QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÀY XUÂN NHỚ LẠI MỘT SỐ TỤC CỔ, NẾP XƯA

Nguyễn Man Nhiên

 

 

 

TỤc tẾt ông ChuỒng bà ChuỒng

Dân gian quan niệm rằng ông Chuồng bà Chuồng là những người khuất mặt cai quản các chuồng nuôi gia súc như chuồng heo, chuồng trâu. Ngày đầu năm phải đi tết cho họ để gia súc được phù trợ.

Sáng mùng một Tết chủ nhà lấy giấy vàng mã dán nơi chuồng heo và cắm cây nhang khấn vái. Riêng chuồng trâu, chuồng bò được lễ kỹ hơn. Chủ nhà sắm một mâm lễ vật gồm: bánh tét một đòn, mứt, bánh trái, rượu trà v.v… đặt lên chiếc ghế ngồi bên chuồng trâu. Chủ nhà cầm lá vàng bạc và hai tờ giấy in hình trâu và bò dán trước cổng chuồng. Nếu nhà nào có thuê đứa chăn trâu, nó phải được gọi đến đứng bên mâm lễ vật. Chủ nhà thắp hương van vái ông Chuồng bà Chuồng phò hộ cho đám trâu bò có các tên bầu, bí, xe, pháo, cộ v.v… (đọc kê cho đủ tên) và vái ba vái. Sau lễ tết trâu bò, mâm lễ vật này được giao cho thằng chăn bưng về nhà nó.

 

TỤC TẾt giẾng

Chiều ngày 30 Tết, các lu nước, ghè nước phải chứa cho đầy, bắt đầu xẩm tối đến sáng mùng một khi chưa tết giếng thì không ai được phép xách nước vì sợ động bà Thủy Long. Người dân quê rất sợ bà này, nếu ai vô ý chọc giận bị bà quở trách thì nguy to. Sáng mùng một Tết chủ nhà sắm mâm lễ vật đặt gần giếng khấn vái bà Thủy Long và con gái của bà, sau đó dán tờ vàng mã bên ngoài thành giếng. Chủ nhà lấy gàu dây múc nước lên để cúng nước đầu năm, lúc bấy giờ giếng nước mới được sử dụng bình thường.

 

TỤc tẾt cây trái

Ngày xưa ở các làng quê Khánh Hòa, trong vườn cây chỉ có dây trầu là được coi trọng nhất. Bởi người ta tin rằng Bà Bảy tức bà Bình Vôi là chủ trì cây trầu. Bà này tính rất hung hăng, nóng nảy và thích uống rượu. Ngày đầu năm tết cây trái phải dán lá vàng mã lên nọc trầu trước tiên.

 

Tuc khai trỐng làng đẦu xuân

Trước năm 1945, nhất là trong giai đoạn Nho học đang thịnh hành thì tục khai trống làng đón xuân rất quan trọng. Cho đến trước năm 1975 tục này vẫn còn duy trì trong các làng xã ở Khánh Hòa, tuy đã được giản lược.

Trời vừa hừng sáng, vị lý trưởng khăn áo chỉnh tề sai gia nhân bưng theo một mâm lễ vật đến đặt tại nhà làng. Trước tiên vị lý trưởng lấy hai câu đối chúc xuân cho làng xóm dán lên hai bên trụ cửa, tiếp theo đứng niệm hương khấn vái rồi lạy bốn lạy. Sau đó khởi đánh ba hồi chín nhịp trống chào đón xuân. Nếu làng có hát bội, khi nào nghe tiếng trống khai xuân khởi động xong, gánh hát mới được phép nổi trống chầu trống chiến.

Các câu đối dán ở nhà làng thường cầu chúc cho quốc thái dân an, xóm làng no đủ như:

Gia tường thế diễn vô cương khánh

Quốc thái thiên hoà bất lão xuân.

(Nhà vui đời đẹp mừng no ấm

Nước thạnh trời xuân mãi vui tươi).

Hay:

Hoa khai thôn lý thuần phong trị

Xuân đáo lương dân phước thọ trường.

(Hoa nở xóm làng gìn tục tốt

Xuân về dân chúng tuổi càng cao).

