QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LẠI CHUYỆN KHINH SUẤT

PGS TS NGUYỄN CÔNG LÝ

Trên Tuần báo Văn nghệ số 12 ra ngày 21.3.1998, tr.2, ông Hồ Cơ có viết bài Sưu tầm vốn cổ đâu phải chuyện khinh suất để góp ý kiến cho bài Tài đối đáp của Đoàn Thị Điểm của N.X, đăng ở tờ Thế giới phụ nữ số 35, mục “Bạn có biết”. Trong văn chương học thuật, chuyện “dọn vườn”, đính chính những nhầm lẫn, sai sót là việc cần làm và rất đáng hoan nghênh. Có điều, đã “dọn vườn” thì phải tuyệt đối chính xác cần khách quan với lời lẽ ôn nhu, người đọc dễ tin và người được góp ý dễ tiếp thu.

Trong bài viết của mình, ông Hồ Cơ đã phàn nàn “một mẩu sưu tầm vốn cổ chỉ hơn 300 chữ mà mắc bầu nhiêu lỗi ư?” và “thà đừng có bài này”. Là bạn đọc thường xuyên của Văn nghệ, chúng tôi rất hiểu và thông cảm điều phàn nàn trên của tác giả. Trong bài viết của mình, ông Hồ Cơ đã chỉ ra lỗi của người sưu tầm, lỗi của biên tập, của nhà in, mà trách nhiệm chính là ngưồi sưu tầm. Những lỗi đó xoay quanh 2 câu đối của bà Điểm: Một vế đối của bà với sứ Tàu, và một vế đối với anh trai. Tác giả bài báo phê phán N.X “đã quá khinh suất khi sưu tầm vốn cổ”, “làm cho bạn đọc hiểu sai về bà Điểm”, “bạn đọc sẽ phản ứng trước việc sưu tầm lấy được của người sưu tầm và việc biên tập thiếu thận trọng của tòa báo”.

Dưới đây, xin được nêu mấy ý nhỏ mà ông Hồ Cơ đã khẳng định trong bài báo của ông.

1. “Chư đại phu” hay “đại trượng”?

Ông Hồ Cơ cho rằng, như ông N.X đã nêu, thì “chư đại phu” không đối xứng với “nhất thốn thổ” (vì thốn thổ là một tập hợp hai danh từ, mà đại phu gồm một tính từ và một danh từ). Chữ của bà Điểm dùng là đại trượng phu (tr.2). Thưa ông, theo tôi, nhất thốn thổ đối rất chỉnh với chư đại phu. Vì: nhất ( , một: chỉ số ít) sẽ đối chỉnh với chư ( , các: chỉ số nhiều) cả hai đều là số từ. Thốn thổ đối chỉnh với đại phu. Thốn thổ (tấc đất) tiếng danh từ và đại phu (chỉ bậc quan to của triều đình) cũng là tiếng danh từ. Trong phép đối, ngoài đối ý, đối thanh, còn có cả yêu cầu phải cùng từ loại. Ở từ đại phu, khi tách yếu tố (thành tố) đại ` ra khỏi từ đại phu, thì đại là tiếng tính từ từ với nghĩa là to, lớn. Các từ điển có uy tín như Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ, KHXH, H. 1994, tr.271) ghi: “Đại phu (danh từ): chức quan tương đối cao ở Trung Quốc thời phong kiến, cấp bậc thay đổi tùy triều đại”; Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh, Trường Thi, Sài Gòn tái bản,1957, tr.239 ghi: “đại phu: chức quan to đời xưa nước Tàu”. Vậy Thốn thổ (danh từ) đối chỉnh với đại phu (danh từ); có thể dùng trượng phu (danh từ) đối lại cũng được. Nhưng, giai thoại đều truyền lại là đại phu, chứ chưa nghe nói là trượng phu. Vế đối ông đưa ra “nhất thốn thổ” để đối “đại trượng phu” là không ổn, bởi “nhất” (số từ) không thể đối chỉnh với “đại” (tính từ) được. Trong bài báo của mình, ông viết “Câu đối theo nguyên bản” là:

An Nam nhất thốn thổ bất tri kỷ nhân canh;

Bắc quốc đại trượng phu giai do thử đồ xuất.

Tôi không biết ông dùng nguyên bản nào? (Trong bài viết, hai lần ông dùng từ “nguyên bản”). Đã gọi là nguyên bản (văn bản viết đầu tiên), thì phải được ghi lại trên tài liệu, sách vở.

Câu đối trên cũng như bao câu đối khác của Đoàn Thị Điểm chỉ là tương truyền, là giai thoại truyền miệng, mà sau này các nhà nghiên cứu ghi lại một cách cố định hoá giai thoại bằng văn bản - để nói về tài ứng đối của bà Điểm. Có thể chỉ ra đây một số tài liệu đã ghi giai thoại này như Chinh phụ ngâm dẫn giải của Nguyễn Đỗ Mục (tr.3), Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải và chú thích của Vân Bình Tôn Thất Lương (tr.10); còn sách Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc (từ tr.97 đến tr.101) đã chép nhiều giai thoại về bà, nhưng không thấy ghi chuyện đối đáp với sứ Tàu như trên. Trong các công trình của mình, cụ Nguyễn Đỗ Mục và cụ Vân Biình Tôn Thất Lương đã ghi câu đối trên như sau:

- Vế ra của sứ Tàu: An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh

- Vế đối lại của bà Điểm: Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất

(cần chú ý các dấu phảy ngắt giữa các vế).

