QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THIỀN SƯ TẾ HIỂN, CHÙA THIÊN BỬU THƯỢNG VÀ NGÔI CỔ THÁP BỬU DƯƠNG

Cổ tháp Bửu Dương tại thôn Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng

(Trích bản thảo sách "Văn hóa dân gian xã Ninh Phụng" của nhóm tác giả Võ Triều Dương & Nguyễn Man Nhiên - Công trình do Hội VNDG Việt Nam tài trợ sáng tạo năm 2007)

CHÙA THIÊN BỬU THƯỢNG

Chùa Thiên Bửu Thượng tọa lạc tại thôn Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Chùa do Hòa thượng Tế Hiển - Bửu Dương khai sơn vào khoảng triều Lê Dụ Tông (1706-1729), là một trong những ngôi cổ tự có tuổi thọ cao nhất và danh tiếng nhất tỉnh Khánh Hoà. Sở dĩ gọi chùa Thiên Bửu Thượng là để phân biệt với chùa Thiên Bửu Hạ ở dưới thị trấn Ninh Hoà, cũng do Thiền sư Tế Hiển khai sơn sau chùa Thiên Bửu Thượng vài năm.

Chùa nằm trên khu đất rộng chừng 2 hecta, trải dài từ bờ sông Lốt đến đường liên xã. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ "Môn" gồm Chánh điện, Đông lang, Tây lang. Chánh điện có 3 gian, bài trí tôn nghiêm. Gian giữa ngôi chánh điện đặt pho tượng Phật Thích Ca ngồi cao lớn sơn son thếp vàng, cùng nhiều tượng Phật khác như Phật A Di Đà, Phật Di Lặc... Gian bên trái thờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát, gian bên phải thờ Ông, tức Quan Công. Nhà Tây thờ vị sơ Tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma, cùng bài vị của Tổ khai sơn và các vị trụ trì.

Trước tiền đường có chạm hai câu đối của Hoà thượng Phước Tường:

Thiên đạo hoằng khai, thiên cá tu hành thiên cá đắc

Bảo vân quảng nhuận thất trùng lan thuẩn thất trùng tu.

Tạm dịch:

Chánh pháp mở ra, ngàn kẻ tu hành ngàn kẻ được

Mây lành toả khắp, bảy hàng cây báu bảy hàng tu.

Hai trụ trước sân có đắp hai câu đối của ông Tòng cửu phẩm đội ngũ Phạm Xuân Đài:

Điềm lãng phất khai kim thế giới

Tịnh trần lộ xuất ngọc lâu đài.

Tạm dịch:

Sóng lặng mở toang kìa cực lạc

Bụi trong ra khỏi cảnh ta bà.

Trước cổng tam quan có hai câu đối:

Thiên nhân cung kính Thế Tôn,

Bảo địa trang nghiêm Phật tổ.

Nghĩa là:

Trời người cung kính Thế Tôn

Đất quí trang nghiêm cõi Phật.

Trước sân chùa là cây me đại thụ cao sừng sững, gốc xù xì to khoảng bốn người ôm không xuể, tuổi thọ dễ chừng đến ba bốn trăm năm. Cây me có nhiều bọng rỗng trên các nhánh nên trong thời Việt Minh chống Pháp người ta thường dùng các bọng cây này làm hộp thư bí mật. Năm 1946 dưới gốc me còn lập một lò rèn để đúc kiếm Lê Trung Đình. Qua cổng tam quan, bên lối gạch vào chùa là hai cây sứ được trồng từ thời Tổ Phước Tường về trụ trì cách nay cũng đã gần 100 năm.

Thời chiến tranh giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, quả đại hồng chung của chùa bị sung công để đúc vũ khí. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, vì chùa là nơi đặt lò rèn để rèn đúc kiếm phân phối cho vệ quốc quân nên bị giặc đốt cháy hai lần. Bao nhiêu di vật từ khí bị cháy sạch, chứng tích hiện còn là 2 cái bàn thờ Phật cao 1,5m, tiện hình chân nai đầu rồng bị cháy xém.

