong bến đục cho người phụ nữ mà thôi. Ông không công nhận hai từ mười hai, ông cho rằng nói cho có vần mà thôi.

N

NẠ DÒNG : Người đàn bà sinh đẻ nhiều lần, đã đứng tuổi. Những người đàn bà này thường đi LÀM LẼ hay làm NÀNG HẦU, ít khi TÁI GIÁ lấy được trai tân: Trai tơ lấy phải nạ dòng, như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu. Không như BỐ DÒNG, vẫn lấy được gái tơ. Ngày nay, Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000) đã có sự bình đẳng trong nam nữ.

NÀNG HẦU: Còn gọi là THIẾP. Đó là những người con gái nhà nghèo được các ông nhà giàu, tuy đã có VỢ CẢ, VỢ LẼ đủ rồi, mua về để hầu hạ. Vợ cả, vợ lẽ gọi người đàn ông là chồng, nhưng người thiếp thì gọi là Gia trưởng, đó là sự khác nhau rất rõ. Đây cũng là một hình thức VỢ LẼ, nhưng gọi là NÀNG HẦU hay THIẾP và không có quyền hành gì trong gia đình như bà vợ lẽ, dù có sinh con trai đi nữa. Nàng hầu cũng có thể bị nhường hay bán cho người đàn ông khác. Mua nàng hầu thì không nộp CHEO, không tổ chức lễ nghi gì cả, coi nàng hầu như một món hàng. Nhiều gia đình, người chồng không muốn có nàng hầu, nhưng bà vợ cả keo kiệt, muốn mua nàng hầu về để làm công việc nhà như đầy tớ. Nhiều nhà giàu không chỉ có một nàng hầu mà có thể có năm bảy nàng hầu. Những người này phải làm lụng vất vả, ít khi được ông chồng hỏi thăm đến. Nếu nàng hầu đẻ con, đứa con đó là của bà vợ cả, gọi bà vợ cả bằng mẹ, gọi mẹ đẻ là nàng hầu bằng cô.

Luật triều Lê có điều xử phạt: Ai lấy nàng hầu lên làm vợ thì xử tội phạt; vì quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử tội biếm (phải có vợ thưa thì mới bắt tội (Quốc Triều Hình Luật, sđd, trang 127).

Ngày nay, luật pháp không cho phép mua NÀNG HẦU như xưa.

NẠP CÁT : Lễ thứ ba trong SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN, có nghĩa là đã bói được quẻ tốt. Lễ này nhà trai báo cho nhà gái biết là đã coi tuổi đôi trai gái, gặp được quẻ tốt, cuộc hôn nhân đã được quyết định.

NẠP TÀI : (Xem NẠP TỆ)

NẠP TỆ : Lễ thứ tư trong SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN, có nghĩa là lễ đưa sính lễ đến nhà gái xin cưới, tiến hành sau lễ NẠP CÁT. Có người còn gọi là lễ NẠP TRƯNG, NẠP TÀI, NẠP TỢ. Từ TỆ trong NẠP TỆ là tiền bạc.Từ TRƯNG trong NẠP TRƯNG có nghĩa là chứng cứ. Từ TÀI trong NẠP TÀI là của cải. Từ TỢ trong NẠP TỢ, theo tự vị của Paulus Của (sđd) là cái bàn vuông nhỏ có bốn chơn, thường dùng mà để đồ. Tự vị còn có từ TỢ TIỀN: Tợ khiêng tiền trong khi đi làm lễ cưới. Trong số sính lễ nhà trai đem đến nhà gái, có một số tiền mặt, nên gọi là NẠP TỆ. Số tiền này, có nơi gọi là tiền chợ, tiền để nhà gái đi chợ mua thực phẩm đãi nhà trai và sắm một ít vật dụng cho cô dâu. Có nơi còn gọi là tiền nát, tức là mua sắm thì nát ra, không còn đủ số, có nghĩa là số tiền này không phải cho cô dâu để dành làm vốn.

