QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú

Dương Tấn Long

 (Kỳ 3)

Theo dấu chân Nguyễn Ánh

Trước khi tìm lời giải đáp vấn đề : “ Bằng đường nào Nguyễn Ánh có mặt ở toạ độ BV”, tôi muốn có đôi dòng lãng đãng.

Cụ Nguyễn Công Trứ ngày trước có nói: “Ngã kim nhật tại toạ chi địa/ Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi”, tạm dịch là : “Chỗ đất ta ngồi hôm nay, người xưa đã từng ngồi”. Câu này có thể được hiểu theo nghĩa thoáng hơn; Tôi muốn phát triển với ý : “Chốn ta ở hôm nay, người xưa đã đi qua”. Điều này cho tôi suy tưởng rằng – Dải đất Ninh Hòa nằm trên con đường cái quan, ở ngã ba đất nước, đã không ít người xưa qua lại, vào Nam ra Bắc...”Người xưa” đề cập ở đây là các danh nhân, những người có ít nhiều ảnh hưởng đến lịch sử, vận mệnh đất nước. Vùng đất Ninh Hòa có hơn 350 năm lịch sử, đã từng dậy vang tiếng vó ngựa của các danh tướng thời Nguyễn - Nam tiến bình Chiêm, của anh em Tây Sơn tranh bá đồ vương, những bước chân âm thầm khí phách của những chí sĩ yêu nước….nhưng có mấy người lưu dấu!

Một hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu làm rúng động thế giới, lung lay nền Đệ nhất Cộng Hòa, đã có nhiều năm tu tập, tạo dựng các chùa ở Ninh Hòa. Một chí sĩ - Tiến sĩ Trần Quý Cáp đã từng là Giáo thụ Trường Tiểu học Pháp Việt Ninh Hòa với cái chết hiên ngang, lẫm liệt trước kẻ thù Thực dân. Một Nguyễn Xuân Thục: Hữu tham tri Bộ Hộ Gia Định, Thượng thư Bộ binh, Thượng thư Bộ lễ, Chánh Chủ Khảo trường thi triều Nguyễn người làng Phước Đa...và dược sĩ Phan Văn Giáo người làng Mỹ Hiệp, là Thủ hiến Trung kỳ thời Bảo Đại…Tôi thoáng thấy đâu đó những “cổ chi nhân” còn để lại vài chứng tích, nhưng đang chập choạng giữa mất còn, mai một. Rồi sẽ làm gì, như thế nào với chứng tích còn lại ấy?!? Những vấn đề khó có lời giải đáp. Tôi cũng không thể làm gì hơn ngoài chút gợi ý để người Ninh Hòa ghi nhớ.

Ninh Hòa là vùng quê không nhiều tiếng tăm. Khi may mắn có được dấu ấn của những nhân vật lịch sử khắc in trên vùng đất, dù khiêm tốn, ý nghĩa thế nào vẫn rất quý báu và vinh hạnh. Thế hệ chúng tôi được học những điều hệ trọng từ thuở vỡ lòng : “Cái nhà là nhà của ta. Ông cố ông cha lập ra. Các con hãy gìn giữ lấy. Muôn năm giữ nước non nhà”. Tôi suy tư theo hướng đó nhưng chưa có ý nói đến “toà lâu đài” Việt Nam, chỉ lưu tâm đến “căn nhà lá” Ninh Hòa, tuy vậy cũng đã thấy lắm chuyện gian nan. Và cũng chỉ mong muốn các di sản trên đất quê được giữ gìn, bồi đắp, củng cố, tạo được sự rạng rỡ. Những việc như vậy con cháu Ninh Hòa không thực hiện thì chắc chắn không “người dưng” nào vào làm giúp chúng ta!

