QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

* Nghề làm bánh tráng  ở Xóm Rượu NH: Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 11)

PHẦN 2: TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC CƯỚI

S

SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN : Theo tục xưa và theo sách THỌ MAI GIA LỄ, việc hôn nhân xưa phải theo trình tự sáu lễ (lục lễ) sau và việc thực hiện sáu lễ này do hoàn toàn họ đàng trai sắp xếp tổ chức:

1/ Lễ NẠP THÁI, đôi bên nhà trai nhà gái trao đổi sự đính ước.

2/ Lễ VẤN DANH : hỏi tên tuổi, ngày tháng năm sinh đôi trai gái nhờ thầy xem có hợp không.

3/ Lễ NẠP CÁT, chấp nhận sự đính ước sau khi coi tuổi thấy tuổi đôi trai gái tốt, hợp nhau.

4/ Lễ NẠP TỆ, lễ HỎI, nhà trai đem lễ vật và tiền bạc đến nhà gái để chuẩn bị đám cưới.

5/ Lễ THỈNH KỲ, nhà trai xin cưới.

6/ Lễ THÂN NGHINH (NGHÊNH HÔN), lễ cưới, rước dâu, đưa dâu.

Người xưa cho rằng phi lục lễ bất thành phu phụ, nghĩa là chưa đủ sáu lễ thì chưa thành vợ chồng, hay lục lễ bất bị, trinh nữ bất xuất nghĩa là đàng trai không đủ sáu lễ thì người con gái không ra khỏi nhà, tức là không có việc gả chồng, việc cưới hỏi không thành.

Thực hiện sáu lễ ngày xưa thường có thời gian dài, đây cũng là hai bên có cơ hội, có thời gian dò xét tình ý nhau, và nhất là có thời gian chuẩn bị lễ cưới, dành dụm tiền bạc cho việc cưới, cho cuộc sống tương lai.

Ngày nay, việc cưới hỏi đã giảm nhiều lễ cho phù hợp với cuộc sống mới, nhưng vẫn có những lễ nghi còn giữ lại, đó là những tục lễ cổ truyền tốt đẹp, cho cuộc hôn nhân được trang trọng, gây được những ấn tượng tốt đẹp trong đời sống vợ chồng sau này. Sáu lễ, lược bớt còn ba:

1/ Lễ CHẠM NGÕ, cũng gọi là CHẠM MẶT, DẠM VỢ, gồm lễ NẠP THÁI và VẤN DANH xưa.

2/ LỄ HỎI hay lễ ĐÍNH HÔN, gồm lễ NẠP CÁT và NẠP TỆ xưa.

3/ Lễ CƯỚI, còn gọi là lễ THÀNH HÔN, lễ VU QUY, gồm lễ THỈNH KỲ và NGHINH HÔN xưa.

Tuy nhiên, việc hôn nhân là việc quan trọng của một đời người, có ý nghĩa thiêng liêng, dù tổ chức bao nhiêu lễ cũng được, nhưng không nên không tổ chức hôn lễ cho lấy có, cần tổ chức trang nghiêm, có sự hướng dẫn, giáo dục của gia đình hai họ và thực hiện nghiêm túc những quy định của pháp luật hiện hành.

SÊU : Chàng rể tương lai đưa lễ vật đến biếu cha mẹ vợ nhân dịp lễ, nhân dịp Tết khi chưa làm lễ cưới. Đi SÊU, quà cáp tùy theo lễ, Tết, vụ mùa … mùa nào thức nấy, có thể bằng sản phẩm nông nghiệp mình làm ra. Lễ vật Tết gồm có rượu, gà sống, gạo nếp, 1 xâu tiền tượng trưng…. Tết Trung thu, lễ vật có thể là hồng, cốm, chim ngói …Đó là thời xưa. Ngày nay, lễ vật thay thế bằng bánh hộp, trà, rượu Tây …

SÍNH LỄ : SÍNH có nghĩa là đem lễ vật đến cầu ai đó giúp mình. SÍNH LỄ là lễ vật đi hỏi vợ, còn gọi là sính nghi, sính tài, sính kim … dân gian gọi là lễ vật ăn hỏi. Lễ vật gồm có tiền, nữ trang, áo cưới, rượu trà, bánh trái, trầu cau … Có thể nói, SÍNH LỄ chiếm một vị trí quan trọng, vì chỉ cần nhà gái đồng ý nhận thì dù chưa tổ chức cưới, chuyện hôn nhân xem như đã được xác định.