NẠP THÁI : Lễ thứ nhất trong SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN. THÁI nghĩa là chọn lấy, là nhà trai đã đồng ý chọn người con gái ở nhà gái lấy làm vợ cho con trai mình. Lễ này, dân gian ta có nhiều tên gọi khác nhau, như DẠM NGỎ (chuẩn bị ngỏ lời cầu xin), DẠM NGÕ (chuẩn bị bước tới cửa ngõ nhà gái), CHẠM NGÕ (đặt chân tới cửa ngõ nhà gái). Ngoài ra, còn gọi là lễ DẠM HỎI nữa. Sau khi được nhà gái bằng lòng, nhà trai mang trà rượu, trầu cau, bánh trái cùng với vị CHỦ HÔN và ông MAI đến nhà gái. Nhà gái nhận lời CẦU HÔN và lễ vật, bày tỏ sự chấp thuận của mình. Trầu cau trà rượu bánh trái ngoài việc dâng cúng tổ tiên còn được nhà gái đem biếu bà con trong họ, coi như thông báo trong họ con gái mình đã có người đến dạm hỏi. Sau lễ Nạp thái, hai họ qua lại thăm viếng nhau để tìm hiểu rõ thêm. Xưa, ngăn cấm đôi trai gái không được đến nhà nhau.

NẠP TỢ : (Xem NẠP TỆ)

NẠP TRƯNG : (Xem NẠP TỆ)

NGÀY KỶ NIỆM CƯỚI : Để kỷ niệm ngày cưới, đánh dấu độ bền lâu của cuộc hôn nhân, tùy theo số năm hai người lấy nhau mà có một biểu tượng của những kim loại mà cái sau rắn chắc hơn và hiếm hơn cái trước hay có những biểu tượng khác như gỗ, hoa, vua … Có nơi (chủ yếu các nước Tây Phương) quy định :

Lễ cưới GIẤY : 2 năm Lễ cưới NGỌC XANH : 30 năm

Lễ cưới GỖ : 5 năm Lễ cưới BẠCH KIM : 35 năm

Lễ cưới HOA HỒNG : 10 năm Lễ cưới NGỌC ĐỎ : 40 năm

Lễ cưới THỦY TINH : 15 năm Lễ cưới KIM CƯƠNG : 60 năm

Lễ cưới SÀNH SỨ : 20 năm Lễ cưới GIA TÀI : 70 năm

Lễ cưới BẠC : 25 năm Lễ cưới VUA : 75 năm

Có nơi, quy định:

Lễ cưới GIẤY : 1 năm Lễ cưới BẠC : 25 năm

Lễ cưới GỖ : 5 năm Lễ cưới VÀNG : 50 năm

Lễ cưới SẮT : 10 năm Lễ cưới KIM CƯƠNG : 60 năm

NGHÊNH HÔN : (Xem THÂN NGHINH)

NGHI THỨC KẾT HÔN : Trình tự tiến hành các nghi thức kết hôn một cách chính thức, công khai trong việc thiết lập quan hệ vợ chồng giữa một người nam và một người nữ. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2000), NGHI THỨC KẾT HÔN chỉ có giá trị về pháp lý khi việc kết hôn được đăng ký và do cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền thực hiện. Khi tổ chức ĐĂNG KÝ KẾT HÔN, phải có mặt hai bên nam nữ và cơ quan đăng ký trao giấy chứng nhận (Điều 11 và 14, Chương II)

NGUYỆT LÃO : Do câu Nguyệt hạ lão nhân là ông già ngồi dưới trăng, ám chỉ người LÀM MAI MỐI cho trai gái nên vợ nên chồng, còn gọi là ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT. Do tích, Vi Cố, người đời Đường, một hôm trông thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ ngồi dưới ánh trăng xem sách, bên cạnh có một một cái giỏ đựng chỉ đỏ (XÍCH THẰNG). Vi Cố hỏi, ông già đáp: “ Ta là Nguyệt Lão, sách này là sách ghi chép sẵn tên họ những cặp vợ chồng kết duyên với nhau. Còn chỉ này là chỉ dùng để cột chân vợ chồng lại với nhau “. Vi Cố hỏi đến người vợ tương lai của mình là ai. Ông lão cho biết chính là con gái người ăn mày ngồi ở chợ kia. Vi Cố nghe bảo rất buồn và hôm sau cho người đi giết con gái người ăn mày kia, để mình khỏi phải kết hôn với con nhà mà ông cho là ti tiện, không xứng với địa vị và gia thế của ông. Về sau, Vi Cố kết duyên với người con gái con của một vị quan lại. Nhân một hôm nhìn thấy vết sẹo trên đầu vợ, hỏi ra mới biết, chính vợ mình là con của người ăn mày, khi trước bị người chém hụt, bị thương ở đầu, được bà mẹ bồng bế chạy thoát. Sau đó, được ông quan nuôi làm dưỡng tử. Từ đó, Vi Cố mới hiểu, Nguyệt Lão đã XE DUYÊN CỘT CHỈ rất khó mà thoát khỏi duyên vợ chồng.