 

TỤc dỰng nêu, hẠ nêu, hỒi trỐng khai hẠ và đỘng thỔ

Hằng năm, đến chiều ngày 30 Tết nhà nào cũng lo dựng nêu đón xuân. Nêu dựng xong được cúng bằng nồi chè nếp, chè đậu hoặc chè khoai. Thời ấy có câu ca dao hát ru:

Cu kêu ba tiếng cu kêu

Cho mau tới tết dựng nêu ăn chè.

Trên đọt nêu treo một cái giỏ nhỏ đựng trầu cau và một tờ giấy hồng đơn lớn bằng bàn tay viết danh hiệu hai vị thần Uất Lũy và Thần Sầu để khu trừ loài cẩu quái.

Sáng ngày mùng 7 tháng Giêng, sau ba hồi trống làng, cây nêu được hạ xuống. Vị lý trưởng cầm cái cuốc ra sân nhà làng làm thủ tục động thổ cuốc xuống đất 3 cái, lúc này dân làng mới được phép ra đồng cày cấy.

 

TỤc gẠo đẦy Chum - cơm dành nỒi

Trước đây ở Ninh Hòa, bất cứ nhà nào dù giàu hay nghèo, chiều ngày 30 Tết phải đổ gạo vào chum cho đầy, nước uống cũng như thế. Nếu nhà quá nghèo không đủ gạo đổ vào đầy chum to, thì đựng trong cái hũ nhỏ hơn. Tục này có ý nghĩa là sang năm mới gia đình sẽ no đủ cơm gạo quanh năm.

Cơm dành nồi: sau bữa ăn không được vét hết cơm trong nồi, ít nhiều gì cũng để lại nửa chén, có ý cầu mong no đủ không đói kém.

 

TỤc đĂt tên trâu bò

Ngày xưa người đặt tên cho trâu bò phải chọn ngày tốt, con cái và con đực có hai loại tên khác nhau. Cũng như đàn ông con trai ít ai đặt tên Nguyệt, Hoa…, con gái không ai đặt tên Dũng, Hùng… Loài trâu bò cũng thế, con đực phải mang cái tên cộ, xe, pháo, mẫm, lướt…; con cái đặt các tên bầu, bí, lũ, bầy… Lũ trâu bò cũng rất biết tên chúng khi nghe thằng chăn gọi.

 

TỤc cỬ tên ông bà

Tục này đã có từ xưa tồn tại suốt trên ba thế kỷ, sau năm 1975 bãi bỏ dần dần. Con cháu phải biết tên ông bà cha mẹ để tránh đặt tên chồng lên, được thế là điều tốt. Tục này còn cấm con cháu nói đến tên ông bà, thậm chí phải nói trại sang âm khác. Ví dụ ông bà tên Chạy con cháu phải gọi là Nhảy, tên Thành nói là Thàng v.v… Khi cúng bái giỗ chạp phải vái cái tên thật nhỏ để con cháu khỏi nghe biết.

Tục này đưa đến hậu quả là ngày nay ở địa phương không mấy họ tộc lập được gia phả quá 4 đời!

 

TỤc đẶt tên con theo vẦn tiẾng lóng

Người thời xưa quan niệm khi đặt tên con nên tránh những mỹ tự nhất là con gái, bởi vậy đa số tên con cháu cách đây trên 60 năm rất ít có chữ lót. Nhiều gia đình đặt tên theo tiếng lóng trong khai sinh, có khi rất thô tục. Ví dụ như một bầy con được mang tên là: Xù, Xì, Xụt, Xịt, Cò, Kè, Cọt, Kẹt … Hoặc cha tên Bọt thì con tên Bèo, mẹ tên Xảo thì tên con là Láo, Xược v.v…

 

TỤc làm lỄ khai tâm cho trẺ sẮp đi hỌc

Đứa trẻ muốn đi học trước tiên phải làm lễ khai tâm. Lễ này có ý nghĩa làm phép khai thông trí tuệ cho trẻ. Nghi thức lễ khai tâm như sau: Đứa nhỏ được dẫn đến nhà thầy đồ, hương án được trần thiết bằng các lễ vật như nhang đèn, hoa quả, chè xôi, ngoài ra phải có con gà cồ giò luộc chín tréo giò cánh lên trên lưng. Đứa bé đứng bên thầy đồ trước hương án, thầy đốt hương khấn vái đức Khổng Tử và chư tiên hiền tiên nho, sau đó bảo đứa trẻ hai tay đỡ quyển sách, trên quyển sách có nghiên mực và cây bút lông. Thầy đồ dạy nó đọc theo từng 3 chữ một: Thượng là trên – Đại là cả – Nhân là người – Thiên là trời – Tứ là cho – Thông là rõ – Minh là sáng – Phù là giúp – Công là công – Dụng là dùng. Đọc xong thầy đồ và đứa nhỏ cùng vái lạy trước hương án 4 lạy.