SÍNH LỄ là một hình thức tượng trưng của sự đền đáp công lao nuôi dưỡng của cha mẹ cô gái, để nhà gái cảm thấy thỏa mái, cân bằng tâm lý, vì công lao nuôi dưỡng con, nay phải về sống và phục vụ nhà người khác. Từ đó, ngày xưa, nẩy sinh ra tục THÁCH CƯỚI, làm mất đi ý nghĩa của hôn nhân.

Luật triều Lê có quy định rõ về sự quan trọng của sính lễ: Người kết hôn mà không đủ sính lễ đến nhà cha mẹ người con gái để xin, mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải tội biếm và theo lệ sang hèn, bắt phải nộp tiền tạ cho cha mẹ, người con gái phải phạt 50 roi (Quốc Triều hình luật, sđd, trang 128). Và luật cũng quy định: Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không gả nữa thì phải phạt 80 trượng. Nếu đem gả cho người khác mà đã thành hôn rồi thì xử tội đồ. Người lấy sau biết thế mà cứ lấy thì xử tội đồ, không biết thì không phải tội. Còn người con gái thì phải gả cho người hỏi trước, nếu người hỏi trước không lấy nữa thì phải bồi thường đồ sính lễ gấp hai và người con gái được gả cho người hỏi sau. Nhà trai đã có sính lễ rồi, mà không lấy nữa, thì phải phạt 80 trượng và mất đồ sính lễ (trang 129). Luật cũng quy định nếu người con gái hứa gả mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật thì người con gái kêu quan mà trả lại đồ sính lễ.. Nếu người con gái bị ác tật thì không trả lại đồ sính lễ.

Thời Hùng Vương, qua tác phẩm Lĩnh Nam chích quái (sđd), ta thấy trai gái lấy nhau trước hết dùng một gói muối làm lễ ăn hỏi, sau đó giết trâu bò để làm lễ cưới …. Gói muối thật có ý nghĩa trong nghĩa đen và nghĩa bóng của dân tộc ta. Muối là thức ăn cần thiết cho cơ thể. Ở vùng rừng núi, muối rất quý hiếm và muối trở thành vật sính lễ là coi trọng sản vật này. Muối mặn, như tình yêu lứa đôi, như hạnh phúc gia đình mặn mà như vị muối, gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau. Trầu cau cũng xuất hiện thời Hùng, cũng trở thành lễ vật trong SÍNH LỄ của người Lạc Việt xưa kia và người Kinh sau này. Sự tích trầu cau cũng được ghi lại trong Lĩnh Nam chích quái. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (sđd) đã nhận định : “Trầu cau lại là một thứ đầu cho sự lễ nghĩa. Phàm việc tế tự, tang ma, việc cưới xin, việc vui mừng, việc gì cũng lấy miếng trầu làm trọng. Tế tự thường khi dùng cả buồng cau để lễ, cưới xin nhà gái thường ăn của nhà trai vài ba ngàn quả để chia phần cho bà con “ (trang 319). Trong việc cưới xin, cha mẹ đàng gái, được nhà trai mời ăn miếng trầu là niềm tự hào, hãnh diện , vui sướng vì con gái mình được người ta quý trọng. Và đã nhận trầu cau, tức là thuận gả con gái của mình.

