QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 8)

IV- SỰ XUNG ĐỘT CỦA BỔN PHẬN:

                    1/ Xung đột bổn phận là gì?

Foulquié, triết gia Pháp đã định nghĩa: "Xung đột bổn phận xảy ra khi có hai hay nhiều bổn phận trái ngược nhau hoặc không thể thi hành cả hai". Ví dụ: Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Thúy Kiều trước cái họa do "thằng bán tơ kia dở dói ra" (Nguyễn Khuyến) một bên phải tìm cách chuộc tội oan cho cha để khỏi bị hành hạ trong tù ngục, một bên phải giữ trọn tình cảm chung thủy với chàng Kim buộc nàng phải lựa chọn hành động. Đó là một lọc chọn có sự xung đột của bổn phận.

               Trong những trường hợp có sự xung đột của bổn phận, tình cảm và lý trí con người có khi đưa ra những mệnh lệnh trái ngược nhau đòi hỏi đầu óc con người phải tỉnh táo, sáng suốt, lương tâm đạo đức phải được sử dụng để nhìn nhận sự việc cho thật rõ ràng không lẫn lộn. Thí dụ: Bổn phận người cha là phải lo lắng nuôi dạy con cái ăn học đàng hoàng. Vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó, túng thiếu người cha khi làm việc đã nghĩ đến chuyện tham ô của cải, tìm đủ cách để có được tiền bạc ngoài lương bổng của mình với một suy nghĩ là để có tiền nuôi con cái ăn học. Trong hoàn cảnh như thế, con người được giáo dục căn bản về đạo đức, được sự tiếp sức của truyền thống gia đình tốt đẹp sẽ có sự lựa chọn tương hợp. Một bên là bổn phận dạy dỗ nuôi con nên người đàng hoàng, một bên bản thân làm những việc không chính đáng. Và đó là sự xung đột của bổn phận về các giá trị đạo đức.

Mặt khác, qui luật đạo đức trước các xung đột cách thức bổn phận làm cho chúng ta bối rối đặt ra những nguyên tắc và cách thức để giải quyết.

                    2/ Việc giải quyết sự xung đột của bổn phận:

            Đứng trước các xung đột bổn phận, khó có thể có được các cách thức giải quyết thích ứng cho từng trường hợp riêng lẻ. Lương tri con người, một cách thông thường, đề ra một nguyên tắc đơn giản dễ thực hiện là lựa chọn bổn phận quan trọng theo đẳng cấp các giá trị:

                             a/ Xung đột về chân lý, về sự thực:

           Một số bí mật nghề nghiệp mâu thuẫn với bổn phận đạo đức khi phải nói lên sự thật. Một luật sư nhiều khi phải nói không đúng sự thật để bênh vực thân chủ miễn sao lý luận vững vàng thuyết phục được quan tòa. Một bác sĩ biết rõ bệnh nhân sắp qua đời phải che dấu sự thật bằng cách an ủi động viên bệnh nhân để họ không thất vọng dẫn đến cái chết mau hơn. Việc nói dối của vị bác sĩ ấy không phạm vào điều xấu, điều ác mà tùy vào hoàn cảnh xử lý. Cái xấu, cái ác chỉ xuất hiện khi giữa việc lựa chọn tận tình cứu chữa cho bệnh nhân đang gặp diễn biến bệnh tình nguy hiểm và vội vàng chẩn đoán qua loa để vội về phòng khám ngoài giờ lo việc kiếm tiền. Một người bác sĩ có đạo đức sẽ lựa chọn xung đột bổn phận như trong trường hợp này theo tiếng gọi của lương tâm là chữa trị hết lòng vì người bệnh bằng lòng nhân ái và trách nhiệm cao cả của mình.

Như thế, bổn phận nào cấp thiết hơn và có giá trị đạo đức sẽ là lựa chọn đúng đắn nhất trong trường hợp có xung đột bổn phận.

                          b/ Xung đột về sự hợp pháp và hợp đạo đức:

       Qui luật đạo đức buộc phải công bằng. Nhưng có khi sự công bằng không được hợp pháp và sự hợp pháp chưa chắc là sự công bằng. Thí dụ: khi cấp đất cho một số người để làm nhà thì ngược lại có nhiều người hoặc phải mất đất hoặc nhiều người cần có đất làm nhà nhưng chưa được cấp đất; Để có được nước Mỹ rộng lớn như ngày nay những người khai phá tiên phong đã giành dật nhiều đất đai của người da đỏ ở Châu Mỹ từ hàng ngàn năm rồi.