* * *

Dù lăng Bà Vú chỉ là kỷ vật nơi góc khuất của ngôi nhà Ninh Hòa nhưng nó là một báu vật hiếm hoi mà cha ông để lại có mang dấu ấn lịch sử. Lăng được Nhà nước xếp vào hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia là sự hợp pháp hoá cần thiết, kịp lúc nhưng chưa đủ. Ở đây còn có ý nghĩa lịch sử và cái “tâm” của Nguyễn Ánh khi thể hiện sự tri ân, có ý nghĩa đạo lý. Tôi cảm thấy cách tôn vinh lăng Bà Vú hiện nay còn ở tính hình thức, chưa thấu đáo từ sử liệu đến việc trùng tu và bảo quản nên phải lên tiếng, làm cho rõ hơn.

Rác, cát và phơi bánh tráng ngay trước cổng vào Lăng

 

Đọc lại các đoạn về lăng Bà Vú của những tác giả viết địa chí Khánh Hòa:

 - Quách Tấn : “Truyền rằng : Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn đuổi đánh. Chạy đến Mỹ Hiệp thì trời vừa tối. Bộ hạ vừa mệt vừa đói, Nguyễn Ánh lại thụ bệnh, không thể đi được nữa. Tình cảnh thật nguy khốn. Một người đàn bà trong thôn thấy vậy, đem về nhà cho ăn uống và lo thuốc thang. Nhờ đó mà thoát nạn.”

- Nguyễn ĐìnhTư : “…hồi Nguyễn Ánh chống với Tây Sơn, thế còn yếu bị đuổi chạy khắp nơi. Một ngày kia, Vương và thủ hạ chạy đến làng Mỹ Hiệp, trời vừa tối, lương thực đã hết nhẵn từ lâu, mọi người đều đói mèm và kiệt sức. Vương lại thụ bệnh, tình cảnh rất là nguy khốn. Bấy giờ có một bà phú hộ, không rõ tên tuổi là gì, có lòng hào hiệp, mời Vương và đám tuỳ tùng vào nhà nghỉ ngơi. Một mặt bà bảo người nhà giết heo làm thịt, nấu cơm đãi tất cả một bữa no nê, và cung cấp thêm lương thực khô để rạng ngày hôm sau lên đường. Mặt khác đối với Nguyễn Vương, bà săn sóc thuốc men chu đáo, bảo người vắt sữa bò cho Vương uống và mang theo. Nhờ sự săn sóc tận tình và đối đãi tử tế ấy, mà Vương được lành bệnh, quân sĩ lấy lại sức khoẻ để tiếp tục bôn tẩu trên đường tỵ nạn.”

- Nguyễn Công Bằng : “Truyền thuyết của nhân dân trong vùng kể lại rằng, thuở trước, khi chúa Nguyễn Ánh đang lúc gian nan và khốn khó, một lần bị quân Tây Sơn đánh bại và truy đuổi gắt gao, quân lính theo hầu không còn mấy người, lương thực cạn kiệt, những tưởng rằng phải bỏ xác lại nơi này, may sao, có một người phụ nữ nhà khá giả ở thôn Mỹ Hiệp (Ninh Hòa) thương tình cho ăn, lại chỉ đường cho trốn chạy thoát được vào Nam.”

Dân làng truyền khẩu các huyền thoại về lăng Bà Vú mơ hồ, thiếu căn cứ là chuyện đã đành. Còn đây, với ý tứ diễn đạt ở các trích đoạn mang tính sử liệu chính thống địa phương như trên, ai đọc qua cũng có thể suy nghĩ lúc ấy Nguyễn Ánh là một trang dũng tướng bị sa cơ, dẫn đoàn quân thảm bại chạy qua vùng đất Ninh Hòa. Nhưng theo tôi, như đã nói ở bài kỳ trước, đó là đoàn người lánh nạn do Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần thống lĩnh, gồm thuộc hạ thân tín và nhiều người trong dòng tộc như anh ruột của Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Phúc Đồng hoặc như Nguyễn Phúc Kính Chưởng dinh Quận công (người chết vì lật thuyền ở Gia Định 20-3-1775 được nhắc ở kỳ 2). Nguyễn Ánh khi đó chỉ 13 tuổi, một thiếu nhi vô danh phận, là “ấu chúa” dự bị, chứ không phải nhân vật tầm cỡ quan trọng như tinh thần các Địa chí gia Khánh Hòa viết. Vài tài liệu lịch sử cũng viết trên tinh thần ấy, lấy Nguyễn Ánh - người tạo dựng triều Nguyễn để làm nhân vật đối chứng, xuyên suốt cho giai đoạn lịch sử, kể cả lúc Nguyễn Ánh chưa làm nên tích sự gì.