Tuy nhiên, cũng có những anh chàng tỏ ra thái độ nóng nảy đối với Ông Tơ Bà Nguyệt này : Bắt Ông Tơ đánh sơ vài chục / Bắt Bà Nguyệt nếm mấy mươi hèo / Người ta năm bảy vợ theo / Còn tôi đơn chiếc như mèo cụt đuôi.

NHẪN CƯỚI : Còn gọi là nhẫn hôn phối, theo tục lệ Tây Phương, nhẫn cưới được trao nhau, biểu tượng sự ràng buộc giữa hai ngưới. Khi đeo nhẫn, việc chọn ngón tay đeo nhẫn thể hiện một quan điểm trọng nam khinh nữ , nhưng cũng là cách để bảo đảm cho chiếc nhẫn khó rơi rớt. Cô dâu đeo nhẫn ở tay trái, chú rể ở tay phải. Tay phải biểu hiện người đàn ông, người chủ chốt trong gia đình. Còn đeo nhẫn ở ngón tay áp út vì ngón này ít hoạt động nhất trong bàn tay và ngón tay này không thể tự duỗi thẳng ra được, nếu muốn duỗi ra, phải duỗi cả bàn tay, nên chiếc nhẫn khó rơi ra khỏi ngón.

NHẪN ĐÍNH HÔN : Đám cưới ngày nay có tục đeo nhẫn trong lễ ĐÍNH HÔN. Đó là theo tục lệ Tây Phương, có từ thế kỷ thứ 15. Buổi đầu tục này, khi hợp đồng đính hôn được ký, chú rể bẻ đôi một vật nào đó, giữ một nửa, một nửa giao cho bố vợ tương lai. Gia đình khá giả, vật bẻ đôi là một miếng vàng hay bạc. Sau này, thay thế bằng hai chiếc nhẫn đeo vào tay cô dâu và chàng rể. Nhẫn đính hôn trở thành bắt buộc đối với những tín đồ Thiên Chúa giáo. Nhẫn làm bằng vàng là để thể hiện một sự hy sinh tài sản của chàng rể nếu muốn cưới được vợ.

Tại Trung Quốc, một số tỉnh ở phía Nam cũng có tục đeo nhẫn trong lễ đính hôn. Họ cho rằng hình tròn của chiếc nhẫn là theo văn tự tượng hình thời cổ, có nghĩa là vĩnh hằng, tỏ ý hôn nhân không bao giờ thay đổi. Đã đính hôn rồi là không thay đổi, không được lấy ai làm vợ làm chồng, coi như có tính pháp lý.

NHỊ HỶ : (Xem LẠI MẶT)

