QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, Kỳ 11, Kỳ 12, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

* Nghề làm bánh tráng  ở Xóm Rượu NH: Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

(Kỳ 12)

 PHẦN 2: TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC CƯỚI

THIẾP : (Xem NÀNG HẦU)

THỈNH KỲ : Lễ thứ Năm trong SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN, có nghĩa là định ngày, chọn ngày, ngày làng tháng tốt để nhà trai sang nhà gái RƯỚC DÂU, tổ chức lễ THÂN NGHINH. THỈNH có nghĩa là bàn bạc, thương lượng. Hai họ bàn bạc, trao đổi, thương lượng về ngày giờ RƯỚC DÂU, về các lễ vật, tiền nong, nữ trang, áo cưới, về số người đưa đón dâu, về xe cộ … Tất cả những vấn đề phải được nhà gái chấp thuận (xưa, nhà gái thường THÁCH CƯỚI trong lễ này), thì nhà trai mới tiến hành được, trừ trường hợp có đại tang phải hoãn lại hay hai bên đồng ý CƯỚI CHẠY TANG. Đây còn gọi là CHỊU LỜI.

THOÁI HÔN : (Xem HỒI HÔN)

TIỆC CƯỚI “XÚ XẨM” : Tiệc cưới tổ chức đơn giản để ra mắt họ hàng, lý do đôi bên đều nghèo, tránh điều chẳng lành do tuổi cô dâu chú rể không được tốt, trong việc CƯỚI CHẠY TANG, hay cô dâu lỡ “có mang” trước. “Xú xẩm” là tiếng Quảng Đông (Trung Quốc), tiếng Việt đọc là “tiểu sự” nghĩa là việc nhỏ, không thể tổ chức lớn được, xin được thông cảm.

TRANG PHỤC CÔ DÂU CHÚ RỂ XƯA VÀ NAY: Xưa, trang phục cô dâu miền Bắc thường mặc áo mớ ba, ngoài cùng là chiếc áo the thâm, bên trong ẩn hiện hai chiếc áo màu hồng và màu xanh hoặc màu vàng và màu hồ thủy. Rồi đến áo cánh trắng, cuối cùng là chiếc yếm hoa đào có dải bằng lụa bạch. Váy là váy sồi đen hoặc váy lĩnh. Thắt lưng bằng lụa màu hoa đào, hoa lý, ngoài cùng là thắt lưng vải sa màu đen. Cả ba thắt lưng đều có tua ở hai đầu. Vấn khăn, đầu khăn gài chiếc đinh ghim, có đính con bướm vàng chạm bạc, để tóc đuôi gà. Lúc đưa dâu về nhà chồng, cô dâu đội nón quai thao, chiếc nón to, chủ yếu che mặt cho đỡ mắc cỡ với mọi người. Chân đi dép cong. Đồ trang sức có khuyên đeo tai bằng vàng hoặc bằng bạc.

Cô dâu miền Trung cũng mặc áo mớ ba, trong cùng là áo màu đỏ hoặc hồng điều, áo giữa bằng the hay vân thưa màu xanh chàm, áo ngoài cùng bằng the hay vân thưa màu đen. Mặc quần trắng. Đi hài thêu. Tóc chải lật, búi sau gáy. Cổ đeo kiềng hoặc quấn chuỗi hạt vàng cao lên quanh cổ. Cổ tay đeo vòng vàng, xuyến vàng.

Cô dâu miền Nam mặc áo dài gấm, quần lĩnh đen, đi hài thêu. Tóc chải lật, búi lại và cuốn ba vòng phía sau đầu, gài lược bằng đồi mồi hoặc bằng vàng, bạc. Đeo dây chuyền vàng.

Chú rể ba miền đều thường mặc áo thụng bằng gấm hay the, màu lam, quần trắng, búi tóc, chít khăn nhiễu màu lam. Chân đi hài thêu.

Những năm 1920-1930, ở thành thị miền Bắc, cô dâu mặc áo dài cài vạt, ngoài là chiếc áo the thâm, bên trong áo màu hồng hay xanh. Mặc quần lĩnh hay sa tanh đen. Chân đi hài thêu hay guốc cong. Vấn khăn nhung đen. Đeo hoa tai bèo, cổ đeo nhiều vòng chuỗi hột bằng vàng. Chú rể mặc áo dài the thâm, trên nền áo dài trắng bên trong. Quần trắng, đi giày Gia Định. Đội khăn xếp.

