QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 7)

CHƯƠNG NĂM

BỔN PHẬN

Các bậc cha mẹ thường nhắc nhở con cái: "Ba mẹ lo lắng nuôi các con ăn học đầy đủ. Vậy bổn phận của các con là chăm chỉ học tập để ba mẹ được vui lòng". Hoặc cô đọng hơn, chúng ta đọc được các khẩu hiệu thường thấy ở các trường học: "Dạy tốt, học tốt" có nghĩa là bổn phận thầy cô giáo phải dạy tốt và các học sinh phải học tốt. Trên báo chí chúng ta cũng đọc thấy các mẫu tin đại loại: "Bổn phận của các thanh tra ý tế là phải thường xuyên kiểm tra dược phẩm và thực phẩm vì liên quan đến sức khỏe của cộng đồng v.v... Hoặc nữa, một cách gần gũi và quen thuộc ta thường nghe "Bổn phận làm con là phải hiếu thảo, vâng lời cha mẹ ở nhà và kính trọng, vâng lời thầy cô giáo trong nhà trường" v.v... Hai chữ "Bổn phận" đã là câu nói cửa miệng trong tất cả các mặt sinh hoạt của đời sống. Vậy bổn phận là gì, những vấn đề liên quan đến bổn phận phải hiểu như thế nào?

I- BỔN PHẬN LÀ GÌ?

Khi đã có ý thức đạo đức tức lương tâm, việc thi hành những nhiệm vụ mà đạo đức đề ra theo các quy tắc về luân lý, đạo đức là chức trách của bổn phận. Hay nói khác hơn, lương tâm là đầu mối thúc đẩy bó buộc phải làm bổn phận. Lương tâm của bậc làm cha mẹ nhắc nhở phải có bổn phận nuôi dạy con cái đầy đủ; lương tâm của người thầy giáo có bổn phận dạy dỗ học sinh không những kiến thức chuyên môn mà còn phải giáo dục để học sinh học làm người và trở nên người v.v...

Ta có thể định nghĩa bổn phận là phần việc của mỗi cá nhân mà qui luật đạo đức bó buộc phải làm: Đồng thời, bổn phận tuy bó buộc nhưng việc quyết định, lựa chọn hoàn toàn tự do. Nếu không có tự do để thi hành bổn phận thì hành động con người sẽ như các loài động vật vì con người là một chủ thể có ý thức và tự do.

II- PHÂN TÍCH KHÁI NIỆM BỔN PHẬN:

Khi tìm hiểu và phân tích khái niệm bổn phận, ta thấy bổn phận có sự bó buộc phải tuân theo và thi hành như là một mệnh lệnh của lương tâm. Ví dụ: người lính có bổn phận bảo vệ đất nước; mọi người dân Việt Nam đều có bổn phận giữ gìn truyền thống dân tộc và làm cho đất nước trở nên thịnh vượng, tiến bộ v.v...

Như thế, đồng thời với bó buộc, ý thức đạo đức cũng thi hành với sự tiếp nhận và đồng ý của chủ thể. Do đó, tự do là một yếu tố của bổn phận. Nếu bổn phận đòi hỏi phải vâng lệnh thì tự do đòi hỏi quyền lựa chọn. Chủ thể đạo đức tuân theo qui luật mà nó đề ra dưới ánh sáng của lý trí và tinh thần tự do. Chúng ta sẽ khảo sát ba tích cách căn bản trong bổn phận là: sự bó buộc, tinh thần tự do và giá trị của bổn phận.

1/ Bổn phận với sự bó buộc:

           Bổn phận là sự tuân theo tiếng gọi của lương tâm. Vì thế, nó là nhiệm vụ phải làm, một sự bó buộc cần làm (Obligation). Nhưng sự bó buộc trong bổn phận không phải là sự cưỡng bách (nécessité) phải hành động. Trong ý niệm bó buộc mà lương tâm đòi hỏi, chủ thể có thể làm hoặc không làm để giữ gìn và tuân thủ các quy luật của đạo đức phù hợp với nhân tính. Mặt khác, bó buộc của lương tâm cũng khác với loại bó buộc thuần lý hay vật lý. Trái táo theo định luật Newton phải rơi theo chiều thẳng đứng do sức hút của trái đất. 5 cộng 5 bó buộc phải thành 10. Bổn phận bó buộc nhưng không cưỡng bách ta phải hành động đạo đức. Ta làm vì ta có ý thức tự do và ý thức về qui luật đạo đức.