 

TỤc cẦu đẢo khi thÔn Ấp có dỊch bỆnh

Ngày xưa do thuốc men còn thiếu thốn, mọi sự đau bệnh đều kêu cầu nhờ sự phò hộ của Trời Phật quỉ thần. Rủi năm nào làng xóm bị dịch bệnh đổ xuống, các làng đều tổ chức cầu đảo tại đình chùa miếu mạo do ban hương lý chủ trì. Có làng xã tổ chức cầu đảo đàn tràng tỉ mỉ thành lệ. Tất cả các hộ trong thôn đều lập hương án trước sân nhà, một ban hộ niệm được thành lập gồm những Phật tử biết nghi lễ tụng kinh. Trời vừa xẩm tối tất cả ban hộ niệm và nhân dân đã có mặt tại chùa làng, sau đó cầm theo chuông mõ tang nhịp đến từng mỗi hộ dân để tụng kinh niệm Phật trong khoảng 10 phút cầu nguyện cho được bình an. Khi đi qua các gò mả, đoàn người phải dừng lại tụng kinh cầu siêu chú nguyện cho số cô hồn lạc lõng, để họ đừng quậy phá xóm làng. Cuộc cầu đảo này kéo dài ba bốn đêm cho khắp mọi nhà dân.

 

TỤc cúng bà HẬu ThỔ

Xưa cứ đến ngày 18 tháng 3 âm lịch ở các làng xã Ninh Hòa nhà nhà đều có lễ cúng bà Hậu Thổ, còn gọi là cúng đất. Những nhà gần sông, trong lễ cúng có lễ thả bè thí cô hồn chết nước tức đám ma da. Ngày nay chỉ còn có làng Nghi Phụng duy trì lễ cúng Bà Hậu Thổ, còn các làng khác đã bỏ lệ.

 

TỤc cúng đỐ đỐt

Trẻ nhỏ bị bệnh “lạch ạch” kéo dài, đi coi ra thì bị tà thần “con sát” quấy phá. Người nhà mời thầy cúng lại và thiết lễ cúng trừ, sau lễ cúng người nhà bưng một mâm lễ vật gồm cua đồng, hột vịt, cá luộc, chè xôi đựng trên bẹ chuối đem đổ ngoài gò đống cho đám “con sát” ăn. Tục này đến cuối thập niên 60 bãi bỏ.

 

TỤc cúng ông ĐỊa

Người miền quê rất tin tưởng ông Địa, mọi việc nhờ vả kêu cầu gì người ta cũng nhờ đến ông, bởi vì thần địa chủ dễ dãi vui tính. Mọi người tin rằng ông Địa chỉ thèm đường “cứt ngựa” và bánh tráng nướng (đường “cứt ngựa” có hình bàu dục eo ở giữa, không biết tại sao ngày xưa lại đặt tên như thế). Van vái và trả lễ cho ông khỏi cần cúng bái rườm rà, chỉ cần để lễ vật trên bàn chong thêm cây đèn hột vịt và mời: “Mời ông Địa về ăn đường cứt ngựa với bánh tráng”, thế là xong.

Nếu cúng chè thì người ta chỉ nấu chè nếp, cử chè đậu đen vì ông Địa tưởng là chè nấu ruồi, cử chè bánh canh vì địa chủ tưởng nấu bằng trùn, cử chè xôi nước vì ông địa tưởng nấu chè bằng hột củ chi đắng nghét ăn có thể sình bụng. Cho đến ngày nay người ta vẫn tin là như vậy.

 

Nguyễn Man Nhiên

 

Bài cùng tác giả

 

>> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

>> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

>> Món ngon trên đời

>> Về địa danh Vịnh Vân Phong

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

>> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

>> Nếp xưa, Tết Việt

>> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

>> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

>> Đi tìm di tích Dinh xưa

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

>> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà

 

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net