QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỊA DANH CŨ Ở THỊ TRẤN NINH HOÀ

ĐỖ ĐỘ

Thị trấn Ninh Hoà là trung tâm huyện  Ninh Hòa, cách thành phố Nha Trang  32km về hướng Bắc. Về tổ chức hành chánh, thị trấn Ninh Hòa nguyên là một xã của tỉnh Khánh Hòa, thời gian từ năm 1653 (năm mở đất Khánh Hoà ) là trung tâm lỵ sở của Dinh Thái Khang (cả tỉnh Khánh Hoà), rồì phủ Bình Hoà. Trải qua hơn 350 năm, một số địa danh có từ khi mới thành lập  hoặc sau đó phát sinh sẽ mai một nếu không ghi chép để lại, sau này mọi người sẽ quên lãng. Những địa danh  đã tồn tại trong một thời gian dài, gắn bó với sự phát triển của đất nước nói chung, thị trấn Ninh Hòa nói riêng. Chúng ta, ngoài sự “ôn cố tri tân” còn mục đích là bảo tồn văn hoá địa phương.

Sau đây là một số địa danh cũ ở Thị trấn Ninh Hoà, đến nay không còn sử dụng trong các văn bản hành hành chánh cũng như ít được người dân dùng.

1/ Toàn Thạnh xã :

- Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn :  Khánh Hòa (Nguyễn Đình Đầu dịch, NXB TP Hồ Chí Minh, 1997) chép : “Toàn Thạnh xã (xứ Đồng Giữa, Đồng Trong, Đồng Ngoài) thuộc huyện Tân Định, phủ Bình Hoà, rộng 89 mẫu 2 sào 5 thước 7 tấc .

Đông giáp  địa phận xã Thanh Châu  và Xã An Phú.

Tây giáp  địa phận  xã  An Thành  và xã Thạch Thành

Nam giáp xã Thạch  Thành  và núi

Bắc giáp địa  phận xã Vĩnh An  (tổng Trung , huyện Quảng Phước) “.

Chiếu theo giấy tờ ruộng đất để lại thì xã Thanh Châu là thôn Thanh     Châu và xã An Phú là thôn Phong Phú thuộc xã Ninh Giang hiện nay.

An Thành là thôn Bình Thành, xã Ninh Bình ngày nay.

Thạch Thành là thôn Thạch Thành, xã  Ninh Quang ngày nay.

Vĩnh An  là thôn Vĩnh Phú, Thị Trấn Ninh Hòa ngày nay.

Như vậy theo ranh giới  tứ cận xã Toàn Thạnh của địa bạ triều Nguyễn xác định  xã Toàn Thạnh xưa kia là  thôn Mỹ Hiệp, một phần của Thị Trấn Ninh Hòa hôm nay .

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí - tỉnh Khánh Hòa (bản đời Tự Đức ) có chép : ”Chợ Mỹ Thạnh  ở Huyện Tân Định , tục gọi  chợ Dinh , vì hồi đầu bản triều 3 dinh Trấn Thủ , Cai Bạ  và Ký Lục đóng ở đây nên gọi tên thế ”.

Như vậy xã Toàn Thạnh  đổi thành xã Mỹ Thạnh hồi nào không rõ, nhưng đến đời Vua Tự Đức đã là tên xã Mỹ Thạnh .

Cũng theo sách trên, còn có chép : “Khu chợ  Dinh này ở xã Mỹ Hiệp,  huyện Tân Định , xe thuyền tụ tập, buôn bán phồn thịnh , thành nơi đô hội  thứ nhất trong tỉnh hạt”.

Đến đời  vua Duy Tân (1907-1916), thì xã Mỹ Thạnh đã đổi thành xã Mỹ Hiệp .

Trải qua 350 năm, từ xã Toàn Thạnh, đổi thành xã  Mỹ Thạnh, rồi sau đó thành xã Mỹ Hiệp. Những tên Toàn Thạnh, Mỹ Thạnh, là những tên xưa của Thị Trấn Ninh Hoà ngày hôm nay  đã thực sự đi vào quên  lãng, rất ít người biết đến.

