QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trí Tuệ Việt Nam

Nguyễn Cường.

(kỳ 1)

Trong khoảng thời gian chừng 10 năm trở lại đây, khi so sánh những con số thống kê về khoa học và giáo dục, Việt Nam vẫn kém hơn nhiều nước láng giềng trong khối ASEAN. Đó là lý do báo chí trong nước bắt đầu tổ chức thi đua “Trí tuệ Việt Nam” hàng năm, với phong trào khuyến học xuất hiện ở hầu hết các điạ phương. Đi xa hơn, còn thấy có xuất hiện những đề tài kích động đến tự ái dân tộc cũng được cho lên diễn đàn mạng cuả các báo điện tử, để cùng đọc giả thảo luận công khai, như là: “Nước Việt lớn hay nhỏ?”;  “Xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế tại VN”, v.v.

Thực tế cho thấy, nói đến “Trí tuệ” hay “Thông minh” là đề tài rất nhạy cảm và tế nhị, không chỉ dành riêng cho một dân tộc nào trên thế giới. Hầu như theo tâm lý chung, đa số đều không muốn tự nhìn nhận mình là dân tộc kém thông minh. Đồng thời, cũng không thấy có danh nhân nào dám tuyên bố công khai là dân tộc mình rất thông minh, nếu không muốn bị coi là ....lố bịch! Nhưng đối với dân Việt nói chung, thì quả thật là có một ngoại lệ khó hiểu. Hầu như đa số các học giả người Việt, trong cũng như ngoài nước, đã từng viết hay phát biểu là: “Dân Việt mình vốn thông minh và hiếu học!” Không biết câu nói vừa rồi có phải là hậu quả cuả một ám ảnh thường xuyên được gọi là Tự-Kỷ Ám-Thị ? Nếu không thì dựa trên cơ sở hay bằng chứng nào để nói như vậy?

Theo suy luận thông thường về khoa phân tâm học, một khi tiềm thức bên trong của con người bị ám ảnh thường xuyên và tiêu cực về một vấn đề gì, thì  có thể phản ứng cho ra bên ngoài sẽ trở thành tích cực hơn. Thắc mắc chính đưa ra đây là: Có thật sự dân Việt thông minh và hiếu học, hay chỉ là một câu nói lập lại quen thuộc để thoả mản tự ái dân tộc và làm vui lòng đám đông?  Trả lời bằng cách nào đi nữa thì sự thật cũng không dễ gì chối bỏ được, và các nhà nghiên cưú thường dùng cách gián tiếp khác để nói lên sự “khôn ngoan” hay “tiến bộ” cuả một xã hội tập thể con người, bằng cách đo lường mức thịnh vượng hay năng lực sản xuất cộng chung lại cuả xã hội đó.

Cụ thể tiêu biểu chính là con số GNP (Gross National Product) hay tổng sản lượng hàng năm cuả một quốc gia. Dĩ nhiên, không ai có thể nói GNP là chỉ số thông minh trực tiếp cuả một dân tộc, nhưng cũng không có ai có thể phủ nhận con số GNP là chỉ dấu cho thấy sự giàu sang và thịnh vượng cuả một quốc gia, và quan trọng hơn hết, còn phản ánh một cách gián tiếp đến trí tuệ cuả cả một dân tộc. Bài viết này chỉ có ý định tìm hiểu vấn đề trí tuệ cuả tập thể dân Việt nói chung, không chú trọng đến một thiểu số rất ít những người Việt ngoại hạng với sự thông minh xuất chúng. Nhưng con số vài chục hay vài trăm đó chắc chắn sẽ không đủ để bù đắp vào sự thiếu hụt tài nguyên chất xám cuả cả tập thể hơn 86 triệu dân Việt.   

Dân Việt có thông minh không? 

Ai cũng có thể hiểu là bất cứ dân tộc nào trên thế giới, nếu đã lập quốc được và tồn tại qua cả ngàn năm lịch sử đến ngày hôm nay, thì chắc chắn họ phải là những dân tộc có một sự thông minh tối thiểu nào đó.  Như vậy thì câu hỏi trên chỉ có thể đặt lại cho đúng vào trọng tâm cuả vấn đề: Dân Việt thông minh ít hay nhiều nếu so sánh với các dân tộc khác đang hiện hữu trên thế giới này? 

