QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Trí Tuệ Việt Nam

Nguyễn Cường

(kỳ 2)

 

Vật Chất (Hardware)

Vấn nạn đầu tiên là dân Việt chịu ảnh hưởng nền văn hoá Đông Phương, quá chú trọng nhiều về  tâm linh hơn là vật chất, dễ đưa đến những hiểu nhầm tai hại về sự liên hệ giữa trí tuệ và vấn đề ăn uống hay khoa dinh dưỡng! Cụ thể là chỉ trong văn hoá Việt mới có những câu khinh rẻ và coi thường chuyện ăn uống, như: “Miếng ăn là miếng tồi tàn...!”. Hay “Ăn để sống, không phải sống để ăn”! v.v. Đúng là ăn để sống, nhưng muốn có đời sống tốt đẹp như thế nào thì lại tuỳ thuộc rất nhiều vào cái ăn! Hậu quả tâm lý là đa số bị nhập tâm coi nhẹ chuyện ăn uống, không chú trọng nhiều về khoa dinh dưỡng, nhất là không hiểu rằng có ít  nhất 50% cuả việc ăn uống đóng góp vào sự phát triển trí tuệ cuả con người nói chung. Dù nguyên nhân chính vẫn là do bị “nghèo và đói” quá lâu, chuyện ăn cho no còn chưa có được, nói gì đến kén chọn thức ăn nhiều chất dinh dưỡng!

Nếu coi bộ máy vi-tính giống tương tự như não bộ con người, thì những gì vừa trình bày là phần “hardware” hay “con chíp”, thành phần trọng yếu số 1 cuả máy tính. Không có “con chíp” thì cũng không có máy vi tính và không có tất cả! Tương tự như trên, nếu không có một thế hệ dân Việt có đầy đũ một số lượng tối thiểu các tế bào bộ nhớ, gần bằng hay nhiều hơn các giống dân khác, thì chắc mãi mãi ViệtNam sẽ không có một hy vọng nào vươn lên thành rồng hay cọp cuả Á châu. Điều nghịch lý là nếu ai có dịp đọc hàng ngàn bài viết cuả hàng trăm học giả người Việt, trong cũng như ngoài nước về chủ đề tương lai cuả dân Việt, thì hình như cũng chỉ thấy nói nhiều về “Software(Phần mềm)”, các chủ đề về “Caỉ cách giáo dục”  hay chấn hưng và thay đổi văn hóa, nhưng chưa hề thấy có bài viết nào nghiên cứu một cách nghiêm túc và sâu rộng về khoa dinh dưỡng nói chung dành riêng cho dân Việt!

Giải pháp tối ưu cho hai vấn nạn trên chỉ có thể thực hiện bởi nhà nước. Bằng các phương tiện truyền thông và bộ máy tuyên truyền, nhà nước cần phải động viên giúp đỡ người dân cũng như  huấn luyện các chuyên gia về khoa dinh dưỡng. Đây chỉ là giải pháp nhằm vào khoảng 10% dân Việt có được may mắn ăn no mặc đủ và có đầy đủ phương tiện tài chánh. Trường hợp muốn đi xa hơn nữa cho toàn dân là phải có một ngân sách dành riêng hàng năm để hổ trợ cho các chương trình trọng điểm.  Bằng cách bổ sung thêm một vài sinh tố và khoáng chất cần thiết trong các loại thực phẩm cơ bản như gạo mắm hay muối, đặc biệt nhất là các loại thức ăn nhẹ đóng trong bao bì hay thực phẩm dành riêng cho trẻ em. Không có gì khó làm hay khác thường, nếu trong các thúng muối ăn hàng ngày cuả dân Việt, đặc biệt có được bổ sung thêm một số lượng nhỏ các khoáng chất cần thiết như I-ốt, Vôi (calcium) hay Ma-nhê (magnesium), v.v.    