           Người chiến sĩ ra trận để chống giặc xâm lược buộc phải tiêu diệt kẻ địch. Đó là việc làm xung đột với tình yêu con người. Vấn đề đặt ra là phải lựa chọn giá trị cao hơn là sự tồn tại của Tổ quốc, sự toàn vẹn của đất nước. Cứu cánh sẽ biện minh cho hành động miễn sao cứu cánh ấy tốt đẹp thật sự hoặc có giá trị đạo đức thật sự tức là lương tri của con người. Thời nhà Trần trong ba lần chống quân Nguyên Mông đã bắt được rất nhiều tù binh. Nhưng khi đánh tan được giặc xâm lược, các vua nhà Trần với tinh thần hòa bình và lòng khoan dung đã tha cho quân giặc được phép trở về phương bắc. Thời Lê Lợi cũng thế, tinh thần yêu chuộng hòa bình ấy được nối tiếp trong việc đối xử với kẻ địch. Xung đột bổn phận giữa việc phải đánh kẻ xâm lược và tha thứ cho tù binh giặc cũng là một vấn đề đạo đức đòi hỏi cách giải quyết thỏa đáng và khôn ngoan.

           Tóm lại việc đề ra các qui tắc giải quyết xung đột về bổn phận nên đặt ra qui tắc lựa chọn bổn phận quan trọng và cần thiết trước. Đồng thời bổn phận cá nhân thường ở phạm vi nhỏ cần đặt sau những bổn phận lớn hơn, có giá trị đạo đức cao hơn.

Chương sáu

QUYỀN VÀ QUYỀN LỢI

          Khái niệm bổn phận và khái niệm về quyền và quyền lợi gắn bó chặt chẽ với nhau. Nếu tôi có bổn phận phải yêu nòi giống, yêu dân tộc, yêu đất nước thì tôi cũng có  những quyền và quyền lợi khi sống trên mảnh đất mà cha ông đã gìn giữ và để lại. Nếu một thầy giáo có bổn phận dạy tốt, giáo dục học sinh một cách tận tụy hết lòng thì cái quyền của người thầy khi đứng lớp là soạn, giảng bài theo những phương pháp sư phạm mới được công nhận và đánh giá học sinh qua kết quả học tập v.v... Do đó, trong các mối tương quan trong cuộc sống, hai khái niệm trên không thể tách rời nhau. Từ đó, ta có thể định nghĩa:

I- ĐỊNH NGHĨA:

- Theo Leibniz (nhà toán học và triết gia Đức 1646-1716) quyền là một khả năng tinh thần để làm chủ hay đòi hỏi một cái gì đó. Quyền cha mẹ là quyền đòi hỏi con cái phải vâng theo sự dạy dỗ, nuôi nấng trong hoàn cảnh sinh sống của mình. Quyền của học sinh đòi hỏi được học tập với những thầy cô giáo đầy đủ khả năng có đạo đức nghề nghiệp và một nền giáo dục tiến bộ. Quyền của người dân khi hoàn thành nhiệm vụ nạp thuế đòi hỏi tiền thuế phải được sử dụng đúng chỗ và không được hoang phí, dùng sai mục đích trong các việc công ích v.v...

Do đó, quyền là một khả năng tinh thần như quyền làm người, quyền tự do tư tưởng, quyền tự do cư trú, quyền tự do tín ngưỡng v.v...

II- PHÂN LOẠI QUYỀN:

có thể phân biệt hai loại quyền sau đây:

                   1/ Quyền tự nhiên:

Quyền tự nhiên xuất phát từ bản tính tự nhiên của con người chứ không do những qui định của luật lệ xã hội. Chẳng hạn như quyền tự do sinh sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do tư tưởng v.v... là những quyền không thể nhượng lại cho người khác, không thể xâm phạm vì nó thuộc lãnh vực tinh thần. Bản Tuyên Ngôn nhân quyền của cách mạng Pháp năm 1789 và Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc (1948) đã đề cập rất rõ về các quyền thiêng liêng này.

                      2/ Quyền nhân định:

          Đây là loại quyền hành do cộng đồng, xã hội qui định nằm trong các luật lệ, các quyết định của cộng đồng hay của nhà nước lập pháp hoặc là những luật lệ có từ lâu đời được mọi người công nhận. Quyền ở đây thường gắn liền với luật pháp được ấn định trong khuôn khổ hiến pháp của một nước thông qua các nghị định, sắc lệnh, đao luật v.v... Đó là những quyền mà mỗi cá nhân, mỗi công dân được hưởng như quyền bầu cử, ứng cử, tự do cư trú, quyền làm việc theo luật lao động... Những loại quyền này không tuyệt đối và có thể thay đổi theo hoàn cảnh lịch sử, xã hội, thời đại v.v...

Thí dụ: mỗi người công dân có quyền lao động quyền làm việc, nhưng đến tuổi nghỉ luôn do tuổi già, sức khỏe giảm sút phải ngưng quyền làm việc theo luật định.