Hiện chùa còn lưu giữ một quả đại hồng chung và một cái trống bát nhã được Hoà thượng Phước Tường tạo dựng năm 1932.

Chùa đã dược truyền thừa qua các đời trụ trì: 1. Tế Hiển; 2. Đại Trì; 3. Liễu Bửu; 4. Đạo Phước; 5. Thanh Chánh (1922-1932); 6. Trường Tương (1932-1941); 7. Tâm Kính (1941-1947); 8. Trừng Lãnh (1947-1952); 9. Thị Hiệp (1954-1957); 10. Tâm Kỳ (1957-1961); 11. Tâm Hòa (1961-1964); 12. Tâm Văn (1965-1968); 13. Tâm Bảo (1970-1981); 14. Nguyên Hoa (từ 1981 đến nay).

Hằng trăm năm trước, Thiên Bửu Thượng là một trong những ngôi chùa ở Ninh Hoà dạy chữ Nho từ thiện cho người bình dân, do các vị sư đảm nhiệm. Người học là lớp tráng đinh nghèo, ban ngày không đủ điều kiện đến nhà thầy đồ nên ban đêm phải đến chùa học chữ. Các nhà sư vừa dạy nét chữ viết trên lá chuối, vừa sáng tác ra câu vần chữ Nho để học trò dễ nhớ. Trải qua thời gian, lớp Phật tử lão thành có học chữ Nho tại chùa vào những thập niên trước vẫn còn truyền khẩu nhiều bài đố chữ Nho theo lối kệ Phật.

Căn cứ vào một số hiện vật cổ còn lưu giữ được tại địa phương như bài vị của Tổ khai sơn và các Tổ kế thừa hiện thờ tại chùa Thiên Bửu Thượng; ngôi cổ tháp Bửu Dương; quả đại hồng chung đúc vào thời chúa Nguyễn khắc tên chùa Thiên Bửu và tên làng Điềm Tịnh còn lưu tại chùa làng Nhĩ Sự xã Ninh Thân; bức Giới Đao Độ Điệp của vị trụ trì đời thứ ba là Đại đức Huệ Thân còn lưu tại chùa Thiên Bửu Hạ ở thị trấn Ninh Hòa, đồng thời tham khảo, đối chiếu với sử liệu, chúng ta có thể biết được đôi nét khái quát về lịch sử thành lập chùa.

Năm 1653, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần thu phục vùng đất của Chiêm Thành từ Đèo Cả đến sông Phan Rang, đặt dinh Thái Khang tức Khánh Hòa ngày nay, gồm 2 phủ Thái Khang và Diên Ninh, cử cai cơ Hùng Lộc làm trấn thủ và đưa dân vào khai hoang lập làng theo chính sách di dân. Chính sách này đã có từ thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi thu phục đất Phú Yên năm 1611 và được thực hiện liên tục, bền bỉ qua 8 đời Chúa, đến năm 1759 thời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát thì hoàn tất cuộc Nam Tiến, mở đất, di dân và đặt nền cai trị lên cả một dải đất mới bao la, trù phú chạy dài từ đèo Cù Mông tới mũi Cà Mau.

Dưới thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Phật giáo rất hưng thịnh, chùa chiền mọc lên như nấm. Ngay các Chúa cũng rất sùng đạo (như Chúa Tiên, Chúa Sãi, đặc biệt Chúa Nguyễn Phúc Chu đã quy y, thọ Bồ Tát giới tại gia với thiền sư Thạch Liêm, có pháp danh Hưng Long, đạo hiệu Thiên Túng Đạo Nhân).