Có thể ai đó cho rằng sự kiện Nguyễn Ánh gặp nạn được Bà Vú cưu mang là trong một trường hợp khác, không phải chuyến đi cùng với Nguyễn Phúc Thuần. Về việc này chúng ta phải quay lại sử liệu, tìm xem Nguyễn Ánh đã bước chân qua Ninh Hòa bao nhiêu lần và vào những hoàn cảnh nào.

* * *

 Sau khi vượt biển vào đến Nam bộ tháng 3/1775 thì 2 năm sau (1777), hầu như cả dòng tộc Nguyễn cùng thuộc hạ bị quân Tây Sơn truy bắt sát hại ở Long Xuyên. Chỉ Nguyễn Ánh và một ít người thoát nạn. Khi ấy Nguyễn Ánh 15 tuổi. Có lẽ quân Tây Sơn không nhận ra thằng con nít Nguyễn Ánh đáng chết và đáng sợ sau này nên tha mạng. Nguyễn Ánh sớm ý thức và có tham vọng khôi phục cơ nghiệp nên tích cực lẩn tránh và tái xây dựng lực lượng. Nơi nào thấy quân Tây Sơn thế yếu, sơ hở thì đánh phá. Nhiều trận thất bại, có lúc bị quân tây Sơn đánh tan tác, trốn chạy ra đảo Thổ Chu, Phú Quốc hoặc đến tận Chân Lạp (Căm Bốt), Xiêm La (Thái lan)... Thoả hiệp với quân Xiêm, được giúp đỡ của Bá Đa Lộc (Pháp), Nguyễn Ánh củng cố thế lực. Cho đến hơn 15 năm sau, lực lượng của Nguyễn Ánh lớn mạnh, làm chủ được thế trận, kiểm soát nhiều địa phương Nam Bộ, cho xây thành Gia Định... Trong lúc nhà Tây Sơn phải đối phó với quân Thanh ở Bắc Hà, Nguyễn Ánh khởi sự Bắc tiến :

- Năm 1792, nương theo gió Nam, ông sai hai tướng Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành cùng hai sĩ quan đánh thuê người Pháp là Dayot và Vannier đánh một trận và đốt phá thuỷ trại Tây Sơn tại Thị Nại rồi rút về.

- Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Duy Nghi,  Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Hội, Philipe Vannier, Nguyễn Văn Hòa, Chưởng cơ Cố đem quân đánh Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên, rồi tranh thủ đánh tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc...

- Từ năm 1794 đến năm 1795, Tây Sơn phản công, cho quân nhiều lần vào đánh Phú Yên, vây thành Diên Khánh, quân Nguyễn chống cự, nhiều lần kìm hãm được quân Tây Sơn. Nội bộ Tây Sơn mâu thuẫn, các tướng tranh quyền, các quan nghi kỵ giết hại lẫn nhau tạo điều kiện thuận lợi cho Nguyễn Ánh.

- Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú Yên, riêng mình thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh chỉ huy thủy quân ra tận Quy Nhơn đánh nhau với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới, nhưng khi tới Qui Nhơn thấy thế Tây Sơn thủ mạnh quá đành vòng lên đánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút về vì thuyền chở quân lương từ Gia Định bị ngược gió không lên kịp.