Có hai tiêu chuẩn chính sau đây để làm cơ sở so sánh. Về vật chất là khả năng sản xuất và làm ra được nhiều cuả cải tài sản cho quốc gia, giúp nâng cao đời sống với nhiều tiện nghi vật chất cho người dân trong nước, hay nói cách khác là làm cho đời sống nhân dân thêm sung túc và đất nước giàu mạnh hơn.  Tiêu biểu để so sánh phần vật chất nói trên, thì không có gì rõ rệt hơn là dùng những dữ kiện GNP  được phổ biến rộng rãi hàng năm rất là khách quan và khoa học. Tuy cách tính về GNP cuả Liên Hiệp Quốc không hoàn toàn chính xác, nhưng cũng phản ánh được phần nào khả năng sản xuất, bao gồm cả lao động chân tay cũng như trí tuệ cuả một quốc gia.

Cho đến thời điểm 2009 này, Việt Nam luôn bị nằm trong nhóm 60 quốc gia có GNP thấp nhất trên thế giới. Nói đúng hơn là lợi tức trung bình hàng năm cuả dân Việt thuộc vào phần ba các nước thấp nhất trong tổng số hơn 180 quốc gia, kể cả những tiểu quốc về lãnh thổ hay các thuộc điạ tự trị có dân số không quá nữa triệu dân.

Về tinh thần, một trong những thước đo khá chính xác nhất cuả sự thông minh là khả năng sáng tạo phát minh ra điều gì mới lạ về khoa học hay kỹ thuật có ích lợi cho xã hội loài người. Tiêu biểu nhất cho yếu tố trên chính là con số bằng sáng chế (Patent) sở hữu về trí tuệ, được tổ chức quốc tế công nhận và cấp cho bất cứ ai trên thế giới có sáng kiến phát minh ra sản phẩm mới và được công nhận. Cũng theo thống kê trong các năm vừa qua, cả Việt nam  với hơn 86 triệu dân chỉ sở hữu được vài bằng sáng chế, và có năm chẳng có cái nào, so với trung bình là vài chục hay vài trăm bằng sáng chế ở các nước láng giềng xung quanh, hay vài ngàn tại các nước tiên tiến như Nhật, Anh, Mỹ v.v có được.

Ngay trên bình diện văn chương hay nghệ thuật cũng vậy, VN vẫn chưa có được một nhà văn, hoạ sĩ, nhạc sĩ hay triết gia nào đưa ra được một học thuật mới hay tư tưởng lớn, xứng đáng tầm vóc quốc tế. Ngay cả trong văn chương, với hàng trăm nhà văn trong nước mới chỉ có được 1 hay 2 tác phẩm được dịch ra tiếng nước ngoài, nhưng vì nhờ nội dung mang tính phản kháng và chống đối. Ơ nước ngoài với thị trường văn chương tự do chọn lựa còn yếu kém hơn rất nhiều. Hầu như chưa có tác phẩm văn chương nào cuả các tác giả người Việt được chọn để trao tặng những giải thưởng quốc tế.   

Còn có chỉ dấu nào khác, chính xác và đúng hơn, để làm thước đo trí tuệ cuả một dân tộc? 

Dân Việt có hiếu học không? 

Câu trả lời thành thật và  ngay thẳng là đa số dân Việt chỉ có cố gắng hết sức mình, học để thi đậu và lấy được bằng cấp cho có danh vọng và đủ để làm giàu hay kiếm ăn thôi. Ngoài ra nói chung, dân Việt ít có tinh thần hiếu học hay tự nguyện học hỏi để mở mang kiến thức. Thử lấy một thí dụ cụ thể nhiều người có thể biết và kiểm chứng được về nhu cầu đọc sách cuả dân Việt. Theo nhận xét thông tin cuả một trí thức ở VN có quan hệ với hội nhà Văn cho biết, một đầu sách xuất bản ở VN cho dù tác giả khá nổi tiếng và có sách bán chạy nhất nước, thì nhà xuất bản cũng chỉ dám cho in ra nhiều lắm chừng khoảng 1000 cuốn (trừ các loại sách truyên truyền theo thời sự hay chính trị v.v.).  Như vậy tính ra trung bình trong hơn 86 ngàn dân mới có một người bỏ tiền mua một cuốn sách hay để đọc và mở mang kiến thức!