Theo chính sách di dân, những người nghèo khổ không có ruộng đất được chia thành toán, mỗi toán 50 người, được cấp lương thực, dụng cụ đến định cư khai khẩn lập làng ấp tại các vùng đất mới. Ruộng đất khẩn được họ được quyền canh tác làm ăn miễn thuế trong 3 năm đầu. Tuy nhiên cuộc sống người lưu dân trong thời gian đầu rất thiếu thốn gian khổ, một phần vì nỗi buồn nhớ quê hương da diết, phần khác là nỗi lo âu thường trực phải đối diện hằng ngày với thú dữ, thiên tai, dịch bệnh nơi vùng đất lạ, nên họ rất cần sự giúp đỡ, an ủi, bảo vệ, nhất là về mặt tinh thần. Đó là lý do và cũng là động lực thúc đẩy các vị Thiền tăng nhanh chóng lên đường dấn thân vào các vùng đất mới theo chính sách của Chúa Nguyễn để kịp thời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của lưu dân.

Trong bối cảnh đó, cùng với dòng người di dân vào Nam khai phá, Thiền sư Tế Hiển - Bửu Dương rời Thuận Hóa lên đường vào đất Thái Khang (Ninh Hòa), lập ra một ngôi chùa bên bờ hữu ngạn sông Lốt đặt tên là Thiên Bửu Tự, dân gian quen gọi là chùa Thiên Bửu Thượng. Sau đó, ngài lại lập tiếp bên bờ hữu ngạn sông Dinh (bây giờ là thị trấn Ninh Hòa) một ngôi chùa thứ hai cũng lấy cùng tên, dân gian quen gọi là chùa Thiên Bửu Hạ. Hai ngôi chùa như hai anh em, có cùng tên và cùng một Tổ khai sơn, có niên đại cách nay trên dưới 300 năm, thuộc vào hàng những ngôi chùa cổ nhất tại địa phương và cả khu vực Nam Trung bộ.

Thiền sư Tế Hiển - Bửu Dương là truyền thừa Lâm Tế Tông đời thứ 36 thuộc dòng kệ Thiên Đồng, do Hoà thượng Siêu Bạch - Nguyên Thiều từ Trung Hoa truyền qua xứ Đàng Trong dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687). Lâu nay có nhiều người cho rằng Hoà thượng Tế Hiển - Bửu Dương vốn là đệ tử của Hoà thượng Thiệt Diệu - Liễu Quán, vị sơ tổ dòng kệ Thiền Tông tại Huế. Theo sự nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù giữa hai dòng kệ Thiên Đồng và Thiền Tông cùng có chữ Tế ngang đời thứ 36 (Hành Siêu Minh Thiệt Tế - Thiên Đồng và Thiệt Tế Đại Đạo - Thiền Tông), nhưng Hoà thượng Thiệt Diệu - Liễu Quán ban pháp hiệu cho nam đệ tử xuất gia bằng chữ Từ, cụ thể như đại đệ tử của ngài là Hoà thượng Tế Căn - Từ Chiếu, còn vị bổn sư của Hoà thượng Bửu Dương ban pháp hiệu cho nam đệ tử xuất gia bằng chữ Bửu như Bửu Dương, Bửu Chấn… Đây là nguyên tắc thống nhất bất dịch trong hệ thống truyền thừa Phật giáo Việt Nam từ thế kỉ XVII về sau ở đất Đàng Trong, vì thế theo chúng tôi, Hoà thượng Tế Hiển - Bửu Dương không thể là đệ tử của Hoà thượng Thiệt Diệu - Liễu Quán thuộc dòng kệ Thiền Tông ngoài Huế được!