Đến giai đoạn sau, các cô dâu nhà giàu mặc áo thụng gấm màu đỏ hoặc vàng có họa tiết rồng phượng, cánh tay áo dài và rộng. Quần trắng. Đi hài có thêu bằng hạt cườm hay chỉ kim tuyến lóng lánh. Đầu đội khăn màu vàng hay lam, quấn quanh đầu.

Ở thành thị, sau này tiếp thu Tây Âu, cô dâu trang điểm son phấn, cài bông hồng, tay ôm hoa. Chú rể mặc com-lê, thắt cà vạt hay nơ ở cổ, đi giày da. Ở thôn quê, cô dâu mặc áo dài cài cúc, quần lĩnh đen. Chú rể mặc áo the, quần trắng, đội khăn xếp.

Sau 1954, ở miền Bắc, nơi thành thị, cô dâu mặc áo dài màu trắng hay các màu sáng nhạt, quần trắng, đi giày cao gót, tóc uốn hay chải bồng, trang điểm son phấn. Chú rể mặc com-lê, thắt cà vạt, đi giày tây. Những người là cán bộ, hay ở nông thôn, cô dâu mặc áo sơ mi trắng, quần đen, đi dép mới. Chú rể mặc sơ mi, quần Âu, đi giày hay mang săng-đan. Bộ đội thường mặc quân phục.

Sau 1975, cô dâu thường mặc áo váy màu trắng hay vàng, xanh nhạt, gấp nếp ở tay, ngực, váy xòe rộng, dài quá gót chân. Áo váy có thể có nhiều tầng. Đi giày cao gót. Tay đeo găng mỏng. Cổ đeo chuỗi hạt. Tóc uốn, phía trước cài hoa trắng bằng vải, thêm một khăn voan trắng trên đầu. Trang điểm son phấn. Tay ôm bó hoa. Chú rể mặc com-lê, thắt cà vạt, trên ngực có cài một bông hồng trắng bằng vải để phân biệt với các PHÙ RỂ cũng mặc giống chú rể. Có cô dâu mặc áo dài kiểu hoàng hậu, đội khăn vành màu vàng. Quần trắng. Đi giày cao gót.

Trang phục PHÙ DÂU xưa mặc áo váy giống cô dâu. Nay, các cô mặc áo dài nhiều màu.

{Theo Tìm hiểu trang phục Việt Nam của Đoàn Thị Tính (sđd) }

TRÁO HÔN : Hay MẠO HÔN là một hình thức HÔN NHÂN VÔ HIỆU LỰC, là tục đánh tráo người này bằng người khác trong việc cưới gả. Gia đình thực hiện việc TRÁO HÔN trong trường hợp có con trai hay con gái xấu xí, tật nguyền, không thể lấy vợ lấy chồng một cách bình thường được vì ai cũng chê. Vì thế, gia đình nhờ MAI MỐI dùng tài khôn khéo của mình để thực hiện việc TRÁO HÔN, trong hoàn cảnh của một xã hội xưa, trai gái không có điều kiện gặp nhau, tìm hiểu nhau trước khi cưới. Khi hai gia đình đến với nhau xem mặt, COI MẮT thì thay người khác vào (anh em hay chị em có bộ dáng bình thường), kể cả khi tiến hành việc đưa dâu đón rể. Chỉ trong đêm ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC, mới là con người thật cần cưới gả xuất hiện, trong cảnh tối tăm, đèn nến tắt hết. Sáng ra, việc đã vỡ lỡ, chàng rể hay cô dâu đành cam phận hay coi đó là việc hôn nhân không có hiệu lực, có thể từ bỏ như luật quy định ngày xưa.

TRINH TIẾT : Người xưa rất coi trọng trinh tiết người con gái. Do đó, khi về nhà chồng, đêm ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC, mẹ chú rể lót dưới chăn nằm hoặc tờ giấy bản (có tính hút chất lỏng) hoặc một mảnh vải trắng. Sáng ra, nếu mảnh giấy hay tấm vải có vết máu, gia đình nhà trai cho rằng do màng trinh bị rách ra, máu thấm vào, chứng tỏ người con gái vẫn còn trinh trắng trước khi lấy chồng. Nếu giấy hay vải không có vết gì, nhà trai cho rằng người vợ đã mất trinh. Từ đó, nhà trai có thể thực hiện việc TỪ HÔN, nhân lễ LẠI MẶT, gửi cho nhà gái đầu heo cắt mất tai, trả lại con dâu về cho họ nhà gái.