- Năm 1799, Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn, tướng giữ thành của Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng dù trước đó Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu. Sau đó, Nguyễn Ánh đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định, rồi cho quân tới trấn giữ thành. Tây Sơn ngay lập tức tìm cách chiếm lại; tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo đến vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cho quân ra cứu nhưng bị bộ binh Tây Sơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có một trận lớn ở Thị Nại...

- Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Tháng 5 năm 1801, Nguyễn Ánh kéo quân đánh nhau dữ dội với Tây Sơn ở cửa Tư Dung; rồi đụng Quang Toản ở cửa Eo, Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc và đến 3 tháng 5 Nguyễn Ánh giành được Phú Xuân…

Lược qua tình hình chiến sự và thế trận đôi bên diễn ra từ năm 1792 - khi Nguyễn Ánh khởi binh Bắc tiến đến lúc lên ngôi vua 1802 là một chuỗi ưu thế và thế lực tăng tiến. Ông đã có binh hùng tướng mạnh, tiền hô hậu ủng, tiến thoái chủ động. Kinh nghiệm tích luỹ qua hơn 15 năm đối phó với quânTây Sơn ở Nam bộ đã cho Nguyễn Ánh dày dạn mưu lược.

Tóm lại, sau 18 năm, kể từ lúc Nguyễn Ánh là một “ấu chúa” non dại ở tuổi 13, lần đầu theo chúa Nguyễn Phúc Thuần trốn chạy vào Nam; Nguyễn Ánh bây giờ ở tuổi 30, là một bậc đại nhân tài trí, thống lĩnh đội quân hừng hực khí thế, quyết tâm khôi phục cơ đồ, đã có hơn 5 lần bắc tiến chinh phạt quân Tây Sơn giẫm chân lên vùng đất Ninh Hòa. Trong các hoàn cảnh và tư thế như trên, dù gặp những hoạn nạn hay thất trận có tính chiến thuật, Nguyễn Ánh không thể bị động thê thảm cần phải trợ giúp, ơn nghĩa kiểu cá nhân như gia đình Bà Vú, dù là một địa chủ. Nếu nói ý nghĩa của sự cứu giúp để Nguyễn Ánh phải thể hiện ơn nghĩa chính là lúc thế lực Nguyễn Ánh yếu kém, phải trốn chui nhủi, nhờ vả dân chúng ở nhiều địa phương Nam bộ...và như vậy, không biết phải xây bao nhiêu lăng mộ để đền ơn mới đủ ! Tôi cũng chưa đọc được tài liệu nào nói Gia Long cho xây lăng mộ để tạ ơn cho cá nhân ở miền Nam.

Một phát hiện lý thú khác, tuy đơn giản nhưng thuyết phục, có sức minh chứng hơn nhiều trang sử liệu, đã giúp tôi thêm khẳng định. Đó là 2 chữ “Nhũ mẫu” mà Nguyễn Ánh đã phong tặng cho Bà địa chủ xóm Rượu. Cách dùng nhân xưng như vậy đã xác định được vị thế của người gọi. Ngữ cảnh làm sáng lên giai đoạn chịu ơn của một thiếu nhi 13 tuổi chứ không thể của vị chúa tuổi 30. Như vậy, đặt lại vấn đề này tôi muốn tái khẳng định sự kiện mà Nguyễn Ánh phải mang ơn trời bể của Bà Vú xảy ra vào “ hạ tuần tháng 2/1775” chứ không rơi vào một trong những lần Bắc tiến sau năm 1792.

Nhưng “cảnh ngộ” thế nào để Nguyễn Ánh phải khắc sâu tâm trí, luôn canh cánh bên lòng suốt 27 năm, để khi vừa lên ngôi vua đã cử người vào Ninh Hòa tạ ơn. Khi biết Nhũ mẫu khuất núi ông liền ban chiếu chỉ cho xây cất lăng mộ “Hòanh tráng” thể hiện sự quyết tâm đền đáp.