Tạm dịch:

Một tấc đất An Nam, chẳng biết mấy người cày;

Các đại phu đất Bắc, đều do đường này ra.

Người ra vế đối có ngầm ý chòng ghẹo và người đối lại cũng phúng thích đầy ẩn ý, chẳng chịu kém. Lời đối ấy của bà Điểm đã làm cho sứ Tàu thẹn thùng!

Vậy, khi sưu tầm ông N.X chỉ nhầm một chữ “khi”, thay vì đúng là “thử đồ xuất” thì N.X lại ghi “khi đồ xuất”. Ông Hồ Cơ dọn vườn làm cho rối rắm thêm!

Xin cung cấp một dị bản về câu đối trên:

Nam bang nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh;

Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất.

Dị bản này, vế ra và vế đối lại chuẩn hơn. Người ra đối nêu “Nam bang” là có ý coi thường nước ta. Hồi ấy, dưới con mắt của phong kiến phương Bắc, các nước láng giềng với Trung Quốc chỉ là “man di mọi rợ”, là quận, là bang, là “chư hầu” của Trung Quốc mà thôi! Nam đối với Bắc, bang đối với quốc là chỉnh hơn so với An Nam đối với Bắc quốc!

2. Câu đối của bà Điểm với anh trai tên là Luân:

- Ông Luân: Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm;

- Bà Điểm: Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.

Giai thoại cho biết, bà Điểm ứng đối câu này lúc bà vừa 15 tuổi mà “học vấn đến mực uẩn súc”. Câu đối này, ông Hồ Cơ đã dọn vườn chính xác. Có điều lại mắc lỗi nhà in. Chữ “kính” trong “Đối kính” thay vì viết thường thì báo lại in hoa chữ “K”. Báo nên rút kinh nghiệm khi chế bản.

3. Anh trai bà Điểm tên là Đoàn Doãn Luân hay là Đoàn Trác Luân?

Trong bài báo, ông Hồ Cơ khẳng định như đinh đóng cột “Anh bà Điểm là Đoàn Trác Luân chứ không phải là Đoàn Doãn Luân” như N.X đã nêu (tr.15).

Về tên ông Luân, hiện có nhiều tài liệu ghi không nhất quán:

- Dương Quảng Hàm trong sách Việt Nam văn học sử yếu (tr.268) ghi: Giám sinh Đoàn Luân. Ông Dương Quảng Hàm đã căn cứ vào sách Nam sử tập biên quyển 5 để ghi lại.

- Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân Phùng Tất Đắc; Hợp tuyển thơ văn Việt Nam tập 3 (XVIII - đầu XIX); Văn học Việt Nam nửa cuối XVIII - nửa đầu XIX (Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận) Nxb.GD, H. 1990; Văn học Việt Nam nửa cuối XVIII - nửa đầu XIX, Tập 1 (Nguyễn Lộc) Nxb. ĐH-THCN, 1976; Chinh phụ ngâm khúc (Vân Bình Tôn Thất Lương) đều ghi là Tiến sĩ Đoàn Doãn Luân.

- Lịch sử Văn học Việt Nam nửa cuối XVIII - nửa đầu XIX, tủ sách Đại học Sư phạm, Nxb.GD, H, tái bản, 1976, ghi là Hương cống Đoàn Doãn Luân.

- Chinh phụ ngâm khúc dẫn giải (Nguyễn Đỗ Mục) ghi là Tiến sĩ Nguyễn Trác Luân.

- Còn cái tên Đoàn Trác Luân tôi cũng nhớ là đã từng đọc ở tài liệu nào đó, nhưng rất tiếc chưa rõ ở sách nào.

Điều đó có nghĩa là đa số tài liệu có uy tín đều ghi anh trai bà Điểm là Đoàn Doãn Luân. Bà Điểm, ông Luân là con của Hương cống Đoàn Doãn Nghi. Vốn trước họ Lê, nhưng khi thi Hội không đỗ, nên ông Nghi mới đổi ra họ Đoàn. Dù đậu Hương cống nhưng ông Nghi không làm quan, chỉ ở nhà mở trường dạy hộc tại quê nhà: xã Giai Phạm, huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay là Văn Giang thuộc Hưng Yên). Tên cha là Doãn Nghi, tên con là Doãn Luân thấy hợp lý hơn là Trác Luân. Đoàn Doãn Luân hiệu là Tuyết Am, tự Đạm Như. Ông là người viết lời bình cho cuốn sách Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm.

Theo tài liệu sử cũ, đầu thế kỷ XVIII, dưới triều Lê có hai ông Luân. Một là, Đoàn Trác Luân (có chỗ ghi là Nguyễn Trác Luân) đỗ tiến sĩ vào khoảng đời Lê Duy Phường (1729 - 1732) Lê Thuần Tông (1732 - 1735). Ông này quê ở Đường Hào, Hải Dương.

Hai là, Đoàn Doãn Luân, đỗ Hương cống (có tài liệu ghi là đỗ Tiến sĩ), quê ở Giai Phạm, Văn Giang, trấn Kinh Bắc. Ông không làm quan, chỉ ở nhà mở trường dạy học. Ông này chính là anh trai bà Đoàn Thị Điểm.

Trên đây chỉ là đính chính lại những điều ông Hồ Cơ đã góp ý ông N.X nhưng chưa rõ và có chỗ nhầm lẫn. Xét cho cùng, những điều trên chỉ nhằm thông tin chính xác chứ không giúp ích gì nhiều cho việc nghiên cứu thơ văn Đoàn Thị Điểm./.

N.C.L

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net