Luân lý đạo đức phong kiến yêu cầu người con gái phải giữ gìn trinh tiết, tức là giữ thân mình trong sạch trước đêm TÂN HÔN. Sự trinh trắng của cô dâu là cơ sở cho việc sinh hoạt yên ổn ở nhà chồng và có hạnh phúc lâu dài. Thời xưa, vì quá nệ vào nền tảng luân lý đó, mà không hiểu được chữ trinh có năm ba bảy đường và sự ít biết về khoa học, màng trinh rộng hẹp, có thể thun giãn hay bị rách do tai nạn trước khi lấy chồng, hay do bẩm sinh không có màng trinh … mà đưa đẩy người con gái đến nỗi bất hạnh, tình duyên vỡ lỡ, đau khổ đến suốt đời.

TRỞ HÔN : Ngăn việc cưới gả, thường xảy ra trong các trường hợp sau:

* Việc cưới gả xưa do cha mẹ hai bên định đoạt, nếu cha mẹ hai bên không bằng lòng, hay chỉ một bên bằng lòng, việc hôn nhân không có giá trị, cha mẹ có thể ngăn cản việc cưới gả. Nếu cha mẹ mất, bậc tôn trưởng có thể thực hiện việc ngăn cản này.

* Bà VỢ CẢ có quyền ngăn cản việc hôn nhân nếu chồng muốn lấy VỢ LẼ.

* Chính quyền, tòa án có quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật, vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định. Luật Hôn nhân và Gia Đình của ta (năm 2000) quy định cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây có quyền đề nghị hủy việc kết hôn trái pháp luật: a/ Vợ, chồng, cha, mẹ, con của các bên kết hôn. b/ Ủy Ban Bảo vệ và Chăm sóc Bà mẹ và Trẻ em. c/ Hội Liên hiệp Phụ nữ (Điều 15, Chương II).

TRÚC MAI : Cây trúc và cây mai, bắt nguồn từ câu thanh mai trúc mã để chỉ mối quan hệ tình cảm, sự đẹp đôi, duyên nợ lứa đôi, tình vợ chồng bền chặt, khắng khít …

Cây mai đây không phải cây hoa mai màu vàng ở xứ ta (chủ yếu ở phía Nam) mà là cây hoa mai ở Trung Quốc, có hoa màu trắng, hồng hoặc đỏ và có mùi thơm. Cây có quả, quả nó có vị chua, quả sống thì màu xanh, chín thì màu vàng, có thể muối hay làm mứt để ăn, chính là ô mai, xí mụi mà tuổi trẻ (tuổi ô mai) của ta rất thích. Loại mai này có thể chịu rét lạnh, trong tuyết giá cũng có thể nở hoa được. Vì vậy, nó được xếp vào hàng tuế hàn tam hữu tùng, trúc, mai là ba người bạn có nhau trong mùa đông giá rét.

TUẦN TRĂNG MẬT : Thời gian đầu tiên sau khi cưới nhau, hai vợ chồng đi đến một nơi xa để tự do hưởng hạnh phúc bên nhau mà không bị ai khuấy phá, gây phiền nhiễu, một kỳ nghỉ ngơi đầy lãng mạn. (Xem PHÙ RỂ). Tục này xuất phát từ Tây Phương. Vào thời xa xưa, những người Đức cổ bắt đầu thực hiện tuần trăng mật. Đám cưới được tổ chức vào ngày trăng tròn (ngày rằm). Sau đám cưới, đôi vợ chồng uống rượu mật ong suốt một tuần trăng (30 ngày). Tuần trăng này trở thành TUẦN TRĂNG MẬT

TỤC HÔN : Lấy vợ hay lấy chồng lại, như TỤC HUYỀN.

TỤC HUYỀN : Nghĩa đen là nối dây đàn lại. Nghĩa bóng là người đàn ông vợ mất, lấy vợ khác, cũng gọi là TỤC HÔN, TỤC THÚ.