            Cũng có khi người ta phải chia quyền theo hai cách gọi khác là quyền cá nhân và quyền của cộng đồng, xã hội. Hai khái niệm cá nhân và cộng đồng xã hội sẽ giúp ta minh định rõ hơn về quyền và tác động qua lại giữa hai khái niệm ấy. Thí dụ: mỗi người dân đều có quyền tư hữu nhưng nếu sở hữu của cá nhân ấy ảnh hưởng lợi ích của đất nước sẽ bị nhà nước thay mặt cộng đồng quốc hữu hóa, hoặc trưng dụng như cần đất đai để mở rộng đồng xá, mở nhà máy v.v...

III- NỀN TẢNG CỦA QUYỀN:

Khi nói rằng con người có quyền này, quyền kia hoặc xã hội có quyền trên cá nhân v.v... Vậy đâu là nền tảng để xây dựng quyền?

                           1/ Phái chủ nghiệm:

- Machiavel (nhà lịch sử và chính trị Ý 1469-1527), Hobbes (triết gia Anh 1588-1679), Nietzche (triết gia Đức 1844-1900) cho rằng quyền xuất phát từ sức mạnh. Với Machiavel, sức mạnh tạo nên quyền; luật lệ là do kẻ mạnh đặt ra và cứu cánh biện minh cho phương tiện. Còn theo Hobbes quyền là khả năng thỏa mãn, các nhu cầu nếu có đủ khả năng để thỏa mãn chúng. Với Nietzche, quyền là sức mạnh của "siêu nhân" vượt lên khỏi quần chúng, hủy bỏ những quyền đặt ra bởi kẻ yếu để lợi dụng kẻ mạnh.

Nhận xét về thuyết chủ nghiệm dựa trên sức mạnh này ta thấy phần nào quyền được sản sinh từ sức mạnh. Pháp luật, cảnh sát, quân đội v.v... là sức mạnh để nhà nước được tôn trọng miễn sao sức mạnh ấy phải phù hợp với các nguyên tắc đạo đức là nhà nước cùng tồn tại với quần chúng. Quần chúng phải được tôn trọng khi làm đúng pháp luật và nhà nước cũng được quần chúng tôn trọng khi sử dụng sức mạnh có yếu tố nhân bản, vì hạnh phúc, vì cuộc sống của con người. Thí dụ: đứa trẻ, người tàn tật không có sức mạnh, bệnh hoạn cũng phải có quyền được sống và đối xử công bằng. Sức mạnh không dựa trên lòng nhân ái, không dựa trên tình người đức là phủ nhận quyền làm người đi ngược lại các qui luật đạo đức.

                  2/ Phái chủ trương quyền là lợi ích của cộng đồng:

- Stuart Mill (triết gia Anh 1806-1873) cho rằng quyền là do xã hội bảo đảm cho ta làm chủ và bảo đảm nó vì lợi ích của toàn thể xã hội.

- Jhering (luật gia Đức 1818-1892) lại cho rằng luật pháp do các cá nhân lãnh đạo sáng suốt, có ý thức cao về lợi ích cộng đồng đặt ra. Với ông sự ích kỷ là động cơ khởi đầu cho mọi hành vi, và quyền thể hiện qua luật pháp nhằm chế ngự, kềm hãm tính ích kỷ ấy để phục vụ lợi ích của cộng đồng, xã hội.

Nhận xét về chủ thuyết này chúng ta thấy nhiều khi các nhà nước độc tài (như Đức Quốc Xã của Hitler (1889-1945)) nhân danh sức mạnh, bảo vệ nòi giống, bắt cá nhân phải tuân phục nhà nước bằng võ lực cũng như chà đạp lên quyền được sinh sống của những người khác trong cộng đồng (diệt dân Do Thái...). Cho nên sức mạnh của cộng đồng nếu thiếu tính chất nhân bản, thiếu sự tôn trọng của con người sống trong cộng đồng sẽ tạo nên mâu thuẫn, làm đảo lộn mọi giá trị đạo đức. Những ông vua thời nhà Trần của nước ta nhờ thấm nhuần tinh thần đạo Phật đã "thương dân như con", dùng chính sách giáo dân, dưỡng dân để cai trị. Đó là một trong những thời đại rạng rỡ và tốt đẹp nhất của dân tộc ta.

                      3/ Phái chủ trương quyền là sản phẩm của xã hội:

       Khởi đầu quyền bắt nguồn từ các qui định của cộng đồng với các phong tục, lễ nghi tôn giáo. Về sau các phong tục được chuyển thành luật lệ, các định chế xã hội. Do đó quyền là của cộng đồng dần dần được cá nhân hóa. Cá nhân khi sống đời sống cộng đồng có sự va chạm hay sự ức hiếp phải nhờ đến cộng đồng xã hội để phân giải bằng các qui định rồi tiến dần đến luật pháp.