SO TUỔI : (Xem KIÊNG KỴ TRONG HÔN NHÂN)

SONG HỶ : Chữ Hán SONG HỶ có nghĩa là hai niềm vui mà trong đám cưới nào ta cũng thấy trang trí ở nhà hai họ. Ở Trung Quốc, tục này có liên quan đến Vương An Thạch (1021-1086), nhà chính trị, nhà kinh tế thời Bắc Tống. Ông làm quan đến chức Tể Tướng. Năm 20 tuổi, Vương lên Kinh đô dự thi. Trên đường ngang qua nhà họ Mã, thấy treo đèn kết hoa và trên cây đèn kéo quân lớn có câu đối: Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ. Câu này có nghĩa là đèn kéo quân chạy nhờ đèn, đèn tắt, quan mã không chạy được nữa. Vương đọc và nhớ câu đối đó, định sẽ nghĩ ra câu đối để đối lại. Vào thi, Vương là người nộp bài trước, được quan chủ khảo đọc bài, thấy người tài, cho gọi Vương đến và chỉ vào lá cờ to giữa sân có đề ba chữ “Phi hổ kỳ” (cờ hổ bay) và ra câu đối: Phi hổ kỳ, kỳ phi hổ, kỳ quyển hổ tàng thân. Câu đối này có nghĩa là cờ hổ bay, cờ hổ bay được là nhờ có cờ, cờ cuộn lại thì hổ cũng thu mình. Vương chẳng suy nghĩ gì, lấy câu đối của nhà họ Mã đối lại: Tẩu mã đăng, đăng tẩu mã, đăng tức mã đình bộ. Quan chủ khảo thấy câu đối quá chỉnh, quá hay, nên hết lời khen ngợi. Khoá thi đó, Vương đỗ đầu. Thi xong, trên đường về, ngang qua nhà họ Mã, Vương được mời vào và chủ nhân mời ông đối lại câu đối trên đèn kéo quân mà mãi đến nay vẫn chưa ai đối được. Vương bèn lấy câu đối của quan chủ khảo đối lại. Nhà họ Mã phục ông và gả con gái của mình cho ông. Trong lúc làm lễ thành hôn thì có tin triều đình báo tin ông đỗ đầu và vua cho mời ông về KInh dự yến. Nhà họ Mã và cả Vương đều vui mừng khôn xiết. Chàng họ Vương cảm xúc vì hai niềm vui, niềm đại hỷ đến cùng một lúc, nên cầm bút viết lên tờ giấy hoa tiên đỏ chói hai chữ Hán SONG HỶ, cho gia nhân dán lên trước cửa lớn. Từ đó, về sau, có tục, cứ đến đám cưới, chữ SONG HỶ được vẽ, cắt, trình bày đẹp dán lên khắp nơi trong nhà hai họ.

SUI GIA : SUI là từ Nôm, tên gọi cha mẹ cả bên chồng lẫn bên vợ. GIA là từ Hán Việt nghĩa là nhà. SUI GIA là vai cha mẹ của hai gia đình có con lấy vợ lấy chồng. Từ Hán Việt còn có từ THÔNG GIA. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (sđd) giải thích từ THÔNG GIA: Hai nhà giao hòa cùng nhau, có con trai con gái lấy nhau. An Chi trong Chuyện Đông chuyện Tây (sđd) có giải thích hai từ SUI GIA, THÔNG GIA như sau:” Về mặt ngữ nghĩa thì sui gia không khác thông gia (…). Sự khác nhau giữa hai từ là ở chỗ sui gia thuộc về phương ngữ miền Nam, còn thông gia thuộc về phương ngữ miền Bắc “. Tự Vị của Paulus Của chủ yếu ghi những từ miền Nam, chỉ có mục từ SUI, không có mục từ THÔNG GIA. Tự vị giải thích SUI là Tiếng gọi cha mẹ cả bên chồng, bên vợ. SUI GIA (cũng có nghĩa như thế). Ngoài ra Tự vị còn giải thích thêm: Ông sui: Cha chồng hay cha vợ. Bà sui: Mẹ chồng hay mẹ vợ. Sui trai: Cha mẹ bên chồng. Sui gái: Cha mẹ bên vợ. Làm sui: Cha mẹ bên trai bên gái kết nghĩa chịu cưới gả cùng nhau. Sui gia là bà con tiên: Cưới gả lễ thành, hai bên sui gia hóa ra thân cận cũng như bà con. Quyển Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (sđd), chủ yếu ghi những từ miền Bắc đều có mục từ SUI và THÔNG GIA. Từ SUI được giải thích: Thông gia có con gả cho nhau. Còn từ THÔNG GIA được giải thích: hai nhà có con gả cho nhau. Như thế, từ THÔNG GIA ở miền Bắc thông dụng hơn.