TỤC THÚ : (Xem TỤC HUYỀN

TUỔI KẾT HÔN : Ngày xưa, ta bị ảnh hưởng của Trung Quốc, nam mười sáu tuổi, nữ mười ba tuổi, nữ thập tam, nam thập lục, là lấy vợ, lấy chồng được: Em lấy anh từ thuở mười ba / Đến năm mười tám em đà năm con (Xem TẢO HÔN). Năm 1888, nhà nước bảo hộ Pháp ấn định con gái mười bốn tuổi, con trai mười sáu tuổi mới được lấy vợ lấy chồng. Tuy tuổi so với thời xưa không hơn gì, nhưng có luật cấm tục tảo hôn. Ngày nay, tuổi kết hôn do pháp luật quy định. Luật Hôn nhân và Gia đình của ta (năm 2000) quy định tuổi kết hôn là nam hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Nam nữ kết hôn trước tuổi do pháp luật quy định là kết hôn trái pháp luật (HÔN NHÂN TRÁI PHÁP LUẬT)

TỨ HỶ : (Xem LẠI MẶT)

TỪ HÔN : (Xem HỒI HÔN)

V

VẤN DANH : Còn gọi là Lễ SƠ VẤN, là lễ thứ hai của SÁU LỄ TRONG HÔN NHÂN, có nghĩa là hỏi tên tuổi. Lễ này nhà gái trao cho nhà trai một tờ giấy hoa tiên có ghi rõ tên tuổi, ngày tháng năm sinh (âm lịch) của cô gái để nhà gái căn cứ vào đó mà coi tuổi, định ngày giờ. Tờ giấy đó gọi là NIÊN CANH BÁT TỰ. Họ nhà trai nhờ thầy xem hai tuổi có hợp, có tốt không. Nếu hợp, các lễ sẽ được tổ chức tiếp theo cho đủ sáu lễ, nếu không, hai họ sẽ không là SUI GIA nhau. Có nơi lược bớt lễ này, sáp nhập vào lễ NẠP THÁI.

VỢ BÉ : (Xem VỢ LẼ)

VỢ BỮA : Người vợ lấy qua đường, không chắc ở đời với nhau.

VỢ CẢ : Còn gọi là VỢ CHÁNH, VỢ LỚN, người lấy làm vợ hay do cha mẹ cưới cho trước nhất. Luật xưa quy định đã có vợ cả rồi mà cưới vợ khác làm vợ cả nữa thì ông chồng bị tội phạt 90 trượng, người vợ lấy sau phải ly dị, trả về cho gia đình người đó. Vợ cả, nếu ông chồng cho làm VỢ LẼ thì ông chồng cũng bị tội, phạt 100 trượng. Tội này, luật triều Nguyễn gọi là Vợ cả vợ lẽ không đúng thứ tự.

VỢ CHÀ : Vợ của một người Ấn Độ.

VỢ CHÁNH : Như VỢ CẢ.

VỢ CHÁNH THỨC : Người vợ cưới có HÔN THÚ, hợp pháp.

VỢ CHỆC : (Xem VỢ KHÁCH)

VỢ CHƯA CƯỚI : Còn gọi là HÔN THÊ, cô gái đã được ăn LỄ HỎI, chưa cưới.

VỢ CŨ : Người vợ đã LY DỊ, còn sống.

VỢ ĐẦM : Vợ là người đàn bà Châu Âu

VỢ ĐÔI VỢ BA : Có nhiều vợ.

VỢ GÓA : Người vợ chồng đã chết mà chưa hay không lấy chồng khác.

VỢ GIỮA : Người vợ thuộc hàng giữa, sau bà VỢ CẢ, trước người VỢ SAU cuối cùng.

VỢ KẾ : Người vợ lấy sau khi người VỢ CHÁNH mất hay đã LY DỊ.

VỢ KHÁCH : Vợ là người Việt, có chồng là người nước khác, như có chồng người Trung Quốc, như VỢ CHỆC.

VỢ LẼ : Còn gọi là VỢ BÉ, VỢ NHỎ, VỢ THỨ, là người vợ lấy sau bà VỢ CẢ. Người chồng lấy VỢ LẼ trong các trường hợp sau:

* Người giàu có, có chức quyền, có năm thê bảy thiếp là thường, mỗi bà vợ có một cơ ngơi riêng.

