QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngày xuân đọc lại câu đối tết của người xưa

 

TS NGUYỄN CÔNG LÝ

 

Trong tâm thức của người phương Đông nói chung, người Việt Nam ta nói riêng, Tết là một lễ hội trọng đại thiêng liêng. Theo chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên đất trời, mỗi dịp xuân về Tết đến từ giả trẻ, lớn bé, gái trai đều nô nức đợi chờ, mỗi người với một nỗi niềm chờ đợi riêng tư. Để đón Tết chỉ ba ngày mà người ta chuẩn bị từ giữa năm, như nuôi lợn gà; trồng cây cảnh v.v.. Để rồi từ hôm 23 tháng chạp, lúc đưa ông táo về trời thì nhà nào cũng dọn dẹp lau chùi trang hoàng nhà cửa, bàn thờ Tổ tiên, đánh bóng đồ thờ cúng v.v.. và đặc biệt là đối với những nhà khá giả, có chữ nghĩa phải có câu đối Tết. Xuân về Tết đến, có câu đối đỏ treo trong nhà thì thật trang trọng, thiêng liêng, mới tỏ rõ không khí Tết. Màu đỏ trong tâm lý của người phương Đông là màu của sự may mắn, hạnh phúc, tốt đẹp.

Câu đối có nguồn gốc ở Trung Hoa, gắn với văn hoá Nho giáo. Về đặc trưng thi pháp, đã là câu đối thì buộc hai vế phải đối nhau cân 

 

chỉnh, đặt theo lối câu song quan, câu cách cú, câu gối hạc của văn biền ngẫu với niêm luật chặt chẽ. Câu đối được viết ra với nhiều mục đích và ý nghĩa khác nhau. Có thể là ra vế đối để thử tài trí thông minh người khác, hay viết ra để tỏ chí, hoặc viết để chia buồn (phúng điếu) hay chia vui (hỷ sự) trong dịp hiếu hỉ, có khi viết để ca vịnh danh lam thắng cảnh sơn thuỷ hữu tình, hay đề ở nơi tôn nghiêm như lâu đài, đình chùa, miếu mạo, bàn thờ tổ tiên v.v.. và viết trong dịp xuân về Tết đến. Do vậy, về phân loại, có nhiều loại câu đối như câu đối tức cảnh (thấy cảnh gì thì đối ngay cảnh ấy), câu đối sách (lấy ý nghĩa, lấy chữ trong kinh sách mà ra vế đối cũng như đối lại), câu đối chơi chữ (dùng tiếng lóng hoặc chiết tự), câu đối tả chí (bày tỏ chí hướng, tâm sự của mình) v.v.. Vì thế, câu đối phải cô đọng, hàm súc và tinh tế thì mới có hiệu quả và đạt chất lượng nội dung tư tưởng lẫn nghệ thuật. Về hình thức câu đối, thường gặp các dạng: Câu đối đặt theo lối song quan gồm câu đối vặtcâu đối thơ; còn câu đối đặt theo lối cách cú hay gối hạc (hạc tất) hoặc dài hơn nữa thì gọi là câu đối phú.

Câu đối vặt còn gọi là câu tiểu đối, thường mỗi vế có 3 hay 4, đến 6 tiếng (dù câu đối 5 tiếng có trong thơ ngũ ngôn bát cú nhưng nếu đứng riêng lẻ, người xưa vẫn xếp là câu đối vặt, vì nó ngắn quá, chưa thể hiện hết ý nghĩa trang trọng của nó). Ví dụ như câu đối Trạng Quỳnh khi còn nhỏ đối lại vế đối của ông Tú Cát nêu ra: Trời sinh ông Tú Cát; Đất đẻ con bọ hung (cát: tốt; hung: xấu). Ở đây, ngoài nghệ thuật chơi chữ, vế đối lại của Trạng Quỳnh còn có ý phúng thích nữa.

Câu đối thơ là câu đối mà hai vế của nó phải đặt theo đúng luật của thơ thất ngôn quy định, tức mỗi vế có 7 tiếng như trong cặp câu thực, cặp câu luận của bài thất ngôn bát cú Đường luật. Chẳng hạn đây là câu đối của Tú Xương về cảnh Tết: Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo; Nhân tình bạc thế lại bôi vôi.