2/ Xã Ninh Hiệp :

Từ năm 1954, ở miền Nam  chính quyền Sài Gòn bãi bỏ  đơn vị hành chính tổng, xã, đổi tên xã cũ thành ấp, và thành lập xã mới gồm nhiều ấp hợp lại. Ở Ninh Hoà tên những xã mới chữ đầu bằng chữ Ninh như Ninh Phụng, Ninh Bình…  . Theo địa phương chí quận Ninh Hoà do chính quyền Sài Gòn thống kê  năm 1969 : “xã Ninh Hiệp có diện tích  445ha 42a,  nguyên trước có 3 ấp: Mỹ Hiệp, Vĩnh Phú  và Minh Hương. Năm 1966 nhập ấp Minh Hương vào Mỹ Hiệp lấy tên ấp Mỹ Hiệp. Dân số ấp Mỹ Hiệp: 8216 người (ấp đông dân nhất của Ninh Hoà), dân số ấp Vĩnh Phú là 2172 người”. Sau đó thống nhất đổi các tên ấp thành thôn. Theo thống kê các đơn vị hành chánh tỉnh Khánh Hoà năm 1966 trong sách Non nước Khánh Hoà của Nguyễn Đình Tư thì : “Xã Ninh Hiệp  có 2 thôn Mỹ Hiệp và Vĩnh Phú , diện tích 520 ha”.Xã Ninh Hiệp là thị trấn Ninh Hòa ngày hôm nay. Hồi đó thôn Mỹ Hiệp chia làm 5 xóm:

Xóm Đông Thành : Khu vực đập Chị Trừ,  xóm Rượu ngày hôm nay.

Xóm Tây Tựu       : Khu vực chùa Minh Hương , Cầu Gỗ

Xóm  Nam Hoà     : Khu vực Thôn 1 cũ

Xóm Bắc Hiệp      : Khu vực  cầu Dinh

Xóm Trung Mỹ     : Ngay trung tâm thôn Mỹ Hiệp.

Xã Ninh Hiệp là trung tâm quận lỵ Ninh Hòa, đầu mối giao thông giữa Ninh Hòa đi Buôn Ma Thuột theo quốc lộ 21 (nay đổi thành quốc lộ 26), và là xã có đường Quốc lộ 1A đi ngang qua. Toàn xã có các nghiệp đoàn xe Lambretta (xe  3 bánh)  như sau :

Từ Ninh Hoà đi Dục Mỹ và ngược lại :  92 chiếc

Từ Ninh Hoà đi Hòn Khói  và ngược lại : 20 chiếc

Từ Ninh Hoà đi Vạn Ninh     : 17 chiếc .

Nghiệp đoàn xe ngựa (Mã xa) :  30 chiếc

Xe xích lô         : 62 chiếc

Hiện nay tên Xã Ninh Hiệp, ấp Mỹ Hiệp, ấp Minh Hương, và các xóm tên Đông Thành, Tây Tựu, Nam Hoà, Bắc Hiệp, Trung Mỹ ngay tại trung tâm Thị Trấn Ninh Hoà cũng không còn, xe Lambretta đã hết hạn sử dụng nên cũng giải tán mất, xe ngựa chỉ còn vài chiếc .

Vết tích cũ còn lưu lại  là ngôi miếu nhỏ tên  miếu Trung Mỹ nằm ở tổ dân phố 3, và  đình Mỹ Hiệp nằm trên quốc lộ 1, mặt quay về hướng  Đông cách trung tâm huyện Ninh Hoà khoảng 300m về hướng Nam. Đình được xây dựng vào tháng 7 năm Tân Mùi (1751), thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, với tên Mỹ Thạnh Xã Đình Tự. Nguyên mặt tiền ngôi đình xây về hướng Tây Nam, nhưng sau đó  đường sắt Bắc Nam được thành lập đi ngang qua trước mặt ngôi đình, nên năm 1931 đình được xây cất lại mặt tiền xây hướng Đông Nam theo đường thiên lý Bắc Nam (Quốc lộ 1A)  như hiện nay.