* Không có con hay không có con trai nối dõi tông đường. Trường hợp này, có bà VỢ CẢ đứng ra tổ chức lễ cưới VỢ LẼ cho chồng. Cũng có trường hợp người chồng tự tổ chức cưới VỢ LẼ nhưng phải được sự bằng lòng của bà VỢ CẢ. Nếu bà VỢ CẢ không bằng lòng, hay ghen tuông, người đàn ông vẫn lấy, đó là người VỢ NGOÀI GIÁ THÚ, sống ở một nơi riêng.

Người chịu LÀM LẼ là người: - vì quá nghèo. – vì sa cơ thất thế. – vì tham giàu, tham danh giá. – vì tuổi còn trẻ mà đã GÓA chồng, chưa có con hay đã có con. Con nhà tử tế, ít ai đi LÀM LẼ.

Có trường hợp, người con trai đi làm ăn xa, tự ý lấy vợ chưa được cha mẹ chấp thuận. Ở quê, cha mẹ đã chọn người vợ cho con trai, bắt con trai về cưới. Người do cha mẹ chọn, dù cưới sau vẫn là VỢ CẢ, còn người vợ cưới trước cam phận LÀM LẼ. Nhưng luật nhà Nguyễn chấp nhận ở phương xa, người con trai đó đã làm lễ thành hôn với người nữ nào đó rồi, cho lấy người đó, còn người do cha mẹ chọn thì phải trả về gia đình người đó. Ai trái luật này phải bị phạt 80 trượng.

Về lễ cưới VỢ LẼ, nếu người chồng còn trẻ và gia đình bề thế trong làng, thường vẫn có một số lễ nghi, nhưng tổ chức giản dị, khách mời không nhiều. Người lớn tuổi lấy VỢ LẼ thường giảm hết lễ nghi, sơ sài, đàng trai chỉ đưa ít tiền bạc, lễ vật làm lễ gia tiên nhà gái và nộp CHEO cho làng mà thôi. Nếu lấy vợ ba, vợ tư thì ít khi, hay không có lễ nghi gì cả.

Người VỢ LẼ không có quyền, không có trách nhiệm nặng nề ở nhà chồng như bà VỢ CẢ, trừ trường hợp bà VỢ CẢ không đảm đương nỗi. Vì không có quyền gì, nên nếu gặp bà VỢ CẢ cay nghiệt thì bà VỢ LẼ như người ăn kẻ ở trong nhà, bị nhiều hành hạ, chịu nhiều cay đắng, nhưng cũng phải nén lòng chịu đựng. Con cái VỢ LẼ sinh ra phải xem VỢ CHÍNH là mẹ đích (đích mẫu) của mình, mẹ mình thì xem là mẹ thứ (thứ mẫu). Nếu mẹ mình chết trước mẹ đích thì không được để tang, khi mẹ đích chết mới để tang. Nhưng cũng có khi bà VỢ LẼ can cường, không chịu bà VỢ CẢ áp chế, thường cãi lại và nếu được chồng yêu thương, bênh vực, bà VỢ LẼ có thể tranh lấy quyền hành đảm đương việc nhà chồng từ tay bà VỢ CẢ.

Con chồng gọi bà VỢ LẼ là mẹ ghẻ, dì ghẻ. Quan hệ mẹ ghẻ con chồng nhiều khi không được tốt, mấy đời bánh đúc có xương, mấy đời dì ghẻ có thương con chồng, trong trường hợp bà VỢ LẼ nắm quyền trong nhà, người chồng bất lực trong việc quản lý gia đình. Nếu mẹ đẻ mất, cha mình sống với bà VỢ LẼ thì gọi bà là kế mẫu.

Luật xưa không cấm đoán tục ĐA THÊ, tức là người đàn ông được lấy nhiều vợ và tục này kéo dài trong chế độ xưa. Trong khi đó, người đàn bà chỉ có một chồng khi chồng còn sống và chỉ được đi bước nữa khi chồng chết hay chồng bỏ. Ngày nay, luật pháp quy định chỉ được một vợ một chồng. Người chồng muốn lấy vợ khác khi người VỢ TRƯỚC mất hay LY DỊ. Luật Hôn nhân và Gia đình của ta (năm 2000) có ghi rõ: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng (Điều 2, Chương I). Luật còn quy định: Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ (Điều 4, Chương I)

VỢ LỚN : (Xem VỢ CẢ)

VỢ MỌN : (Xem VỢ LẼ )

VỢ MỘT KÈO MỘT CỘT : Người vợ do cha mẹ đứng cưới khi mới lớn lên.