Trên hết và quan trọng nhất là phải có một chiến lược quốc gia hàng đầu dành cho khoảng 10% dân số nói trên. Nhà nước cần phải cấp tốc đưa ra những khuyến cáo về thực phẩm dinh dưỡng, những sinh tố và khoáng chất cần thiết để phát triển về não bộ dành riêng cho người dân ở mỗi địa phương, đến từng đơn vị điạ lý nhỏ nhất là quận huyện.  Cụ thể thí dụ như tại sao đa số dân các vùng miền Trung Nam, nhất là từ Bình Định vào tới Bình thuận, thường bị thiếu nhiều các khoáng chất sắt và vôi (?) Lý do là vì đa số các con sông hay nguồn nước phát xuất rất gần từ dãy Trường sơn, không chảy qua các vùng đất có quặng sắt hay vôi. Thêm vào, rặng núi quá cổ về niên đại cách đây trên cả triệu năm, nên các khoáng chất trên lớp đất bề mặt không còn nhiều sau hàng mấy trăm ngàn năm bị mưa gió bào mòn và cuốn trôi phần lớn các khoáng chất màu mỡ theo ra biển.

Đó cũng chính là lý do giải thích tại sao các dân tộc miền núi trên cao nguyên thường kém trí nhớ hơn các dân tộc sống ở vùng đồng bằng.  Do vì trên cao nguyên chỉ có thể dùng nguồn nước mưa nên cơ thể thiếu quá nhiều khoáng chất, khác với nước sông suối hay ao hồ ở đồng bằng mang nhiều phù sa nhờ đã chảy qua hàng trăm ngàn cây số đất đai mầu mỡ.    

Cũng do bởi thiếu quá nhiều khoáng chất sắt trong máu, nên não bộ cuả phần đông trẻ em thuộc các vùng miền cao nguyên Trung Nam bộ nói trên bị chậm phát triển, và dĩ  nhiên là không thích học nhiều hay dễ bị chán học, vì không có đủ trí nhớ tốt cho chuyện học hành. Chưa nói đến ngay cả nếu người lớn thiếu khoáng chất sắt lâu dài, cũng dễ đưa đến tình trạng mất trí nhớ hay bệnh lẫn trí. Nhẹ nhất là lười tư duy và thiếu khả năng sáng tạo.

Cụ thể minh chứng như đa số các cư dân miền Bắc, thiếu ít hay không bị thiếu các khoáng chất sắt,  nhờ phù sa cuả con sông Hồng thường xuyên chảy qua vùng chứa mỏ quặng sắt, nên dòng sông thường có mầu hồng đỏ. Nói vậy không phải là dân sống ở các vùng đó không bị thiếu các khoáng chất cần thiết khác. Tuỳ theo kết cấu điạ hình và văn hoá ẩm thực mà mức độ thừa thiếu cuả các loại khoáng chất tại mổi điạ phương có thể được áp dụng nhiều hay ít.

Tóm lại, ngay từ thời lịch sử xa xưa, chất xám hay tế bào bộ nhớ cuả con người đã phát triển tuỳ thuộc rất nhiều vào vấn đề ăn và uống. Ăn để hấp thụ nhiệt lượng và chất sinh tố (Vitamin), còn uống là để hấp thu các khoáng chất thiên nhiên, như cát với xi măng, phải có đủ cả hai mới xây dựng nên căn nhà cuả tri thức. 

Tinh Thần (Software)

Sau cùng, dù vấn nạn về phần “Vật chất” (hardware) vẫn là trở ngại lớn nhất do bởi đa số xem thường, không chịu tìm hiểu hoặc không có đủ kiến thức và trình độ để khai thác. Tuy nhiên, một khi đã hiểu rõ hay nhận thức được vấn đề rồi thì lại rất dễ dàng khắc phục, do kết quả hiển nhiên dựa trên thực tế kiểm chứng được bởi các phương pháp khoa học thực nghiệm. Ngược lại, về phần “Tinh thần” (Software) dù có mang đến sự tốt đẹp hay không, cũng là do phần lớn những thay đổi tư duy về giáo dục, rất khó thấy được kết quả liền mà phải cần một thời gian ít nhất là 1 hay 2 thế hệ. Chính vì vậy nên khó thực hiện và luôn gặp phải sự chống đối quyết liệt cuả các nhóm bảo thủ về giáo dục, không muốn thay đổi thói quen của tư duy hay những gì đang thụ hưởng. Một lần nữa, cần phải có sự quyết tâm thay đổi cuả những nhà lãnh đạo về giáo dục!