Ca dao ta có câu : Ai về nhắn với bà gia / Dọn đường quét ngõ tháng ba dâu về … Tục ngữ ta lại có câu : Chồng ghét thì ra, bà gia ghét thì vô. Truyện Kiều có câu : Làm cho rõ mặt phi thường / Bấy giờ ta sẽ ruớc nàng nghi gia. Đào Duy Anh trong Từ điển Truyện Kiều (sđd) giải thích từ Nghi gia : Do câu “Nghi kỳ thất gia” trong Kinh Thi, nghĩa là nên cửa nên nhà, nói con gái về nhà chồng. Như vậy trong SUI GIA, từ GIA, theo trên, chỉ về nhà trai. Còn từ SUI có lẽ có gốc từ từ XU. Hán Việt từ điển (sđd) của Thiều Chửu giải thích từ XU [bộ nữ + châu (màu son đỏ) ] : con gái đẹp. Kinh Thi có câu bỉ xu giả tử đẹp sao gã kia, nguyên là ý khen người hiền, bây giờ cũng gọi con gái đẹp là bỉ xu. Vậy SUI là lệch âm từ Hán Việt XU, chỉ phái nữ và chỉ bên đàng gái, nên SUI GIA, đó cách đọc thông thường, đọc là XU GIA mới đúng là âm Hán Việt

T

TÁI GIÁ : Người đàn bà lấy chồng lại sau khi chồng chết hay bị chồng bỏ. Từ Hán Việt có sự phân biệt, khi người mẹ bị cha ruồng bỏ (LY DỊ) đi lấy chồng khác thì gọi là XUẤT MẪU. Còn người mẹ chồng chết, gọi là bà GÓA (GÓA PHỤ, còn gọi là LẠI DÒNG), lấy chồng khác gọi là GIÁ MẪU. Việc lấy chồng lần thứ hai này, cha mẹ người đàn bà không tham dự, mọi tổ chức do nhà chồng cũ. Những người đàn bà này, nếu sinh đẻ nhiều lần, gọi là nạ dòng, lấy chồng khác ít khi lấy trai tân, phần lớn làm VỢ LẼ.

Người vợ đang có tang chồng, phải mãn tang mới lấy được chồng khác. Trước khi kết hôn người khác, người vợ phải lo cho mồ yên mả đẹp, làm lễ tạ chồng cũ, lễ cha mẹ chồng xin phép ĐI BƯỚC NỮA. Nếu có con, nếu con còn nhỏ, xin phép cha mẹ chồng cho dẫn con theo. Nếu con đã lớn, theo mẹ hay ở với ông bà nội hay ông bà ngoại cũng được. Nhưng dù ở đâu, những đứa con đó vẫn là thuộc quyền bên nội.

Nếu chồng đã LY DỊ, sau muốn nối lại, phải làm lễ tạ gia tiên nhà chồng và lễ cha mẹ chồng để xin tái hợp.