VỢ MỚI : Người vợ mới cưới sau khi người đàn ông đã LY DỊ người VỢ TRƯỚC, hay vợ trước đã chết, hay người đàn ông còn vợ.

VỢ NĂM VỢ THÁNG : Người vợ lấy chồng người nước ngoài, sống với nhau một thời gian một năm hay vài tháng, người chồng về nước của họ, bỏ vợ lại.

VỢ NGÀY VỢ BỮA : Người vợ lấy chơi qua đường rồi bỏ.

VỢ NGOÀI GIÁ THÚ : Còn gọi là VỢ THEO, người vợ không cưới gả, sống vụng trộm với người đàn ông đã có vợ, ở một nơi khác và gia đình không biết mối quan hệ này.

VỢ NHỎ : (Xem VỢ LẼ)

VỢ SAU : Người vợ mới lấy sau khi người đàn ông đã LY DỊ vợ, hay vợ đã chết.

VỢ TÂY : Vợ của một người Pháp.

VỢ THEO : Người vợ không cưới hỏi, chỉ yêu nhau rồi lấy nhau. Ca dao có câu: Khuyên anh chớ tiếc đầu heo, Người ta thường nói VỢ THEO không bền. Nghĩa là phải cần cưới hỏi thì mới bền tuy phải mất … đầu heo.

VỢ THỨ : (Xem VỢ LẼ)

VỢ TRƯỚC : Người vợ đã LY DỊ hay đã chết, hiện đang có vợ khác.

VỢ XẨM : Người vợ là người đàn bà Trung Quốc.

VU QUY : Con gái về nhà chồng bằng lễ THÂN NGHINH. Họ đàng trai tổ chức lễ RƯỚC DÂU để đón dâu về nhà mình Cô dâu mang tất cả những đồ mừng và những đồ DẪN CƯỚI trước đây, theo chồng và họ đàng trai về nhà chồng. Họ nhà gái có một số người ĐƯA DÂU.

Xưa, cô dâu bước vào nhà chồng phải bước qua một lò than hồng hay cầm cái chày giã vào cái cối (xem CÔ DÂU VỀ NHÀ CHÔNG)

VƯƠNG PHI : Tên gọi vợ của Thái Tử, con dâu vua (HOÀNG TỨC)

X

XE DUYÊN CỘT CHỈ : (Xem NGUYỆT LÃO)

XE HOA : Xe kết hoa dùng để đưa cô dâu về nhà chồng. Lên xe hoa ý nói đã lấy chồng.

XE TƠ : Xe hai sợi tơ cho xoắn lại để làm chỉ, nghĩa bóng là kết duyên vợ chồng, như KẾT TÓC.

XEM MẶT : (Xem COI MẮT VỢ)

XÍCH THẰNG : Sợi dây đỏ, tức là CHỈ HỒNG, dùng để chỉ tình duyên vợ chồng. Do hai tích:

1/ Đời Đường (Trung Quốc) có Quách Nguyên Chấn hỏi vợ, con gái của Trương Gia Chính. Ông này có năm người con gái, cho mỗi cô cầm một sợi tơ có màu sắc khác nhau, ngồi sau tấm màn, rồi bảo Nguyên Chấn chọn rút sợi nào thì lấy người đó. Chàng rút sợi màu đỏ và lấy cô thứ ba là cô gái đẹp nhất nhà.

2/ Truyên Vi Cố gặp Nguyệt Lão (Xem NGUYỆT LÃO).

XIN DÂU : (Xem THÂN NGHINH)

XUẤT GIÁ : Người con gái lấy chồng, sau lễ cưới về nhà chồng. Luân lý Nho giáo đã dạy người đàn bà phải tuân theo: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con), đó là Tam tòng trong Nho giáo.

NVB

Hết phần “TỪ NGỮ VỀ VIỆC CƯỚI”

 Đón đọc “TỪ NGỮ VỀ VIỆC TANG”

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net