2/ Tính chất tự do của bổn phận:

Bổn phận tuy là mệnh lệnh bó buộc của lương tâm, nhưng nó không bị cưỡng bách hoặc ép buộc từ bên ngoài hoặc mù quáng, mê mờ bên trong. Bổn phận có tính chất của sự tự do tinh thần vì việc thi hành do khả năng lựa chọn, ưng thuận hoặc từ chối nơi ta. Tự do tinh thần khác với tự do vật lý vì con người không thể tự do bay như chim. Khi thân thể ta bị bệnh nặng bó buộc phải nằm dưỡng bệnh nhưng tinh thần tự do có thể khiến ta vượt lên đau đớn của thân xác... Với Kant, ý thức đạo đức vừa là một mệnh lệnh bó buộc (Thí dụ: nếu muốn khỏe mạnh phải biết tiết độ) lại vừa là một hành động tự do vì ta có quyền lựa chọn hành động cho xứng hợp (Thí dụ: muốn tiết độ để khỏe mạnh, phải nên ăn uống điều độ, không hút thuốc lá, không uống rượu v.v...). Kant nhấn mạnh lý trí là khả năng phán đoán hữu hiệu để bổn phận đi đúng hướng.

3/ Bổn phận phải gắn liền với giá trị của hành động đạo đức:

Các hành động đạo đức có giá trị khi nó có sức hấp dẫn và thu hút tình cảm của ta cũng như đòi hỏi ta phải thực hiện. Thí dụ: yêu thương đất nước, yêu thương con người là một bổn phận đạo đức có giá trị vì đã làm người và để xứng đáng làm người phải có lòng nhân từ và yêu thương nòi giống quê hương; rộng hơn là biết yêu thương, quí trọng con người ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này.

Như thế, giá trị đạo đức là tính cách của một việc làm mang tính người, đáp ứng được xu hướng sâu xa hướng về cái thực, cái thiện và cái đẹp (chân thiện mỹ) trong mỗi con người. Bổn phận càng có giá trị đạo đức cao khi phạm vi được trải rộng. Thí dụ: khi ta đã biết yêu thương con người, chia xẻ những khổ đau của họ thì tình yêu ấy, bổn phận ấy sẽ đẹp hơn khi phá bỏ rào cản màu da hay sự phân biệt.

Bổn phận có tính chất của sự tự do tinh thần vì việc thi hành do khả năng lựa chọn, ưng thuận hoặc từ chối nơi ta. Tự do tinh thần khác với tự do vật lý vì con người không thể tự do bay như chim. Khi thân thể ta bị bệnh nặng bó buộc phải nằm dưỡng bệnh nhưng tinh thần tự do có thể khiến ta vượt lên đau đớn của thân xác... Với Kant, ý thức đạo đức vừa là một mệnh lệnh bó buộc (Thí dụ: nếu muốn khỏe mạnh phải biết tiết độ) lại vừa là một hành động tự do vì ta có quyền lựa chọn hành động cho xứng hợp (Thí dụ: muốn tiết độ để khỏe mạnh, phải nên ăn uống điều độ, không hút thuốc lá, không uống rượu v.v...). Kant nhấn mạnh lý trí là khả năng phán đoán hữu hiệu để bổn phận đi đúng hướng.