Chưa hết, có dịp đi dạo chơi trong các thành phố lớn ở VN, nếu du khách muốn kiếm mua một tờ báo để đọc không phải là chuyện dễ dàng. Trong các nét du lịch hay các bản đồ thành phố hướng dẩn du khách ở VN, hình như không có chổ dành cho các thư viện trừ tại vài thành phố lớn(!?). Thử để ý xem trong các toa xe lửa hạng sang, các chuyến bay dài xuyên đại dương, các bờ biển hay các chổ công cộng giải trí, rất hiếm khi thấy các du khách người Việt đọc sách báo mà chỉ thấy ăn và ngủ hay không làm gì cả, kể cả nếu có đánh cờ hay chơi thể thao! Dường như đa số người Việt không coi chuyện đọc sách báo là một thú giải trí về tinh thần! Còn nhớ cách đây không lâu, có vị hội viên nào đó phê bình rằng hội “Nhà Văn” cuả cả nước VN với hơn 80 triệu dân chỉ có khoảng chừng một ngàn hội viên, mà trong đó hơn quá nữa là nhà Thơ! Con số thi sĩ VN ở hải ngoại có lẽ còn cao hơn nhiều.

Vì nghèo không có tiền mua sách báo để đọc? Câu trả lời có thể chấp nhận được nếu ở trong nước, nhưng không thể dùng cho Việt kiều đang sống tại hải ngoaị.  Thử xem lấy vùng Nam California, thủ đô cuả dân Việt hải ngoại làm thí dụ. Ngay tại trung tâm cuả dân Mỹ gốc Việt vùng Santa Ana-Garden Grove-Westminster, còn gọi là Saìgòn Nho, có hơn cả trăm ngàn người Việt đang sinh sống với khoảng chừng hơn 80 ngàn thông thạo tiếng Việt, nhưng có không quá 3 tiệm sách và chỉ có 2 là đúng theo tiêu chuẩn cuả một “Nhà Sách”! Trong khi đó ở New York với vài chục ngàn Việt kiều, may ra lắm mới tìm thấy một tiệm sách ở phố Tàu, nhưng chủ yếu vẫn là bán những loại sách dạy học tiếng Anh, hay các bộ tiểu thuyết kiếm hiệp cũ được in lại cuả tác giả Kim Dung!

Ngay cả nếu dùng những con số thống kê quốc gia cuả nước Mỹ, chính xác và đáng tin cậy hơn, người Việt ở hải ngoại hiện có khoảng 300 ngàn chuyên gia khoa học và kỹ thuật (kể cả tính luôn trình độ trung cấp) trong tổng số hơn một triệu rưỡi, thì cũng chỉ có gần 20%. Một con số khá thấp so với tất cả người Mỹ bản xứ nói chung(24%) hay các sắc dân khác (hơn 40%),  như người Mỹ gốc An, gốc Phi hay Indonesia vv. Lợi tức trung bình hàng năm của Người Mỹ gốc Việt vẫn thấp nhất nếu so với các sắc dân thiểu số khác (ngoại trừ hai sắc dân Lào và Campuchia)  

Nhưng điều quan trọng trên hết và chung tất cả cho những gì vừa nói, chính là một báo động cực kỳ khẩn trương cho những nhà lãnh đạo giáo dục và trí thức VN.  Đã có những dấu hiệu cho thấy rõ, trí tuệ cuả dân Việt đang bị “tụt hậu” dần, nếu so với các nước láng giềng bên cạnh!  Cụ thể cách đây vài năm, nếu đem so sánh mức độ thay đổi GNP cuả các nước láng giềng và các nước trong khối ASEAN với nhau,  cho thấy VN có mức độ thay đổi GNP chậm nhất sau 16 năm “đổi mới” và phát triển ổn định. Đó là vào năm 2002.

Nhưng vừa mới đây sau khi coi lại bảng so sánh nói trên cho năm 2008, có hai dữ kiện không khỏi làm cho người Viết phải kinh ngạc và bàng hoàng:

1)       Mặc dù GNP cuả Việt Nam có gia tăng đáng kể trong vòng 6 năm qua, VN vẫn có mức độ thay đổi GNP chậm so với đa số các nước còn lại.

2)       Ngay cả hai nước láng giềng có cùng chung hoàn cảnh lịch sử chiến tranh và khó khăn kinh tế, Campuchia và Lào, cũng tiến nhanh hơn và gần bắt kịp  GNP cuả VN! Cụ thể từ một quốc gia nghèo có GNP chỉ bằng hơn một nữa của VN vào năm 1986, Lào và Campuchia đã có thể mang  GNP tiến tới gần bằng 80% của VN trong 2008. Bình thường đúng ra thì VN phải đạt tới mức 80% này nếu so với Phi luật tân hay chừng 50% cuả Thái lan, như Trung quốc đang tiến tới gần bằng! Đã có một cái gì đó không được bình thường cho VN(!?)