Theo Xứ Trầm Hương của Quách Tấn có nói đến ông Nguyễn Khanh (1 trong 3 Khánh Hoà tam kiệt), người làng Võ Dõng, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc xã Vĩnh Trung, Thành phố Nha Trang) là người văn hay chữ tốt. Vào cuối đời Tự Đức, làng Mỹ Hiệp trùng tu xong ngôi đình, mời ông ra viết chữ Thần bằng Hán tự nơi vách tẩm để thờ. Ông nấu mực đổ vào một chậu lớn, lấy dăm bào cuộn tròn lại làm bút, rồi nhúng cuộn dăm bào vào mực, 2 tay viết lên vách, nét nét to lớn mạnh mẽ. Đến nét sổ ở giữa, ông kê chiếc ghế đẩu, đứng lên trên, 2 tay ấn chặt cuộn dăm bào vào vách, rồi dùng chân hất mạnh chiếc ghế. Ghế ngã, ông ngã theo nhưng 2 tay vấn bám vách và nắm chặt cuộn dăm bào theo đà tay tuột mạnh xuống: Một nét sổ in trên vách, thẳng băng và rắn rỏi như cột mun, và chữ Thần trông oai nghi và linh động như chữ đã hoá Thần.

Năm 1953, đình được ông Thủ Hiến Trung Kỳ, kiêm Chánh Võ phòng vua Bảo Đại là ông Phan Văn Giáo, quê quán người làng Mỹ Hiệp cho đại trùng tu đình như ta thấy hôm nay.

Đình Mỹ Hiệp được công nhận là di tích văn hoá của Thị Trấn Ninh Hòa, mang nhiều nét đặc trưng đình làng miền Trung, và nơi đây có thời gian là cơ sở hoạt động Cần Vương và trong kháng chiến chống Pháp.

Sau năm 1975, hoà bình lập lại, yêu cầu xã hội phát triển, xã Ninh Hiệp đổi thành Thị trấn Ninh Hoà, gồm có 8 thôn : Thôn 1 đến thôn 8

Đến năm 2000 mở rộng thị trấn Ninh Hòa, nhập một phần diện tích  thôn Phong Ấp xã Ninh Bình, phần dưới (hướng Đông) đường ray xe lửa vào Thị trấn. Nhập 1 phần diện tích xã Ninh Giang  phần trên (hướng Tây) Quốc lộ 1A và thôn Phước Đa phần trên (hướng Tây) Quốc lộ 1A, phía Bắc giáp đến chân núi Ổ Gà. Thị Trấn Ninh Hoà, từ đó gồm có 8 thôn, từ thôn 1 đến thôn 10 .

Năm 2007, thị trấn Ninh Hòa đổi 10 thôn thành 18 Tổ Dân phố  (từ tổ 1 đến tổ 18) đến ngày hôm nay

3/  Thôn Vĩnh An :

Theo Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn : Khánh Hòa (Nguyễn Đình Đầu, sđd) thì  : “Vĩnh An thôn (xứ cây Xoài, cây Sung) diện tích  31 mẫu  2 sào  10 thước , thuộc huyện Quảng Phước :

Đông giáp xã phụ lũy  Phước Toàn, lấy bờ đê làm giới .

Tây giáp  địa phận  xã Xuân An (tổng Trung huyện Tân Định) lấy  sông  làm giới.

Nam giáp  địa phận  xã Toàn Thạnh tổng Trung huyện Tân Định ) lấy sông làm giới .

Bắc giáp  địa phận xã phụ luỹ  Phước Toàn.

Trong thôn có đất chuồng voi: 1 khoảnh  rộng 7 sào” .

Xã phụ luỹ Phước Toàn là thôn Phước Đa ngày nay .

Xuân An là thôn Điềm Tịnh xã Ninh Phụng nhày nay.

Toàn Thạnh là thôn Mỹ Hiệp, xã Ninh Hiệp, nay là Thị trấn Ninh Hoà

Theo ranh giới đã xác định trên, Vĩnh An thôn thôn Vĩnh Phú, địa giới  hướng tây lên đến Ngả Ba Mù U, thôn Quang Đông, xã Ninh Đông, giáp thôn Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, lấy sông làm giới .

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Phủ Bình Hoà đổi thành phủ Ninh Hoà, dời phủ đường từ xã Phụ Lũy Phước Toàn (Phước Đa) qua xã Vĩnh Phú. Tuy nhiên phủ lỵ chỉ đóng ở đây một thời gian  rồi sau lại  dời  về chỗ ban đầu  là xã Phước Đa .