Bổn phận là hành vi đạo đức bao hàm nghệ thuật sống đẹp, bao hàm điều thiện nên nó có sức lôi cuốn con người hướng về nó và lựa chọn hành vi đạo đức thích hợp. Khi Nguyễn Trãi viết: "Thương người như thể thương thân" hoặc "Thấy ai đói rách thì thương" (Gia huấn ca). Đó là một hành vi đạo đức vừa mang tính cách là một bổn phận bó buộc nhưng có sự lựa chọn nên nó có đặc tính tự do. Đồng thời, vì nó nâng cao lòng yêu thương con người, khơi dậy lòng nhân từ nên nó có giá trị đạo đức. người ta tuân hành bổn phận không phải bằng sự thụ động mà là tìm đến với bổn phận vì đó là một hành động phù hợp với lương tâm. Một con người có nhân cách khi hành động đạo đức có giá trị. Người thầy thuốc giúp đỡ, cứu người vừa là một bổn phận vừa là trách nhiệm. Bổn phận qua sự kêu gọi của ý thức đạo đức buộc phải làm dù chức năng, chức trách của bác sĩ là làm công việc cứu chữa người bệnh. Tiếng gọi của bổn phận sẽ tỏa xuống trách nhiệm. Do đó, ba yếu tố bó buộc, tự do và giá trị có một sự gắn bó mật thiết trong việc kết hợp làm thành hành vi đạo đức.

III- NỀN TẢNG CỦA BỔN PHẬN:

Nếu ở bên trong, lương tâm thúc dục từ thi hành bổn phận, còn bên ngoài luân lý xã hội cũng đề ra cho chúng ta những bổn phận cần phải làm. Như thế, bổn phận đã được xây dựng trên nền tảng nào?

1/ Quan niệm của Kant và phái chủ lý:

- Với Kant, bổn phận là một quyết lệnh vô điều kiện được truyền khiến bởi lý trí. Thiên nhiên vận hành theo qui luật tự nhiên, con người hành động theo qui luật đạo đức dưới ánh sáng của lý trí. Quan niệm chủ lý của Kant và phái duy lý đã giản lược mọi sinh hoạt đạo đức vào lý trí đã gạt bỏ tình cảm con người ra ngoài. Nguyễn Du trong Truyện Kiều đã viết: "Ngoài thì là lý nhưng trong là tình". Câu thơ đó cho thấy hành vi của con người biểu hiện thường bao gồm cả hai mặt vừa tình cảm, vừa lý trí, hai mặt đó bổ sung cho nhau. Người công chức làm việc cho dân vì đó là bổn phận nhưng bên trong còn là tình cảm đồng bào, tình người nữa. Do đó người công chức không làm một cách máy móc mà xử lý công việc vừa cần có lý, vừa cần có tình nữa.

2/ Quan niệm của Henri Bergson (1859-1949) và phái tình cảm:

Bergson trong các cuốn "Hai nguồn gốc của luân lý và tôn giáo" đã cho rằng tình cảm là nền tảng trực tiếp của bổn phận bao gồm hai loại đạo đức khép kín (morale close) và đạo đức cởi mở (morale ouverte)

- Đạo đức khép kín là đạo đức của những người chỉ giữ gìn đạo đức theo thói quen và phong tục, luật lệ xã hội chứ họ không thật có tâm hồn đạo đức, làm vì bổn phận chứ không bằng sự suy nghĩ của trí tuệ nào cả.

- Đạo đức cởi mở là đạo đức của các bậc thánh nhân, các anh hùng họ thi hành bổn phận bằng cả tâm hồn và lý tưởng của mình. Ơ luân lý hay đạo đức mở ngỏ này, người ta làm bổn phận như là một hấp lực thu hút người ta hướng về phía trước nơi có giá trị hành động đạo đức cao đẹp. Nó khác loại trên là thi hành bổn phận vì áp lực của môi trường xã hội. Trần Hưng Đạo là một bậc anh hùng dân tộc trong cả ba lần chống quân xâm lược Nguyên Mông. Ong đã gác bỏ những tị hiềm cá nhân để cùng với vua trên, quần thần và toàn dân dốc tâm chống giặc. Mẫu người anh hùng như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là ngoài có khả năng phá vỡ mọi rào cản của đạo đức khép kín để lo cho việc lớn hơn là vận nước, sự sống còn của một dân tộc trong đó có thân tộc và gia đình mình.