Muốn nói đến phần trí tuệ thì phải nghĩ đến hai kết quả mong muốn là kiến thức hiểu biết và tư duy sáng tạo. Có thể ví kiến thức hiểu biết giống như hạt ngọc trai được tích luỹ và kết tinh sau quá trình làm việc miệt mài với thời gian, nhất là không phải con Sò nào trong thiên nhiên cũng sẳn sàng cho ra ngọc. Tuy vậy, tích luỹ kiến thức dù có khó nhưng cũng còn dễ hơn gấp ngàn lần so với tư duy sáng tạo và có thể ví như đem hạt ngọc trai so với viên đá kim cương quý hiếm.

Con số thống kê trung bình cho thấy, phải có hàng ngàn khoa học gia thì mới mong có được một nhà khoa học xuất sắc ngoại hạng có công trình phát minh ra điều gì mới lạ hay sở hửu một vài bằng sáng chế. Nhưng đó là thống kê dành cho các cường quốc và không thể  nào áp dụng được cho Việt nam.  Lý do là vì con số thống kê cuả Việt nam nếu có, cũng phải đi theo sau một vài con số không ở phía trước! Do đó, để tìm kiếm giải pháp tối ưu thì không có cách nào hay hơn là trở về với lý thuyết căn bản cuả sự sáng tạo.

Làm sao để có nhiều những bộ óc sáng tạo? Cụ thể cho dễ hiểu hãy lấy thí dụ máy vi tính. Để có được giải pháp tối ưu nhiều khi máy tính phải chạy qua cả hàng trăm ngàn hay cả triệu phép tính, theo các kết hợp khác nhau. Tương tự như vậy, não bộ cuả một người thường xuyên tư duy bằng một chuổi liên tục những câu hỏi và trả lời. Mỗi câu hỏi cần một câu trả lời dưới dạng chung là những tín hiệu, tiêu cực (Âm) hay tích cực (Dương). Những câu trả lời có tích cực hay không là dựa trên những dữ kiện đã được lưu giữ trong tế bào nhớ cuả não bộ, kết quả cuả những năm tháng dài học hỏi và rút kinh nghiệm. Tích luỹ hết tất cả những tín hiệu trả lời cho ra càng nhiều “Dương” hay tích cực thì giải pháp càng gần với tối ưu, hay ngược lại là bế tắc không tìm ra giải pháp nào tốt hơn và đành chiều theo cái gọi là số phận hay định mệnh(!?). 

Sau cùng, nếu tiếp tục tư duy để tìm kiếm thêm những giải pháp khác lạ hay tốt đẹp hơn nữa, thì đó chính là bước khởi đầu cho sự sáng tạo. Cụ thể như một kỹ sư cơ khí về xe luôn tư duy và tìm cách để làm tăng khoảng cách di chuyển hay năng xuất cuả xe cho mổi lít nhiên liệu tiêu thụ, hay một công nhân trong xí nghiệp tìm ra cách để giảm chi phí cho nguồn vốn nguyên liệu. Như vậy không nhất thiết cần phải có một trình độ học vấn thật cao để có được những tư duy sáng tạo.

Sáng tạo là một kết quả cuả quá trình tư duy thường xuyên và hội tụ vào một chủ đề nào đó, do thói quen hay bản năng đã được huấn luyện.  Một thành quả nhân tạo nhiều hơn là thiên phú hay di truyền, dù di truyền có thể đã giúp khá nhiều trong giai đoạn đầu, qua cấu trúc cuả bộ nhớ tốt. Một cá nhân hay tập thể bình thường có thể được giáo dục và huấn luyện để có nhiều khả năng tư duy sáng tạo, rồi từ đó có thể giúp thay đổi vận mạng cuả chính mình hay cho cộng đồng xã hội chung quanh.     

Đi tìm một phương pháp tối ưu cho GDĐT.

Gần đây nhà nước VN đã bắt đầu thực hiện kế hoạch xây dựng một số trường đại học “đẩng cấp quốc tế” với mục tiêu góp phần đào tạo khoảng hai chục ngàn tiến sĩ trong vòng 12 năm(?) Nếu nhà nước hổ trợ và quyết tâm thực hiện với bất cứ giá nào, thì  hy vọng chắc chắn sẽ đạt được mục tiêu dù có kéo dài bao lâu hay chậm hơn thời hạn 2020 như đã lên kế hoạch.  Thế nhưng hãy nhìn vào thực tế một đất nước với dân số  khoảng chừng 100 triệu (vào năm 2020), dù có vài chục ngàn TS và trong lúc đại đa số nhân dân và đội ngũ công nhân hay chuyên viên yếu kém, thiếu khả năng tư duy sáng tạo, thì  kết quả cũng sẽ là một con số không đáng buồn. Giống như một đạo quân chỉ có tướng tài mà thiếu quân tinh nhuệ, chắc chắn sẽ bị thua trận trong các cuộc chiến về kinh tế toàn cầu này!