Đến năm 1978, thôn Vĩnh Phú cắt phần trên đường ray xe lửa nhập vào thôn Quang Đông, xã Ninh Đông,  phần còn lại  thành thôn Vĩnh Phú, xã Ninh Hiệp .

Đến năm 2007 thôn Vĩnh Phú thành Tổ Dân Phố 12 và 13, thuộc thị  trấn Ninh Hoà.

Hiện nay tên thôn Vĩnh An  đã thực sự đi vào quên lãng .

Trong phần địa bạ, thôn Vĩnh An có đất chuồng voi rộng 7 sào (3500m2). Theo các bậc cao niên kể lại, đời trước có chuồng voi ở khu vực Đài Truyền Thanh Truyền hình Ninh Hoà hiện nay.  Nơi đây có một kho muối lớn, và một bãi đất trống rộng để voi nghỉ ngơi chuẩn bị chuyên chở muối lên  vùng Tây Nguyên. Trẻ em thời đó xúm lại coi voi tắm sông và bỏ mía cho  ăn. 

4/ Sông Vĩnh An , sông Vĩnh Phú .

Nguyên trước kia  sông Dinh có tên là sông Vĩnh An vì 4 nguồn  hợp lưu  tại thôn Vĩnh An thành có tên sông Vĩnh An. Sau đó thôn Vĩnh An đổi thành thôn Vĩnh Phú  thì sông cũng gọi là sông Vĩnh Phú. Người dân bao đời nay  vẫn quen gọi  là sông Dinh  vì có lẽ  sông chảy qua các địa phận có đặt lỵ sở dinh quan trấn  Thái Khang, Bình Khang.  Sách Đại Nam Nhất Thống Chí - tỉnh Khánh Hòa chép : “Sông Vĩnh Phú ở cách huyện Tân Định chừng 2 dặm về hướng bắc, trước gọi là sông Vĩnh An , có 4 nguồn  ……

Tên Sông Vĩnh An, hay sông Vĩnh Phú đến nay không ai nhắc đến, chỉ còn gọi sông Dinh

5/ Ngã ba Bùng Binh :

Ngay trước mặt văn phòng UBND huyện Ninh Hoà trước kia có ngã ba tên gọi là Ngã Ba Bùng Binh. Nơi đây là giao lộ giữa Quốc lộ 1A và Quốc lộ 21 (nay là QL 26), xưa kia tạo thành  ngã ba, có ba đường :  đưòng lên Buôn Ma Thuột, đưòng vô Nam, và đường ra Bắc. Ở đây có  cái vòng xuyến để xe dễ tránh nhau, cái vòng xuyến tròn ấy giống như cái bùng binh (vật dụng bằng đất để đựng tiền để dành), nên người ta quen gọi là ngã Ba Bùng Binh. Khu vực ngã Ba Bùng Binh là nơi sầm uất, tụ hội nhiều người buôn bán, vì đây  là cửa ngõ giao thông duy nhất  từ các tỉnh miền Trung lên Tây nguyên. Hiện nay Quốc lộ 1A đã có đường mới không đi vào nội thị trấn và ngay Ngã Ba này có thêm một con đường nữa tên là Nguyễn Thị Ngọc Oanh, cho nên, tên ngã Ba Bùng Binh không còn nữa mà thay vào đó là Ngã Tư  Ninh Hòa

6/ Trạm Dịch , Đồn G.I :

Cách ngã Ba Bùng Binh  khoảng 150 mét về hướng Bắc là  Trạm Dịch  hay  Đồn G.I. Nguyên nơi này xưa kia là trạm dịch Hoà Mỹ (nơi để tiếp nhận công văn chuyển đến trạm dịch kế tiếp và cũng để cho  người nghỉ ngơi trước khi đi  tiếp trên đường thiên lý Bắc Nam). Theo địa bạ triều Nguyễn (sđd), thì phần Toàn Thạnh xã  có ghi :  Dịch trạm Hoà Mỹ diện tích 1 mẫu (khoảng 5000mét vuông). Toàn Thạnh xã là Thị trấn Ninh Hoà bây giờ, và theo những người cao niên nghe kể lại là nơi đây có một trạm dịch, sát gần con sông để cho người, ngựa tắm mát, nghỉ ngơi .