TAM BẤT KHẢ XUẤT : Ba điều ngăn cản người chồng không được bỏ vợ (Xem THẤT XUẤT)

TẢO HÔN : Tục lấy vợ lấy chồng sớm, khi người con trai, con gái chưa đến tuổi lập gia đình. Có khi chàng rể còn rất bé mà vợ thì thật nhiều tuổi, hay trái lại, vợ thì rất ít tuổi, chồng thì nhiều tuổi. Ta bị ảnh hưởng theo tập tục Trung Quốc, con gái đến tuổi mười ba, trai đến tuổi mười sáu thì có thể lập gia đình được, nữ thập tam, nam thập lục. Ở xã hội ta xưa, luật pháp không quy định tuổi lập gia đình. Cho nên, trong xã hội nông nghiệp cần nhân lực nên có gia đình lấy vợ, gả chồng cho con khi con còn nhỏ, chỉ cần người đàn bà, đàn ông có sức lực để giúp gia đình trong công việc đồng áng. Lại có gia đình quá nghèo, muốn gả chồng cho con gái quá sớm để có một món tiền lớn khi THÁCH CƯỚI. Tục này thật lạc hậu, không những có hại về mặt sức khỏe (sinh sản sớm, tỷ lệ tử vong của con cái cao …) mà còn đưa đến những duyên phận bẽ bàng, gây nhiều nỗi đau cho nhiều cặp vợ chồng.

Ngày nay, pháp luật đã quy định tuổi lập gia đình, không chấp nhận tục TẢO HÔN. Tuy nhiên, vẫn còn có vài nơi, vẫn còn duy trì tục này vì hai bên gia đình đồng ý. Nhưng không thể ĐĂNG KÝ KẾT HÔN được, con sinh ra, không làm Giấy khai sinh được, ảnh hưởng tới tương lai của con trẻ. Luật Hôn nhân và Gia Đình (năm 2000) của ta đã quy định tuổi kết hôn như sau: Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên (Điều 9, Chương II).

TÂN HÔN : Cuộc hôn nhân mới, tức là lúc vợ chồng lấy nhau. Nghĩa rộng là đám cưới, người con trai lấy vợ. Còn VU QUY là người con gái đi lấy chồng.

TẾ TƠ HỒNG : Sau lễ cưới, xưa có tục bày lễ vật TẾ TƠ HỒNG, tức là tế ông NGUYỆT LÃO, người đã XE DUYÊN, cột chặt họ với nhau bằng những sợi XÍCH THẰNG, lễ tạ ơn ông và cầu ông phù hộ cho đôi vợ chồng sống hạnh phúc bên nhau trăm năm đầu bạc. Người nhà bày hương án ra sân, lễ vật là xôi, gà, trầu, rượu … hai vợ chồng cùng nhau tế lễ.

THÁCH CƯỚI : Tục xưa, nhà gái ra điều kiện và số lượng SÍNH LỄ cho nhà trai, để gả con. Tục này nhằm mục đích tăng vị thế người con gái và cũng là dịp cho cha mẹ cô gái thu lợi, coi sự gả chồng cho con như một sự gả bán. Có nhiều nhà trai không lo đủ sính lễ như tiền bạc, nữ trang, vải vóc, bánh trái, trầu cau, heo bò … nên đành phải cho đôi trẻ xa nhau, hay phải đi vay mượn cho đủ lễ để lo cưới vợ cho con. Cái nợ ấy, sau này vợ chồng mới cưới phải nai lưng ra làm lụng để trả, không những làm khổ con cái mà SUI GIA hai bên sinh mối bất hòa.

Từ xưa, cũng có nhiều sự phê phán hủ tục THÁCH CƯỚI này. Phan Kế Bính, trong Việt Nam phong tục (sđd) đã dẫn phép Châu Lễ: “ Phàm lấy vợ, dẫn lễ cưới, lụa tốt không được quá năm lượng”. Rồi tác giả nhận xét: “Năm lượng nghĩa là mười cuốn lụa. Ông Chu Tử có luận rằng:”Lễ cưới ngày xưa giản dị như thế, đến đời sau tục dân ngoa ngoét, thương thường giảng đến cái lễ của cải đòi tiền đòi bạc. Các nhà hào phẩm, lại muốn trang sức thể diện, đòi vàng lục cho nhiều, không đủ thì trách móc lẫn nhau, đó là trái với lễ”.