Một điểm khác về tuổi tác của Ngài cũng cần được làm rõ. Tất cả bài vị của Tổ Bửu Dương hiện thờ tại các chùa ở Ninh Hòa đều cùng ghi: “Đại Lão Hòa Thượng Tế Hiển, hiệu Bửu Dương”, từ đó có thể đoán định lúc sinh thời Ngài có tuổi thọ rất cao, tối thiểu cũng phải 80. Căn cứ theo chứng từ trên mặt quả đại hồng chung cổ tại chùa Thanh Lương thôn Nhĩ Sự xã Ninh Thân, được vớt lên dưới đáy Bầu Bơi trong thập niên 20 của thế kỉ XX, thì vào năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763), Hoà thượng Tế Hiển - Bửu Dương vẫn còn sống, đã chứng minh đúc đại hồng chung này. Thêm vào đó chứng tích tại ngôi cổ tháp Bửu Dương cho biết, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát có ngự đề một bài tán phúng điếu Hoà thượng Bửu Dương, có lẽ trước một năm Chúa băng hà (1765). Thế nhưng trước đây có người dân địa phương cúng một tấm bia đá hiện đặt trước tháp, tạc bằng Hán văn ghi Hoà thượng Tế Hiển - Bửu Dương viên tịch năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), như vậy là không đúng sự thật! Thiết tưởng sự nhầm lẫn này cần phải được đính chính để tránh ngộ nhận về sau.

CỔ THÁP BỬU DƯƠNG

Cách chùa Thiên Bửu Thượng hơn 100 mét, bên kia đường, là nơi an nghỉ của Tổ khai sơn và các vị trụ trì, gồm 6 ngôi bảo tháp rêu phong cổ kính, trong đó có tháp Bửu Dương hình bát giác, cao 7 tầng, 56 mặt trên 7 tầng tháp là 56 bức chạm có giá trị cao về mỹ thuật.

Theo chúng tôi, tòa bảo tháp Bửu Dương tại xã Ninh Phụng là một di tích đáng được xếp hạng về mặt lịch sử và giá trị nghệ thuật. Đây là một ngôi cổ tháp tiềm ẩn dấu tích lạ, độc nhất vô nhị trong hệ thống mộ tháp Phật giáo Việt Nam thời phong kiến.

Tháp Bửu Dương có niên đại khoảng 250 năm, được xây dựng có lẽ từ trước khi Hoà thượng Tế Hiển - Bửu Dương viên tịch, cấu trúc hình chữ kim bát giác đứng trên bệ đế tám cạnh. Tháp cao 5,5m, trên đỉnh có mô hình hoa sen đỡ bầu rượu, vật liệu xây dựng toàn bằng vôi, tất cả có 7 tầng vị chi 56 mặt và 56 góc. Chung quanh tháp bao bọc bờ thành cao 1m rộng 6 tấc, bốn góc thành xây đắp 4 hoa sen. Tầng trên cùng, ba mặt trước trang trí hình lưỡng long tranh châu, các mặt chung quanh còn lại đắp hình những linh vật kỳ lân phụng hoàng. Kế dưới là tầng có 40 mặt chạm trổ chữ bùa, hình mai lan cúc trúc… Tầng dưới cùng phía trước đặt tấm bia, 7 mặt còn lại khắc các bài kệ bài tán bằng thể ngũ ngôn hay bát cú. Đặc biệt ở mặt hướng tây tầng dưới cuối bài tán có một dòng chữ đã mờ ghi: “Từ Tế Đạo Nhân Kính Đề”. 56 góc của tháp gắn 56 đầu rồng to bằng nắm tay, đến nay các hình rồng được chạm khắc trên mặt tháp và hai trụ vôi thì còn, riêng những đầu rồng gắn đắp chung quanh ngôi tháp bị đạn bom làm rụng gãy gần hết, chỉ còn lại vài cái như để làm chứng tích cho một thời binh lửa. Ngoài cùng là hai con kỳ lân nằm chầu trên hai trụ vôi. Trên hai trụ này có hai câu đối đã bị bể nát nhiều chỗ chỉ còn đọc được một số chữ như sau:

Xu … viên văn pháp văn kinh

Lại thứu lĩnh … linh …

Dựa theo thể từ cú biền ngẫu, chúng tôi thử đoán các chữ thiếu và câu đối sẽ là:

Xu kỳ viên văn pháp văn kinh

Lại thứu lĩnh kiến linh kiến tánh.