Để diễn giải cho rõ, nghe cho lọt tai phần cảnh ngộ phải “dài dòng văn tự” với nhiều cảm quan lịch sử, hiểu biết địa lý Ninh Hòa... Thông tỏ được cảnh ngộ cũng là cách giải đáp vấn đề “Bằng đường nào Nguyễn Ánh có mặt ở toạ độ BV”.

Tôi xin chiếu lại cuộn phim “âm bản”, đoạn vượt biển vào Nam của chúa Nguyễn Phúc Thuần để lần theo dấu chân Nguyễn Ánh :

“…Vầng thái dương toả rạng vùng trời biển Đông, sóng biển lao xao vỗ mạn thuyền làm tung bay những vạt nước trắng xoá, đại dương chuyển sang màu xám bạc. Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần đứng trên mũi thuyền, mặt hướng về Nam với vẻ bơ phờ sau một đêm trằn trọc. Chiếc áo vải phong phanh của chúa Nguyễn phất phơ theo cánh bườm rách tơi tả, tạc vào nền rạng đông một hình tượng bi tráng. Chúa Nguyễn buông một tiếng thở dài rồi ra lệnh thuộc hạ nhổ neo tiếp tục cuộc hành trình...

Gần nửa tháng qua, từ hôm xuống thuyền ở cửa Tư Hiền rời đất Quảng, ngày lênh đênh trên biển đầy nắng gió, đêm nghỉ tạm ở ghềnh bãi, làng mạc ven bờ. Nhiều lần neo thuyền bên sườn đá núi, nhìn Trường Sơn hùng vĩ chạy dài mà lòng Thái Thượng Vương ngổn ngang trăm mối…

Nắng lên cao, đoàn thuyền chậm chạp đi vào vùng biển lặng sóng, nhiều dãy núi vươn xa như chào đón. Một vùng non xanh nước biếc Hòa quyện vào nhau thật nên thơ. Đoàn người vượt biển đã thấm mệt, phần đói khát, phần thiên nhiên hữu tình, làm chúa Nguyễn chùn bước muốn cho neo thuyền. Trỏ tay về một ngọn núi cao, chúa Nguyễn hỏi quan cận thần :

- Này Khanh, ngọn núi cao hình thù giống ngón tay chỉ lên trời kia có phải là Thạch Bi Sơn (1) mà ta đã từng nghe tiếng?

Nhìn dọc theo đồi núi kéo dài và một thoáng suy nghĩ, quan cận thần mắt sáng lên :

- Tâu Chúa thượng, dạ đúng đấy là ngọn Thạch Bi – nơi mà năm Canh dần (2) , vua Lê Thánh Tông chinh phạt quân Chiêm đã lấy đó là cột mốc phân ranh giữa nước Đại Việt và Chiêm Thành. Hiện nơi đây cũng là điểm phân ranh giữa phủ Bình Khang và phủ Phú Yên.

Nghe qua chúa Nguyễn tỏ vẻ vui mừng, vỗ vai quan cận thần nói lớn:

- Tốt lắm, tốt lắm! Như vậy là chúng ta đã thoát nạn, hãy truyền lệnh cho các thuyền cập bờ, tìm bãi đậu thật tốt chuẩn bị cho bữa ăn trưa và nghỉ ngơi.

Chợt nhớ điều gì, chúa Nguyễn hỏi lại quan cận thần :

- Khanh có biết con đường cái quan qua vùng này như thế nào không?

Quan cận thần không chút do dự :

- Thưa Chúa thượng, đường qua đây hiểm trở chập chùng, lên đèo xuống vực, bên núi bên biển, không dân cư, có nhiều ác thú, qua Bình Khang thường gặp hổ dữ!