Chẳng có ai ngạc nhiên khi nghe một học giả người  Singapore đã kiêu hảnh tuyên bố là VN phải mất gần cả trăm năm nữa thì may ra mới đuổi kịp Singapore! Bởi vì sau hơn 20 năm đổi mới và gia nhập sân chơi bình đẳng trên thế giới, khoảng cách biệt giữa GNP cuả VN ngày càng bị bỏ xa bởi các nước láng giềng đã thành rồng! Không còn một chút hoài nghi nào nữa, ngay cả đa số các nhà giáo dục, học giả hay trí thức trong nước cũng đều có chung một kết luận là nền giáo dục cuả Việt nam đang bị bế tắc và tụt hậu rất trầm trọng nếu so với các nước trong khối ASEAN.   

Từ đó có thể dự đoán một cách tương đối chắc chắn là trí tuệ hay chất xám cuả Dân Việt đang thật sự phát triển chậm so với các dân tộc khác trên thế giới. Nếu tình trạng này cứ tiếp tục như hiện nay và nếu không có những biện pháp có tính đột phá để làm tăng tốc lên trở lại, thì trong vòng tối đa là 3,4 thế hệ nữa, Việtnam sẽ khó giữ được chủ quyền quốc gia và chắc chắn sẽ bị “xâu xé” chia ra thành nhiều vùng ảnh hưởng, một cách gián tiếp mất luôn chủ quyền chính trị vào tay các khu vực quyền lực tương lai cuả Châu Á.

Country GNP

1986

2002

2008

Change (%)

Singapore

6000.

24000.

38900.

643.%

Korea, South

2180.

9400.

19500.

894.%

Maylasia

1700.

3640.

8149.

479.%

Indonesia

560.

680.

2246.

401.%

Philippines

598.

1040.

1866.

312.%

Cambodia

113.

370.

818.

723.%

Lao

90.

310.

840.

933.%

China

258.

890.

3315.

926.%

Thailand

770.

1970.

4115.

535.%

Vietnam

180.

410.

1040.

577.%

               (Nguồn – UNDP- 2002-2008)

Nếu dự đoán trên có xảy ra đúng thì cũng không phải là điều gì đáng ngạc nhiên, vì thật ra chỉ là một sự tái diễn cuả lịch sử. Trong vòng hơn hai ngàn năm qua trên mảnh đất hình chữ S Việt Nam hiện nay, đã có ít nhất 5 vương quốc bị mất nước và chủng tộc cuả họ cũng gần như suýt bị diệt vong luôn. Đó là Vương quốc Âu Lạc thuộc chủng tộc Việt-Mường; Vương quốc Cửu Chân-Nhật Nam với các sắc dân thiểu số Thượng Lào còn sót lại trên Cao Nguyên Trung Phần; Vương quốc Chăm pa với các sắc dân Chàm; Vương quốc Phù Nam thuộc sắc dân Miên, và Vương quốc An Nam thuộc miền Nam Việt Nam cũ!

Giải Pháp Tối Ưu

Trong phần kế tiếp này, thay vì là giải thích những lý do nào đã đưa Việt Nam vào con đường “tụt hậu”. Người viết muốn đi thẳng vào vấn đề cuả những giải pháp tối ưu, vì tự nó cũng phản ánh những nguyên nhân chính một cách gián tiếp. Tất cả chỉ quy về hai tác động duy nhất là xây dựng bộ nhớ thuộc phần vật chất trong não bộ và phát triển trí tuệ theo dòng chính cuả văn minh loài người.

Nguyễn Cường.

Sacto 10/2009

(Xem tiếp kỳ 2)

Nguyễn Cường quê Xóm Mới - Thị trấn Ninh Hoà.

Học Võ Tánh, Đại học Kỹ thuật Phú Thọ Sài Gòn.

Hiện là kỹ sư công chánh cho Departerment of Transportation, California - USA

Cùng tác giả

>> Phản biện bài viết về vịnh Vân Phong trên ninhhoatoday.net

>> 9 cách để Nha Trang trở thành điểm hẹn quốc tế

>> Khủng hoảng hay chiến tranh

>> Khoa bảng, Trí thức và Nhân tài Đất Việt : Kỳ 1 kỳ 2

>> Bức Tâm Thư

>> Ngôn ngữ và Trí Tuệ : Kỳ 1 kỳ 2

>> Nguồn gốc của Âm Lịch và Tử vi : Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3

>> Sông Núi và Địa Linh Nhân Kiệt

>> Bàn về 2 chữ giáo dục

>> Đuốc thiêng Thế vận hội

>> Khám phá mới về dịch lý và ngũ hành : kỳ 1 kỳ 2 Kỳ 3

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net