NIÊN CANH BÁT TỰ : Tám chữ thuộc về tuổi tác. Người sinh ra có ngày, giờ, tháng năm, theo âm lịch, thuộc về 10 CAN ( Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý) và 12 CHI (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Ví dụ, sinh ngày Mậu Thìn, giờ Nhâm Tý, tháng Canh Dần, năm Bính Tuất. Đó là tám chữ (BÁT TỰ) của một người được sinh ra trong thời khắc như thế. Trong hôn nhân, gia đình hai bên đều căn cứ vào ngày sinh tháng đẻ của chàng trai và cô dâu để xem bói, coi có xung khắc gì không, có hợp nhau không, Trong lễ NẠP THÁI, vị CHỦ HÔN trao cho nhà gái tên họ, ngày tháng năm sinh của chàng rể cho nhà gái và nhà gái cũng cho biết họ tên, ngày tháng năm sinh của cô gái cho họ nhà trai. Tờ giấy ghi những nội dung trên gọi là tờ NIÊN CANH BÁT TỰ. Người xưa tin rằng BÁT TỰ có thể cho chúng ta biết được số phận, vận mệnh của một người bằng cách bói toán hay xem tử vi. Từ việc nghiên cứu BÁT TỰ của đôi nam nữ sắp lấy nhau, có thể họ kết duyên với nhau rất tốt, rất hợp, sống với nhau rất hạnh phúc, hoặc là cuộc hôn nhân rất xấu, xung khắc nhau, tình duyên lỡ làng, có thể đưa đến cái chết … Chính vì thế mà người xưa (và cả một số người ngày nay) rất coi trọng tuổi của đôi lứa, tránh những điều không hay xảy ra sau này (Xem KIÊNG KỴ TRONG HÔN NHÂN)

NÓI VỢ : (Xem CẦU HÔN)

O

ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT : (Xem NGUYỆT LÃO)

Ở RỂ : Sau ngày cưới, chàng rể ở nhà vợ, vợ chồng cùng chung sống với gia đình nhà vợ. Nam Bộ còn gọi là BẮT RỂ. Lý do: Gia đình nhà gái neo đơn, không có con trai, cần có người lo việc hương hỏa và chăm sóc lúc cha mẹ già, đau ốm. Có trường hợp, do điều kiện kinh tế gia đình chàng rể quá khó khăn, không đủ điều kiện cưới vợ, gia đình nhà gái lo hết với điều kiện sau ngày cưới, phải ở rể. Có trường hợp, chàng trai mưu lấy lợi lộc cho mình nên chịu ở rể vì nhà gái giàu có hay có địa vị cao trong xã hội. Ở RỂ khác với LÀM RỂ phía Bắc. LÀM RỂ là ở nhà vợ một thời gian dài hay ngắn trước khi làm lễ cưới. Sau lễ cưới, chàng rể rước dâu về ở nhà mình.

Xưa, luật quy định Ở RỂ phải nói rõ trong HÔN THƯ, chàng rể ở nhà vợ nuôi bố mẹ vợ già bao nhiêu năm. Nhà trai, cha mẹ chỉ có một con trai thì không được đi ở rể. Nhà gái, không có con trai, bắt rể thì phải lập một người con trai khác trong họ đồng tông làm thừa kế để trông nom việc thờ cúng, sau này có chia gia sản, hai người phải có gia sản đều nhau.

P

PHẢN BÁI : (Xem NHỊ HỶ, LẠI MẶT)

PHÒ MÃ : PHÒ là ngựa kéo xe đi hầu vua. PHÒ MÃ là người lấy công chúa con gái vua. Còn PHÒ MÃ ĐÔ ÚY là chức quan võ thời nhà Hán (Trung Quốc). Chức vụ này có trách nhiệm trông coi những chiếc xe đi hầu vua, khi vua ra ngoài. Ở triều đình phong kiến của ta, người lấy công chúa đều được phong Phò Mã Đô Úy, hàm tam phẩm. Khi vua ra ngoài, Phò Mã cưỡi ngựa đi bên cạnh.

PHÙ DÂU : Đám cưới ngày xưa không có PHÙ RỂ, chỉ có PHÙ DÂU ở nhà gái. Người được chọn PHÙ DÂU là người có nhiều kinh nghiệm, có gia đình yên ấm để hướng dẫn cô dâu một số lễ nghi, một số việc khác khi về nhà chồng. Phù dâu thường chọn người cô hay dì, chị của cô dâu để dễ bề dặn dò. Đám cưới ngày nay, phù dâu thường chọn những người chưa lập gia đình, bạn bè thân thiết với cô dâu.