Chưa nói đến nạn chảy máu chất xám nếu những nhà khoa học thực tài với tư duy sáng tạo đó lại không được trọng dụng hay có được những phương tiện máy móc tối tân và cácthành phần cộng tác viên giỏi để cùng làm việc. Nếu không được như vậy thì chắc sẽ là “dọn cỗ cho người ta xơi” hết những nhân tài và tinh hoa cuả đất nước!  Nên nhớ về một quy luật lịch sữ không thay đổi là những nền văn minh lớn thường là nơi chốn tụ hội lại cuả các nhân tài trên thế giới.

Hiện nay các nhà tư vấn nước ngoài hầu như đều nhất trí với nhau là VN cần phải có một lực lượng nồng cốt chuyên viên trung cấp (2 năm cao đẳng) và cao cấp (4, 5 năm đại học) có khả năng và đủ tiêu chuẩn trên bốn ngành công nghệ mũi nhọn như : Máy và tự động hoá, Điện tử, Sinh Hoá và Tin học, để phát triển bền vững theo kịp với đà tiến bộ khoa học kỹ thuật cuả các lân bang láng giềng. Muốn được vậy, con số ước chừng phải có là từ 5 đến 10 % dân số hay ít nhất là khoảng 5 triệu vào năm 2020 (Ở Mỹ hiện nay là khoảng chừng 24 % chung cho tất cả toàn dân số). Suy ra từ đó,  không còn có cách nào khác hơn là phải khẩn trương cải tổ lại hệ thống giáo dục và đào tạo trong nước để đáp ứng với nhu cầu! Một thống kê sơ khởi cho thấy dù có tất cả gần 70 trường đại học và cao đẩng ở VN hiện nay, giả sử nếu đào tạo cho ra trường hàng năm khoảng 100 ngàn chuyên viên đạt chuẩn quốc tế thì cũng mất ít nhất là 4, 5 chục năm nữa.    

Trong vài năm qua, tất cả các nhà giáo dục uy tín trong nước đều có đưa ra một đề nghị chung là VN cần phải có một sự cải cách giáo dục toàn diện. Nhưng cho đến giờ, sau một thời gian dài nghiên cứu và sau khi bản dự thảo chiến lược giáo dục 2020 ra đời, cũng còn chưa thấy có một biến chuyển tích cực nào!  Ngay cả khi bộ GDDT đưa ra khuyến cáo là các giáo viên nên bỏ dần cách dạy “Thầy đọc – Trò chép”, thì cũng chưa thấy có ai đưa ra được một phương pháp mới nào hay hơn để thay thế.

Trở ngại chính cuả dân Việt suốt trong thế kỷ 20 vừa qua là phải chạy theo các mô hình giáo dục cuả nước ngoài mà quên mất, hay bỏ qua đi lời khuyên chí tình cuả tiền nhân về tinh hoa cuả giáo dục. Điều đáng ngạc nhiên là những bí quyết chân truyền về giáo dục cuả dân Việt suốt hơn hai ngàn năm và phải trả giá bằng “Máu và Nước Mắt” đó, thì chẳng có gì là cao siêu hay khó hiểu, mà lại nằm ở trong câu nói thường ngày cuả bất cứ người dân Việt nào, ở bất cứ đâu trên thế giới! Đó chính là câu nói cuả các bậc cha mẹ ...lo nuôi con “ăn học” nên người; và lời khuyên răn các thế hệ con cháu là phải....lo “học hỏi” cho đến nơi đến chốn! Suy ra thì bí quyết chân truyền cuả giáo dục Việt chỉ vỏn vẹn gồm có hai từ kép là “ăn học” và “học hỏi”, hay rút gọn lại thành ba từ đơn giản chính theo thứ tự sau đây là  Ăn – Học – Hỏi 