Tạm dịch:

Đến vườn Kỳ nghe pháp nghe kinh

Lại non Thứu thấy linh thấy tánh.

Trong thời Hậu Lê có nhiều vị danh tăng ở xứ Đàng Trong được chúa Nguyễn sùng kính tôn làm bậc thầy, khi viên tịch được triều đình ban thụy hiệu xưng tán như Hoà thượng Siêu Bạch - Nguyên Thiều, Hoà thượng Thiệt Diệu - Liễu Quán, hoặc có công lao dẹp yên giặc giã tên ghi vào quốc sử, được vua Minh Mạng kính vì như Hoà thượng Kim Pháp - Minh Giác… Tuy nhiên mộ tháp của các vị này cũng chỉ được xây dựng một cách đơn giản, bình thường. Riêng cổ tháp Bửu Dương xây đắp theo nghi tượng vương giả ngoại lệ, sử dụng rất nhiều hình rồng trang trí chung quanh ngôi tháp và hoa văn họa tiết rất công phu. Đây phải là công trình của giới nghệ nhân có tay nghề cao, chuyên xây đắp lăng tẩm ở đất Thuận Hoá vào thiết kế. Hơn nữa, với quy mô kiến trúc như vậy thì việc xây dựng tòa tháp rất tốn kém, nhà chùa không thể chỉ nhờ vào sự quyên góp của Phật tử quanh vùng. Vì vào thời điểm này dân cư còn thưa thớt, sống theo từng xóm nhỏ, các làng xã cách nhau khá xa, đời sống còn rất khó khăn, thiếu thốn và tất cả đâu phải đều theo đạo Phật.

Vì vậy chúng tôi cho rằng kinh phí xây dựng tòa tháp Bửu Dương phải do chính quyền chúa Nguyễn Đàng Trong chuẩn chiếu tài trợ. Như vậy phải có sự liên hệ nào đó giữa Thiền sư Tế Hiển với vương triều Nam Hà để dược nhà Chúa và hoàng gia cúng dường ủng hộ, nhờ đó mới xây dựng ngôi tháp đặc biệt nhất trong hệ thống mộ tháp Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay.

Về các hình rồng trên tháp, chúng tôi thấy có điểm đáng lưu ý: Rồng là biểu tượng linh vật chỉ dành riêng cho hàng vua chúa thân vương, thường dân không một ai được phép tiếm dụng, nếu vi phạm sẽ bị ghép vào tội bội nghịch chịu án hình. Qui chế này cả Trung Quốc và Việt Nam thời phong kiến đều áp dụng.

Mặt khác, cuối một bài tán được khắc trên tháp có dòng chữ “Từ Tế Đạo Nhân Kính Đề” nguyên là đạo hiệu của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765). Phải chăng vì thuộc dòng dõi hoàng gia nên khi Hoà thượng Tế Hiển - Bửu Dương viên tịch, Võ vương đã ngự đề một bài tán từ kinh đô Huế gởi vô phúng điếu.

Từ những cứ liệu trên, chúng tôi tin rằng Hoà thượng Tế Hiển - Bửu Dương là một người thuộc dòng họ Nguyễn Phước, con của chúa Nguyễn, xuất gia đi tu. Trên bước đường hành đạo, Ngài đã vào xã Xuân An (sau đổi ra Điềm An) thuộc tổng Trung huyện Tân Định, tức làng Điềm Tịnh huyện Ninh Hoà tỉnh Khánh Hòa ngày nay, khai sơn chùa Thiên Bửu, đó là lý do chính mà chúa Nguyễn tài trợ kinh phí xây tháp.

Hiện nay ngôi cổ tháp Bửu Dương đã xuống cấp quá nặng, không biết sụp đổ lúc nào, còn địa phương thì không đủ kinh phí để trùng tu phục chế!

Võ Triều Dương & Nguyễn Man Nhiên

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net