PHÙ RỂ : Đám cưới của ta ngày xưa không có PHÙ RỂ, chỉ có đám cưới ở các nước Tây phương. Tục phù rễ nguồn gốc ở dân tộc Goths, một dân tộc Đức sống vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Tục lệ dân tộc này là chàng trai phải lấy vợ ở làng của mình. Còn muốn lấy vợ làng khác, theo tập tục, chàng trai phải bắt cóc người đó về, với sự giúp sức của một người bạn. Khi tiến hành lễ cưới, anh phụ rể này phải đứng bên cạnh, thủ sẵn dao gậy phòng bên đàng gái đến bắt lại con gái của mình. Trong suốt nghi lễ cưới, cô dâu phải đứng bên trái chú rể, đề phòng bên đàng gái tấn công, bắt con gái mình về thì tay trái chàng rể sẽ nắm chặt tay cô dâu, còn tay phải rút gươm ra chống đỡ. NHẪN CƯỚI của chú rể đeo vào ngón tay cô dâu như một biểu tượng ràng buộc người vợ tương lai khi bị bắt cóc về. Sau ngày cưới, đôi vợ chồng phải tìm nơi ẩn núp một thời gian để không bị bên đàng gái tìm thấy, người đời sau gọi là TUẦN TRĂNG MẬT, nhưng với tâm trạng của đôi vợ chồng không được yên ổn nên không có gì lãng mạn như tuần trăng mật ngày nay.

PHỦ PHI : Tên gọi của công chúa khi về nhà chồng.

PHỦ THIẾP : Tên gọi VỢ THỨ của Hoàng tử.

PHỤ NỮ : Tên gọi người con gái đã đi lấy chồng.

PHÚC HÔN : PHÚC là cái bụng, cha mẹ hai bên HỨA HÔN khi hai đứa bé còn trong bụng mẹ. Đôi bạn bè thân thiết có vợ đang có mang, hai bên giao ước nhau, nếu một bên sinh trai, một bên sinh gái, lớn lên, cho chúng lấy nhau. Lời hứa hôn đó, trong xã hội xưa, thường hai gia đình bắt buộc thực hiện, dù đôi trẻ chẳng có tình yêu thương gì với nhau. Đến thời nhà Nguyễn, việc hứa hôn này đều bị cấm chỉ.

Q

QUẢ PHỤ : (Xem QUAN, QUẢ, CÔ, ĐỘC)

QUAN PHU : (Xem QUAN, QUẢ, CÔ, ĐỘC)

QUAN, QUẢ, CÔ, ĐỘC : QUAN là góa vợ, người đàn ông góa vợ (vợ chết) gọi là QUAN PHU. QUẢ là góa chồng, người đàn bà góa chồng (chồng chết) gọi là QUẢ PHỤ. CÔ là không cha mẹ. ĐỘC là không con cái.

R

RẪY VỢ : (Xem LY DỊ)

RỂ ĐÔNG SÀNG, DÂU NAM GIÁN : ĐÔNG SÀNG là giường phía đông. NAM GIÁN là khe núi phía nam. RỂ ĐÔNG SÀNG bắt nguồn ở tích Đông sàng thán phúc nghĩa là nằm thẳng bụng trên giường phía Đông. Chuyện rằng nhà Vương Đạo có nhiều con trai chưa vợ nên Hy Giám mới cho người sang dọ để kén chồng cho con gái. Đám con trai nhà họ Vương biết thế nên anh nào cũng lăng xăng tìm cách làm cho khách lưu ý. Chỉ có Vương Hy Chi là nằm khểnh trên giường kê ở phía đông, coi như không có chuyện gì xảy ra. Nghe người dò lai thuật lại, Hy Giám biết Hy Chi là rể quý, bèn chọn ngày lành tháng tốt mà gả con gái cho. Về sau, Hy Chi làm quan đến chức Hữu quân và là một người viết thư pháp nổi tiếng ở Trung Quốc.

Còn về DÂU NAM GIÁN bắt nguồn từ lời của một bài trong Kinh Thi Trung Quốc: Vũ dĩ thế tân, Nam gián chi tân nghĩa là đi hái rau tần bên bờ khe phía Nam, chỉ sự tần tảo của người con gái, sau này sẽ là con dâu đảm đang, chịu thương, chịu khó.

RƯỚC DÂU : (Xem VU QUY)

NVB

(Xem tiếp kỳ 11)

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net