Durkheim, Stuart Mill, Jhering là những triết gia xem xã hội với các định chế của nó là nguồn gốc để các giá trị đạo đức cá nhân được tôn trọng và ngược lại các cá nhân cũng phải tôn trọng những luật tắc của xã hội mà càng về sau càng đổi mới và dân chủ hơn.

Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy xã hội định ra luật tắc, xác định các giá trị và thực thi quyền của cá nhân chứ không là nguồn gốc của chúng. Nói khác hơn, xã hội xác lập quyền chứ không tạo ra quyền.

                             4/ Phái chủ trương duy lý:

         Phái duy lý xem quyền là thực tính của con người có lý trí và biết phân biệt lẽ phải để hình thành nhân phẩm đạo đức. Nó sinh ra các loại quyền nhân định trong xã hội.

- Grotius (luật gia Hòa Lan 1583-1645) định nghĩa: "Quyền tự nhiên là một quyền được suy diễn từ lẽ phải, theo đó chúng ta phán xét một hành vi là tốt hay xấu tùy điều ấy phù hợp hay không bản chất chuộng lẽ phải của con người".

- Với Rousseau (nhà tư tưởng Pháp 1712-1778) cho rằng người ta sinh ra đã có quyền và khi sống với xã hội, người ta phải từ bỏ quyền ấy đi và làm một khế ước với xã hội (xem Coutrat social) để hòa hợp giữa quyền cá nhân và quyền xã hội vì nó hợp lẽ phải.

- Với Kant (triết gia Đức 1724-1804) con người vừa có quyền lợi vừa có bổn phận. Kant mạnh mẽ lên án tư lợi và hạnh phúc bản thân và tin tưởng vào một tập thể thiêng liêng gồm những con người sống theo lý trí và sử dụng khả năng tự do của mình để sống dưới sự chi phối của những qui luật đạo đức. Nói khác hơn Kant đã quan niệm quyền thể hiện qua luật pháp để cho ý chí của mỗi cá nhân trong xã hội, hòa hợp với nhau dưới một định luật chung về tự do.

             Quan niệm đề cao về những quyền tự nhiên và có tính cách thiêng liêng là nền tảng của "Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền" (1789) của Cách mạng Pháp. Sau này Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền" (1948) của Liên Hiệp Quốc trong đó điều 1 đã viết: Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá cũng như về quyền.

               Thực ra thay về bẩm sinh, quyền là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của con người và các định chế xã hội. Quyền tự nhiên không đẻ ra quyền nhân định mà thoát thai từ những hình thức của luật pháp xã hội. Kế đến, phái duy lý khi viện đến quyền có tính cách thiêng liêng thì nó lại mang tính chất siêu hình và mơ hồ, thiếu cơ sở vững chắc để làm nền tảng cho quyền. Mặt khác, quan niệm duy lý quá lý tưởng xa rời thực tế vì "quyền thiêng liêng" có tính chất lý tưởng khó thích nghi hoàn cảnh xã hội cụ thể được.

Nhân loại đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong đó những cuộc chiến tranh mà động cơ phát sinh từ những cuộc tranh chấp quyền lợi đã đưa con người đến những thảm họa tàn khốc như cuộc chiến tranh thế giới lần 1 và lần 2. Từ kinh nghiệm các cuộc xung đột về quyền trong nội bộ các nước cho đến nhiều bộ phận nhân loại đã đặt ra vấn đề quan trọng của đạo đức căn bản. Đó là quyền làm người, quyền được sinh sống trong một thế giới hòa bình. Tuy nhiên, một khi còn có những con người, những học thuyết đầy tham vọng và mong muốn làm chủ thế giới thì cuộc sống của nhân loại nói chung và nhiều khu vực trên thế giới nói riêng vẫn còn chịu nhiều bất công và các cuộc chiến tranh xâu xé, giết chóc lẫn nhau. Vì thế, con người có quyền được sống tốt đẹp và cuộc sống tốt đẹp ấy chỉ có thể có được khi toàn thể nhân loại biết tôn trọng lẫn nhau. Sự khác biệt về giàu, nghèo, về chủng tộc, về tôn giáp v.v... cộng với tham vọng của con người đã là những nguyên nhân gây nên tình trạng bất ổn nhiều nơi trên thế giới hiện nay.

Dương Anh Sơn

Cựu GV trường TH Ninh Hòa

(Xem tiếp kỳ 9)

     Cùng tác giả

 

>> VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

I KỲ 1  I  KỲ 2 I  KỲ 3 I  KỲ 4 I KỲ 5 I KỲ 6 I KỲ 7 I

>> Vài suy nghĩ về sự sành điệu

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net