Ngạc nhiên? Nghi ngờ? Thắc mắc? Lịch sử con người chẳng phải đã làm đúng như vậy trong cả ngàn năm qua sao? Câu trả lời là: Đúng vậy! Chẳng có gì mới lạ cả. Nhưng cái khác nhau chính là cách làm, như đem so sánh cái ăn cuả người tiền sử sống trong hang động cách đây cả ngàn năm với cái ăn cuả người khách trong một nhà hàng sang trọng “5” sao tại một đô thị văn minh hiện nay. Chính vì nhờ cách làm khác nhau đó mà qua nhiều thế hệ, đã biến một trường học tầm thường thành ra trường có chất lượng đẳng cấp quốc tế.

Chuyện “ Ăn” thì đã trình bày rồi, chỉ xin nhấn mạnh thêm ở đây để tránh sự hiểu nhầm là cần phân biệt giữa ba trường hợp: Ăn cho no đầy bụng thì khác với ăn cho có đầy đủ các chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể khoẻ mạnh, có sức khoẻ tốt để làm việc. Nhưng quan trọng hơn hết mà dân Việt đang khẩn trương cần đến ngay không phải chỉ là ăn cho no, mà chính là ăn thế nào để phát triển tối ưu não bộ, nhất là cho công việc tái tạo sinh ra nhiều thêm các tế bào nhớ cuả bộ não.  Liên hệ và sự khác biệt giữa hai trường hợp sau khá phức tạp và dễ bị hiểu nhầm. Rất ít người hiểu rằng một trí tuệ thông minh thường dễ cho ra một sức khỏe tốt, hơn là chuyện làm ngược lại.

Trở lại với chuyện “Học” thì hầu như ai cũng có kinh nghiệm hay biết hết rồi. Tuy nhiên, nếu như ai cũng muốn bỏ cách dạy “Thầy đọc, Trò chép”, thì quả là một sự hiểu nhầm đáng trách. Bởi vì đó chỉ là một phương tiện giáo dục cơ bản không thể không xử dụng trong phương pháp dạy học. Ông “Thầy” ở đây không thể chỉ được hiểu phải là ông thầy bằng xương bằng thịt đang đứng trước lớp học,  mà còn có thể ám chỉ là cuốn sách, bạn học cùng lớp, cái máy tivi truyền hình hay ngay cả cái maý tính xách tay, v.v. Đó là cách để truyền đạt kiến thức từ một nguồn tri thức đến với học trò hay đến với một đối tượng khác đang tiếp thu. Tất cả thuần tuý chỉ là “một chiều”! Vấn đề chính là sau khi tiếp thu được kiến thức “một chiều” rồi, người nhận hay “Trò” sẽ xử lý như thế nào mới là điều đáng nói, và cũng chính vì vậy mới đưa đến thắc mắc để “Hỏi” 

Sau cùng, “Hỏi” mới chính là yếu tố quan trọng nhất để cho ra giải pháp tối ưu về GDDT. Có ba chủ thể: Thầy, Trò và Xã hội (Bao gồm luôn cả cha mẹ, bạn bè hay đồng nghiệp) như sau:

·       Thầy hỏi là để ôn lại khả năng và kiểm soát kết quả học tập cuả Trò. 

·       Trò hỏi là để tìm kiếm và tự học để tích luỹ kiến thức cho chính mình.     

·       Xã hội hỏi là để đánh giá thực tài hay để kiểm chứng lại khả năng cuả Thầy và Trò.

Tổng hợp cả hai cách “Thầy đọc, Trò chép” (TDTC) và “Tự Học Hỏi”(THH) đó theo đúng tỷ lệ tối ưu sẽ cho ra một nền giáo dục và đào tạo hoàn hảo có chất lượng như mong muốn. Cụ thể thí dụ như  một đề nghị sau đây để xét nghiệm: 

·       Tiểu học: (TDTC) 100- 80% /  (THH) 0 – 20%. Nghĩa là bắt đầu từ  mẩu giáo (TDTC) 100% / (THH) 0%, sẽ tăng / giảm dần đến lớp 5 là (TDTC) 80% / (THH) 20%. Tiếp tục:

·       Trung học cơ sở (Cấp 2): (TDTC) 80 – 70% / (THH) 20 – 30%

·       Trung học phổ thông (Cấp 3): (TDTC) 70 – 60% / (THH) 30 – 40%

·       Bậc Đại học: (TDTC) 60 – 40% / (THH) 40 – 60%

·       Bậc Cao học: (TDTC) 40 – 20% / (THH) 60 – 80%

·       Bậc Tiến Sĩ: (TDTC) 20 – 0% / (THH) 80 – 100%

Nếu có thể áp dụng đúng như trên đến Bậc Cao học Tiến Sĩ thì chắc sẽ không cần phải đi nhập cảng một chương trình giáo dục đào tạo nào ở nước ngoài. Tuy nhiên, nếu trong những bước đầu còn yếu kém về những kiến thức cơ bản thì cũng cần phải có những ông Thầy đủ tiêu chuẩn về chuyên môn để dìu dắt và hướng dẫn.

Bí Mật cuả Tư Duy Sáng Tạo

Cụ thể thí dụ: Hãy chọn một người có trí khôn trung bình và yêu cầu người đó cố gắng đặt ra 100 câu hỏi quy về một chủ đề chính nào đó, như “Trái Đất” chẳng hạn. Thời gian để đặt ra được 100 câu hỏi về chủ đề Trái Đất có thể làm cho đối tượng phải mất một thời gian khá lâu, chừng vài ngày, vài tuần lễ hay vài tháng (?), không thể biết chắc được. Nhưng điều có thể biết chắc được là sau khi làm xong 100 câu hỏi, đối tượng có thể có được một kiến thức chuyên sâu về Trái Đất, và biết đâu trong đó sẽ có một vài ý tưởng rất mới lạ và khác thường, được gọi là ý tưởng sáng tạo!  Như vậy, nếu muốn có nhiều công dân giàu tư duy sáng tạo, thì không có gì khác lạ hơn là huấn luyện những thế hệ trẻ có thói quen “Tự Học Hỏi” cùng với bản tính “tò mò tri thức” về khoa học. 

Ngày nay khoa học đã chứng minh “Vật chất” và “Năng lượng” chỉ là một sự thay đổi hay hoán chuyển hình trạng cuả sự vật, tuy hai nhưng vốn là một.  Chính nhờ vậy, có thể hiểu một cách tương tự cho “Chất xám” và “Trí tuệ” cuả loài người, hay nói cách khác, chỉ số cuả sự thông minh là một hàm số tuỳ thuộc vào mật độ và số lượng cuả các tế bào nhớ trong não bộ. Đồng thời, mật độ và số lượng cuả các tế bào nhớ cũng là một hàm số thay đổi theo tỷ lệ thuận với ba thông số: “Ăn”, “Học” và “Hỏi”!

Sau cùng và trên hết tất cả vẫn là những chứng nghiệm cuả lịch sử loài người: Sẽ không bao giờ có một xã hội thật sự Dân Chủ, Văn Minh và Giàu Mạnh, nếu như có một số nhiều (30-50%) công dân cuả xã hội đó vẫn còn bị đói, thiếu ăn hay suy dinh dưỡng trầm trọng.

Nguyễn Cường.

Sacto 10/2009

Nguyễn Cường quê Xóm Mới - Thị trấn Ninh Hoà.

Học Võ Tánh, Đại học Kỹ thuật Phú Thọ Sài Gòn.

Hiện là kỹ sư công chánh cho Departerment of Transportation, California - USA

Cùng tác giả

>> Trí tuệ Việt Nam : kỳ 1,  

>> Phản biện bài viết về vịnh Vân Phong trên ninhhoatoday.net

>> 9 cách để Nha Trang trở thành điểm hẹn quốc tế

>> Khủng hoảng hay chiến tranh

>> Khoa bảng, Trí thức và Nhân tài Đất Việt : Kỳ 1 kỳ 2

>> Bức Tâm Thư

>> Ngôn ngữ và Trí Tuệ : Kỳ 1 kỳ 2

>> Nguồn gốc của Âm Lịch và Tử vi : Kỳ 1 Kỳ 2 Kỳ 3

>> Sông Núi và Địa Linh Nhân Kiệt

>> Bàn về 2 chữ giáo dục

>> Đuốc thiêng Thế vận hội

>> Khám phá mới về dịch lý và ngũ hành : kỳ 1 kỳ 2 Kỳ 3

 

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net