Ông Đặng Văn Hoà (1791-1856), từng giữ chức Thượng Thư 5 bộ, Cơ Mật Viện 3 triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, khi kinh lý vô nam, có ghé trạm Hoà Mỹ làm bài thơ bằng chữ Hán như sau:

Hoà Mỹ  bưu đình dĩ tịch huân

Yêu lai dĩ kiến trấp dư quân

Niết đài đạo tiếp tình di trọng

Phiên viện môn nghênh niện hựu ân

Đến khoảng năm 1890, thời Pháp thuộc, lấy trạm dịch này làm một đồn lính tên gọi là Đồn G..I  (Garde  Indochinois, Vệ binh Đông Dương ), lính toàn người  người Việt, cấp chỉ huy là người Pháp. Từ năm 1954 đến năm 1975,  nơi đó là trại lính Địa Phương Quân  của Chính quyền Sài Gòn .Từ năm 1975 đến 1883, nơi đó là Bộ chỉ huy quân sự  huyện Ninh Hoà. Sau đó Bộ chỉ huy quân sự Huyện chuyển đi   địa điểm khác, nơi đó  được xây thành chợ Ninh Hoà ngày hôm nay .

Như vậy Trạm Dịch Hoà Mỹ,  rồi tên đồn G.I đến nay đã không còn. 

7/ Cầu Trạm ,  cầu Đồn

Nguyên trước kia Sông Dinh có một nhánh nhỏ chảy qua  sát  đồn G.I.  Đường thiên lý Bắc Nam qua chiếc cầu có tên là  cầu Trạm.  Khi trạm Dịch  Hoà Mỹ chuyển thành  đồn lính G.I, thì tên được đổi thành Cầu Đồn. Trải qua thời gian biển đổi, nhánh sông  này  cạn dần, ít có nước chảy  qua, nên người ta gọi là sông Cạn.  Đến nay sông Cạn đã được lấp đất đầy thành mặt đường  gọi là đường Sông Cạn, vì không còn sông qua đường nên cũng không còn cầu, cho nên tên gọi Cầu Trạm, Cầu Đồn cũng không còn. 

8/ Cầu Gỗ :

Đường  phía trên chợ Dinh nối với đường Lê Lợi  qua sông Cạn có cầu tên là Cầu Gỗ. Cầu này tới năm 2000 vẫn còn, không phải vì biết  sau này  sẽ  mất tên  hay sao mà  một thời gian dài  ngay tại trung tâm thị trấn Ninh Hoà có một cầu gỗ tạm bợ. Như đã nói ở phần sông Cạn, do bị đất bồi đắp dần cho nên người ta đã lấp đầy sông thành đường gọi đường sông Cạn, cho nên hiện nay cầu Gỗ cũng không còn. 

10/ Đường luồn Cây Thị :

Trước kia là một đường  đất  nhỏ có cây thị to lớn, nối liền từ đường Trần Quý Cáp xuống Xóm Rượu, dân chúng quen gọi là đường luồn Cây  Thị. Sau đó  đường đó được mở rộng được đặt tên là đường Võ Tánh, tên vị tướng của Nguyễn Ánh chết trận ở thành Qui nhơn, dưới sự tấn công của  Nhà Tây Sơn. 

11/ Đường Trịnh Minh Thế :

Con đường dài khoảng 300m nối từ đường Trần Quý Cáp lên nhà ga xe lửa Ninh Hoà. Trước năm 1975, đường này được đặt tên đường Trịnh Minh Thế, tên vị tướng trẻ đem 4 tiểu đoàn lính ly khai khỏi tổ chức Cao Đài về đầu quân cho Ngô Đình Diệm. Năm 1955, Ông Thế đi thị sát trận đánh với giáo phái Bình Xuyên (Bảy Viễn) ở cầu Chữ Y Sài Gòn, bị bắn chết.