Trong lịch sử Việt Nam, ta thấy tục thách cưới có từ thời Hùng Vương, khi Sơn Tinh, Thủy Tinh muốn lấy công chúa Ngọc Hoa, con gái vua Hùng, phải dâng lễ vật voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, toàn là những sản vật khó kiếm, quý hiếm.

THÂN NGHINH (NGHÊNH) : Lễ thứ Sáu và cũng là lễ cuối cùng trong SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN, nhà trai làm lễ RƯỚC DÂU, đón dâu về nhà mình, là lễ cưới chính thức. Người xưa cho rằng, dương luôn hạ âm, nam bao giờ cũng trước nữ, nên việc chú rể đích thân đi đón dâu biểu thị tình cảm yêu thương mà hai người dành cho nhau. Thứ nữa, chú rể đích thân nghênh đón cô dâu về nhà mình biểu hiện lòng tôn trọng đối với cô dâu.

Tục phải tránh lễ THÂN NGHINH trong thời kỳ để tang bên họ trai hay họ gái.

Nhà trai chọn giờ HOÀNG ĐẠO, xuất phát đến nhà gái RƯỚC DÂU. Xưa, theo lễ nghi, trước khi lên đường, chàng trai phải làm lễ gia tiên ở nhà mình, lễ cha mẹ mình để đền ơn sinh thành và dưỡng dục. Để phòng ngừa có sự cố xảy ra ở nhà gái, trước ngày THÂN NGHINH, nhà trai cử một người lớn tuổi, chững chạc, mang trầu cau đến nhà gái báo cho biết ngày giờ họ trai đến xin rước dâu. Đồng thời, xem nhà gái có gì trở ngại, bất trắc để kịp thời đối phó, như cô dâu có bị ốm nặng, hay nhà gái có tang gì không … Có biết như thế, nhà trai có nên tiến hành lễ THÂN NGHINH hay không.

Đoàn nhà trai đi RƯỚC DÂU, số người bao giờ cũng là số chẵn, mang một số quả (tráp tròn to có nắp) đựng những lễ vật như bánh trái, trầu cau, rượu, nữ trang, áo cưới cho cô dâu …, trên quả có miếng vải đỏ phủ lên. Mai Thìn, tác giả Văn hóa dân gian xã Nhơn Thành (Bình Định) (sđd) cho ta biết đồ sính lễ để trong xiểng. Xiểng là một đôi gánh đan bằng tre như đôi bầu bán cốm, nhưng nhỏ và đẹp hơn nhiều. Xiểng làm hai tầng, có chân đế và nắp đậy, xung quanh trang trí hoa văn, kẻ chữ rất đẹp. Chỉ có nhà đại hào, đại phú mới sắm nổi đôi xiểng, còn nhà thường dân thì muốn sang phải đến mượn, lúc xong việc phải có mâm trầu, bánh trái tạ ơn người đã cho mượn xiểng. (trang 120)

Đoàn nhà trai vào nhà gái được sắp xếp: vị CHỦ HÔN cầm nhang đi đầu, theo sau là cha mẹ chú rể, chú rể, những ngưởi mang quả, rồi đến những người trong họ. Ở các đám cưới lớn, đi trước có hai chú bé bồng mỗi đứa một con ngỗng và hai đứa trẻ mỗi đứa mang một cái lồng đèn. Con chim ngỗng là loài chim thường sống có cặp, có đôi, tương trưng cho đôi lứa trong hôn nhân được bền chặt. Xưa, lễ RƯỚC DÂU thường tổ chức vào buổi chiều hôm, nên phải đem đèn (Xem HÔN NHÂN). Xưa, trên đường đến nhà cô dâu, có tục CHĂNG DÂY, LẬP HƯƠNG ÁN hay tục ĐÓNG CỔNG ở nhà gái, nhà trai phải có một ít tiền để đám cưới vui vẻ, gặp may. Đoàn nhà trai đến trước cổng nhà gái, xưa có đốt pháo báo cho biết. Sau đó, cho người mang trầu rượu vào nhà gái “trình giờ”. Khi đến đúng giờ tốt, họ nhà trai mới được vào.