Chúng ta sẽ nhận thấy rằng quan niệm của Henri Bergson xây dựng nền tảng bổn phận dựa trên tình cảm rất khó vững vàng, vì tình cảm thường bộc phát, dựa trên trực giác, lại hay thay đổi theo từng cá nhân, từng hoàn cảnh thời đại. Tình cảm đạo đức nếu không đặt trên các qui luật đạo đức, trên khả năng phán đoán đúng sai, thiện ác sẽ khó làm nền tảng đạo đức được. Do đó, khi Trần Hưng Đạo được tôn xưng là anh hùng dân tộc, thì tình cảm yêu nước chỉ mới là điểm xuất phát. Sự suy nghĩ chín chắn của lý trí đã giúp Hưng Đạo Vương gạt bỏ các mối tị hiềm cá nhân do Trần Thủ Đô gây ra để cùng vua dốc tâm chống giặc Nguyên. Đó là hành động dũng khí có sự soi sáng của lý trí để phán đoán vấn đề.

3/ Quan niệm của Durkheim và phái xã hội:

Durkheim lại cho rằng "xã hội ra lệnh cho ta bởi vì nó ngoài ta trên cao ta, cái khoảng cách giữa nó và ta khiến cho nó có một uy quyền làm ý chí ta phải cúi đầu".

Theo quan niệm này, bổn phận không những là bó buộc mà còn là hành vi hướng đến một giá trị lý tưởng. Lý tưởng ấy chỉ là phản ảnh của những lý tưởng cộng đồng đã được gieo truyền vào tâm khảm của ta qua phong tục tập quán, qua sự giáo dục, văn hóa hoặc luật pháp xã hội. Nếu ta quay trở vào đời sống nội tâm, ta có thể bắt gặp chúng như là xương thịt thân thiết gắn liền với ta.

Thuyết xã hội của Durkheim cho ta thấy những vấn đề không được giải đáp ổn thỏa. Đành rằng lương tâm đạo đức đã ra lệnh cho cá nhân làm những gì xã hội muốn nhưng kinh nghiệm cho thấy lương tâm cá nhân có khi lại thay đổi bộ mặt của xã hội để đạt những giá trị đạo đức tốt hơn. Chẳng hạn sự ra đời của đức Phật làm cho xã hội phân chia đẳng cấp được công bằng và tốt đẹp hơn; học thuyết Marx cũng làm xã hội tư bản giảm bớt việc bóc lột sức lao động con người và dần dần trở nên hợp lý hơn, đặc biệt là việc bảo hiểm xã hội, phân chia lợi nhuận đồng đều cho mọi thành phần xã hội v.v...

Kế đến, lý thuyết xã hội của Durkheim chi phối mạnh mẽ đời sống cá nhân, áp đặt ý muốn của nó lên đời sống đạo đức con người bằng sức mạnh và sự cưỡng bách. Bổn phận đúng nghĩa đòi hỏi phải đặt trên sự tự nguyện, tự do để thi hành bổn phận. Như thế, xã hội chỉ là môi trường cho cá nhân làm bổn phận theo tiếng gọi của lương tâm và của lý trí chứ không thể là nền tảng của bổn phận. Dĩ nhiên, môi trường xã hội được lành mạnh, tốt đẹp, cuộc sống xã hội có tiến bộ và văn minh sẽ là cái nôi cho các hành vi đạo đức hướng thiện trong đó có bổn phận được phát triển.

4/ Quan niệm của các nhà thần học:

Abelard (1079-1142), Duns Scot (1220-1388), Gerson (1363-1429) là các nhà tư tưởng đã dựa vào đạo Thiên Chúa khi cho rằng bổn phận là mệnh lệnh của Thượng Đế và điều thiện là điều mà Thượng Đế muốn. Với các nhà thần học bổn phận là ý muốn của Thượng Đế.

Chủ trương của các nhà thần học nêu trên và rải rác về sau này rất mơ hồ, lập luận yếu ớt không vững vàng vì chỉ dựa vào niềm tin có Thượng Đế. Đồng thời, nếu bổn phận điều thiện là ý muốn của Thượng Đế. Kinh nghiệm cho thấy rất nhiều người không tin có Thượng Đế hoặc vô thần nhưng vẫn sống tốt đẹp theo qui luật đạo đức với một ý thức sáng suốt về bổn phận của mình.

Dương Anh Sơn

Cựu GV trường TH Ninh Hòa

(Xem tiếp kỳ 8)

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net