Nguyên năm 1956, ngay tại công trường trước ga xe lửa Nha Trang có  buổi lễ tưởng niệm tướng Trịnh Minh Thế. Sau buổi lễ, có yêu cầu ông Tỉnh Trưởng Khánh Hoà lúc đó là Nguyễn Trân đổi tên công viên thành công trường Trịnh Minh Thế. Ngay ở quận Ninh Hoà cũng theo thị xã Nha Trang, đặt tên đường trước nhà ga xe lửa Ninh Hoà thành đưòng Trịnh Minh Thế.

Mãi đến năm 2006, đường này mới  đổi tên thành Võ Văn Ký,  là liệt sĩ, đại đội trưởng hy sinh đầu tiên của Khánh Hoà tại nhà ga xe lửa Nha Trang trong cuộc quân dân Nha Trang – Khánh Hòa nổi dậy ngày 23 tháng 10 năm 1946 chống Pháp. Quê quán liệt sĩ Võ Văn Ký ở thôn Đại Tập, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hoà .

Như vậy tên đường Trịnh Minh Thế đến nay cũng không còn.

12/ Nhà lao Một Cọt:

Để thi hành chính sách bảo hộ đất nước Việt Nam, thực dân Pháp đã lập những nhà giam để giam giữ những người yêu nước bị thực dân Pháp bắt. Tại Ninh Hòa chúng lập nên một nhà giam có tên là nhà lao Một Cọt, địa điểm ngay tại đài truyền thanh  và tiếp hình huyện Ninh Hoà ngày nay. Qua tìm hiểu,  Một Cọt là tên thường gọi trưởng nhà lao người Pháp, có hình dáng thấp đậm, bụng to, thường mặc bộ quần áo “sọt” kiểu nhà binh của Pháp, tay luôn vung vẩy chiếc gậy, chân bước ngắn và hấp tấp, dáng đi loi choi như con cóc cọt nhảy, cấp bậc thiếu uý (quan một), nên nhân dân đặt cho hỗn danh là Một Cọt, gọi lâu dần thành quen. Thực ra tên đầy đủ của hắn là Marcovick, gốc người Hungary trong quân đội Lê Dương của Pháp. Nhà giam Ninh Hoà nhưng người ta quen gọi là nhà lao Một Cọt có từ năm 1946 .Ông Một Cọt có vợ người Ninh Hoà tên là Bà Châu Thị Lun, như người ta quen gọi là Bà Bảy Méo, sinh năm 1922. Đến năm 1954, ông Cọt về nước, bà Lun vẫn ở Ninh Hoà và mới chết năm 2006..

Nơi đây giam giữ nhiều chiến sĩ Cách Mạng và người dân vô tội. Một Cọt và bọn tay sai  đã đánh đập, tra tấn, hành hạ và bắn giết dã man những tù nhân chúng bắt được, nhưng cũng không khuất phục nỗi tinh thần yêu nước, đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta.

Đến năm 1954, nhà lao này đã được chính quyền Sài Gòn giải thể, vì thế tên nhà lao Một Cọt cũng không còn. 

13/ Đồn Bạt-ti-dông (Partisans)

Khu vực  nhà trẻ Hướng Dương, và trung tâm dạy nghề Ninh Hòa hiện nay, thời Pháp thuộc là đồn lính Partisans (tạm dịch lính hành quân của Pháp), dân ta quen gọi là đồn Bạt-ti-dông. Đến năm 1954, quân Pháp rút về nước, đồn Bạt-ti-dông được sửa chữa lại thành kho thuốc lá.  Sau năm 1975, kho thuốc lá này được sử dụng thành kho lương thực huyện Ninh Hòa. Đến nay, cơ sở này đã được xây dựng nhà trẻ mẫu giáo Hướng Dương và Trung tâm dạy nghề Huyện Ninh Hoà .

Như vậy tên đồn Bat-ti-dông đến nay cũng không còn. 

14/ Sân vận động Ninh Hòa

Năm 1942, Toàn Quyền Đông Dương Decoux, phát động phong trào thể dục thể thao rộng khắp trên toàn xứ Đông Dương. Ở Ninh Hòa, chính quyền đã cho di dời cải táng mồ mả khu đất gò Cu Mên phía trên huyện Tân Định (Ninh Hoà) làm thành sân vận động của quận.

Ngày 19/8/1945, nơi đây diễn ra cuộc mítting chào mừng thắng lợi cuộc Cách Mạng tháng 8 ở Ninh Hoà, nhân dân ta thoát khỏi ách nô lệ.