Họ nhà trai vào trước bàn thờ gia tiên, sắp xếp lễ vật trên chiếc bàn đặt trước bàn thờ. Nhà gái xem xét xem có đủ những gì đã giao ước trước kia không. Riêng chiếc áo cưới được đưa vào buồng cô dâu cho cô dâu mặc. Nếu lễ vật đầy đủ, nhà trai cho rót rượu, xin phép được cử hành lễ rước dâu. Nhà gái cho thắp hương, ĐỐT ĐÈN, khấn vái tổ tiên. Cô dâu chú rể làm lễ gia tiên, lễ cha mẹ. Sau này có đeo nhẫn cưới. Cuối cùng, cha mẹ, ông bà, dòng họ nhà gái mừng đôi vợ chồng bằng nữ trang hay bằng tiền. Sau lễ, nhà gái đãi tiệc nhà trai. Đến giờ tốt, nhà trai xin được rước dâu về nhà.

THẤT XUẤT : Bảy lý do mà người chồng có quyền bỏ vợ theo luật định ngày xưa trong xã hội ta, ngày nay goi là LY HÔN, LY DỊ:

1/ Người vợ không có con.

2/ Phát hiện là một dâm phụ (lén lút đi lấy trai),

3/ Có những biểu hiện qua hành động, lời nói không có hiếu với cha mẹ chồng, không chịu thờ cha mẹ chồng.

4/ Chua ngoa, đanh đá, lắm lời.

5/ Có hành dộng trộm cắp.

6/ Tánh tình hay đố kỵ , ghen tuông.

7/ Có ác tật.

Luật triều Lê sẽ xử tội người chồng giấu người vợ phạm những điều trong THẤT XUẤT kể trên mà không bỏ vợ. Luật còn quy định: Phàm chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và xã quan làm chứng) thì mất vợ. Nếu vợ đã có con thì cho hạn một năm. Vì việc quan phải đi xa thì không theo luật này. Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ thì phải tội biếm (Quốc Triều hình luật, sđd, trang 127).

Xét 7 lý do trên, ta thấy người phụ nữ trong xã hội xưa bị trói buộc đủ điều, mang tính chất trọng nam khinh nữ, có những lý do nếu người chồng vi phạm thì người vợ không được phép bỏ chồng hay lấy lý do không có con mà bỏ vợ là điều bất hợp lý, trong lúc người chồng có quyền lấy VỢ LẼ, hay cưới THIẾP.

Tuy nhiên, trong điều luật xưa cũng có những điều luật quy định ba điều ngăn cản người chồng không được bỏ vợ, gọi là TAM BẤT KHẢ XUẤT:

1/ Khi người vợ chịu một đại tang (tang cha hay mẹ) cùng với chồng.

2/ Khi mới lấy nhau, vợ chồng đều nghèo, nay nhờ công sức của hai vợ chồng, nhất là người vợ, mà gia đình trở nên giàu có.

3/ Khi người vợ, nếu bị chồng bỏ, không nơi nương tựa.

Theo Luật Hôn nhân và Gia đình của ta (năm 2000), chỉ có 1 trường hợp người chồng không có quyền yêu cầu xin LY HÔN: Trong trường hợp vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng (Điều 85, Chương X), không có điều luật nào cho phép người chồng có quyền bỏ vợ như điều luật xưa.

NVB

Cựu GV trường TH Ninh Hòa

(Xem tiếp kỳ 12)

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net