Chúa Nguyễn trầm ngâm đôi phút, nhiều người chưa hiểu ý, xong thấy vẻ quyết đoán của Chúa Thượng nên yên lòng. Ba chiếc thuyền lần lượt cập vào ghềnh đá gần bãi cát vàng mịn nằm dưới chân núi - một vùng nước xanh có sóng biển rì rào, bên núi cao rộn ràng tiếng chim kêu vượn hú...

Đoàn người lần lượt rời khỏi thuyền, tản mác vào các rặng cây tìm chổ ẩn trú. Chúa Nguyễn gọi các chức sắc và họ tộc tập họp dưới tán cây có nhiều bóng mát để dăn dò huấn thị. Chúa Nguyễn ngồi trên một hòn đá lớn, giọng chậm rãi:

- Này các quan và họ tộc, mới đó mà đã gần nửa tháng rời đất tổ. Chúng ta đã vượt qua một nửa chặng đường, nhưng đó là đoạn đường đầy gian nan hiểm họa. Kẻ thù Tây Sơn thế lực rất mạnh và đang làm chủ vùng này. Quảng Nam, Quảng Ngãi thì chúng đang dồn sức tấn công, truy đuổi chúng ta. Bình Định là quê nhà của Tây Sơn. Nguyễn Huệ đang hùng cứ trên đất Phú Yên và tung hoành những vùng lân cận... Những ngày qua ta giục giã đi nhanh, không dám nghỉ ngơi nhiều là muốn sớm vượt khỏi vùng kiểm soát của chúng. Ta biết mọi người đang rất căng thẳng và mệt mỏi, vài người ngã bệnh, lương thực đang cạn dần. Gần nửa tháng không ngày nào ta ăn ngon ngủ yên, thế tôn Nguyễn Phúc Ánh của ta còn bé quá, không chịu nổi sóng gió đã nằm vùi mấy ngày qua, ta rất lo ngại, nếu tiếp tục cuộc hành trình e rằng sẽ gặp điều không hay. Còn chừng 2 ngày đường nữa là tới phủ Bình Khang, nơi mà Tiên chúa chúng ta chọn xây Dinh (3) bên bờ sông Vĩnh An (4), hiện quan Nguyễn Kế đang trấn giữ - đó là đất lành, có nhiều người thân thiện, đến đó chúng ta sẽ tiếp thêm lương thực, trữ thêm thuốc men, tìm người cha bệnh cho Nguyễn Phúc Ánh.

Ngừng một chốc, chúa Nguyễn ân cần:

- Ta thấy nơi đây non nước hữu tình, địa thế thuận lợi nên muốn dừng chân vài hôm. Mọi người hãy nghỉ ngơi để phục hồi sức lực. Ta lệnh cho quan phụ trách quân lương cắt cử người lên núi, xuống biển săn tìm thêm thực phẩm, bổ sung vào bữa ăn để bù lại những ngày vất vả, riêng các bệnh nhân cần phải tích cực điều dưỡng, đặc biệt lưu tâm đến thế tôn Nguyễn Phúc Ánh của ta... ”

DTL

(xem tiếp kỳ 4) 

(1)     Năm Canh dần 1470

(2)     Núi Đá Bia gần vùng biển Vũng Rô

(3)     Dinh Quan trấn thủ Bình Khang ở Ninh Hòa

(4)     Sông Vĩnh An, sông Vĩnh Phú là những tên cũ của sông Dinh

 Cùng một tác giả :

>> Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 2)

>> Tản mạn về việc trùng tu lăng Bà Vú (kỳ 1)

>> Trở Lại (kỳ 2)

>> Trở Lại (kỳ 1)

>> Người đàn bà phía sau

>> Viếng GS Tiến sĩ Dương Thiệu Tống

>> Nỗi nhớ mùa đông và Thiên Thần của tôi

>> Nghe và ngẫm “Mùa Xuân Đầu Tiên” của Văn Cao

 

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net