Khoảng năm 1960, nơi đây chính quyền quận tổ chức đón tiếp cố vấn Ngô Đình Nhu, là em ruột của tổng thống Ngô Đình Diệm, ra tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử Quốc Hội mà Ông Nhu ứng cử tại đơn vị Ninh Hoà. Ngày ấy, chính quyền quận cho huy động tất cả học sinh các trường trung học trong quận và nhân dân đến nghe ông cố vấn nói chuyện. Một sự cố xảy ra là khi hát bài suy tôn Ngô Tổng Thống (bài hát bắt buộc phải hát trong các buổi lễ) tới đoạn : Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm, thì học sinh hát trại lại thành : Toàn dân Việt Nam nhớ ăn tô hủ tiếu, tô hủ tiếu ngon ghê ! Bọn mật vụ bắt một số học sinh và người dân về quận tra hỏi, nhưng đông đảo học sinh và nhân dân đã hát như thế, trong đó có cả con các công chức chính quyền, nên bọn chúng đành chịu thua. “Muôn năm” đâu không thấy, chỉ thấy anh em họ Ngô bị lật đổ và chết thảm vào năm 1963.

Năm 1979, sân vận động được xây thành nhà hát lộ thiên, rồi sau đó thành Trung tâm Văn hoá Thể dục Thể thao và Nhà Bảo tàng  Huyện Ninh Hòa.

Tên sân vận động Ninh Hoà đến nay không còn. Hiện nay tại huyện cũng đã có sân vận động khác nhưng nằm ở xã Ninh Đa. 

15/ Trường Pháp - Việt :

Tên đầy đủ là trường Tiểu học Pháp - Việt được thành lập năm 1922, do người Pháp lập nên ở Ninh Hòa, xây trên nền nhà cũ Phủ Bình Hoà.  Lúc ban đầu trường dạy 3 lớp : Lớp Đồng Ấu, Dự Bị, và Sơ Đẳng, tức là lớp 1, lớp 2, lớp 3 ngày nay. Năm cuối lớp 3 thi lấy bằng Sơ đẳng yếu lược. Đến năm 1930 thì mở thêm 3 lớp cuối bậc Tiểu học là lớp nhì nhỏ (Moyen 1), lớp nhì lớn (Moyen 2) và lớp nhất (Superieur), cuối năm thi lấy bằng tốt nghiệp tiểu học (Primaire). Trường dạy bằng tiếng Pháp, và là bậc học cao nhất Ninh Hoà vào thời đó.

Học sinh của Trường nhiều người ý thức được cảnh nô lệ mất nước đã tham gia kháng chiến chống Pháp như Liệt sĩ Võ Văn Ký (được đặt tên đường, tên trường học, tên công viên ở Nha Trang), Nhà văn Đào Xuân Quý, nhà Cách Mạng lão thành Lê Dung, Đinh Hoà Khánh nguyên Giám đốc Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Khánh Hòa……

Hiện nay khu vực trường là nhà truyền thống Huyện Ninh Hoà, tên trường tiểu học Pháp - Việt nay không còn nữa.

Những địa danh trên, mặc dù trên mặt giấy tờ không còn tên, nhưng một số người lớn tuổi vẫn còn nhớ. Có những tên như nhà Lao Một Cọt đã thực sự ăn sâu vào tâm khảm người dân, nhất là những người đã từng bị tù đày nơi địa ngục trần gian này.

Thời gian trôi qua đi, những người già rồi cũng chết, ký ức xưa cũng mang theo, lớp trẻ lớn lên ở Ninh Hoà sẽ không biết  những địa danh này. Tôi ghi lại những gì đã mất, mặc dù chưa đầy đủ, để nhớ về Ninh Hoà xưa và để lưu lại cho các thế hệ sau biết rõ hơn về quê hương của mình.

ĐỖ ĐỘ

Thôn Tân Tứ, Xã Ninh Thượng

Huyện Ninh Hoà, Tỉnh Khánh Hoà.

 

Cùng tác giả

>> Nhớ nem Ninh Hòa

>> Mùa xuân bắt chuột

>> Lần săn chuột thành công nhất

>> Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 3)

 

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net