Câu đối phú là câu đối mỗi vế dài đến 8, 9, 10 tiếng có khi đến mấy chục tiếng, chẳng hạn như câu đối của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (vế ra) và của Chu Thần Cao Bá Quát (vế đối lại) có 65 tiếng (về câu đối này có tài liệu ghi là của Nguyễn Công Trứ viết ra để tự tổng kết cuộc đời mình); hay câu đối của Tam nguyên Yên Đỗ khóc vợ, có 34 tiếng.

 

Về câu đối Tết, trong văn chương Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại không thiếu. Ở Việt Nam ta, dịp xuân về Tết đến, các cụ nhà Nho thường chuẩn bị giấy bút và mài mực sẵn để viết câu đối. Chỉ nói riêng Uy Viễn Tướng công Nguyễn Công Trứ thì theo tư liệu hiện còn, trong văn học trung đại Việt Nam, có lẽ cụ là người viết câu đối Tết nhiều nhất (hiện còn đến 7 câu). Điều này có lý do bởi hoàn cảnh riêng của tác giả. Cuối năm ngoái (2008), Nhà nước tổ chức lễ kỷ niệm 230 năm ngày sinh và 150 ngày mất của cụ, nên dịp xuân về Tết đến, đọc lại đôi câu đối của cụ cũng là một cách để tưởng nhớ một bậc danh nhân.

 

 

Cụ Thượng Trứ hưởng lộc trời đến 81 mùa xuân, hơn nửa đời người (đến 42 năm) sống trong cảnh hàn vi, rồi 28 năm hoạn lộ thăng trầm, có lúc đạt đỉnh cao danh vọng cả văn lẫn võ nhưng cụ vẫn thanh liêm, lúc về hưu trí sĩ với hàm Thượng thư vẫn chỉ một vài tay nải, cưỡi con bò cái vàng từ kinh đô Huế về đến quê nhà Nghi Xuân, Hà Tĩnh chứ không ngựa xe, võng lọng gì. Nói chung, cuộc đời cụ Trứ là cuộc đời của kẻ sĩ thanh bần. Thế nên, những câu đối Tết được viết ra thường gắn với hoàn cảnh sống và cá tính của cụ.  

Về hình thức, những câu đối Tết của cụ viết toàn là câu đối phú, lại thuần Nôm, không có lấy một câu nào viết bằng chữ Hán. Năm cùng tháng tận, rồi Tết đến xuân về, nhà thì nhẵn túi, nhìn cây nêu cao, nghe tiếng pháo nổ, cụ ngậm ngùi:

Đuột giời ngất một cây nêu, hết túi ba mươi ri cũng Tết;

Vang đất đùng ba tiếng pháo, rạng ngày mồng một rứa là Xuân.

(Đuột giời: thẳng tuốt lên trời. Ri: thế này. Rứa: thế nọ, thế ấy, như thế. Đây là từ địa phương vùng Nghệ Tĩnh)

            Năm mới, về tâm lý, người đời thường cầu mong những điều tốt đẹp, may mắn đến nhà, cụ Trứ cũng không ngoài những mong ước ấy. Có điều, ngày Tết, nhà cụ có gì đâu ! Không rượu, cũng chẳng trang hoàng sắm sửa gì. Tiền đâu mà sắm sửa? Bầu rượu thì nằm lăn chiêng, nhà cửa thì tuềnh toành trống trải, nên theo cụ, vận may năm mới tha hồ mà ùa về, ngũ phúc mặc sức mà vào đến! Nhưng đằng sau câu chữ kia, dường như có chút gì trào tếu, lại ngậm ngùi, cười ra nước mắt:

Bầu một chiếc lăn chiêng, mặc sức tam dương khai thái;

Nhà ba gian bỏ trống, tha hồ ngũ phúc lâm môn.

(Tam dương khai thái: theo quan niệm xưa là thời vận hanh thông, tốt đẹp. Ngũ phúc lâm môn: năm phúc đến cửa, gồm: phú, quý, thọ, khương, ninh; tức: giàu, sang, sống lâu, khoẻ mạnh, yên ổn; chỉ năm mới được nhiều điều tốt lành, may mắn).

Cụ cũng mong ước như bao người, muốn xua đi cái nghèo, mong gặp nhiều điều tốt đẹp, dù trong hiện trạng nợ đòi khốn khổ:

Chiều ba mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra khỏi cửa;

Sáng mồng một rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông phúc đón vào nhà.

Ai đã từng gặp cảnh xuân về Tết đến, mà không một xu dính túi, nhà chẳng sắm sanh gì, con cái nheo nhóc, lại cảnh nợ đòi eo óc thì mới thấy thấm thía cái cảnh cùng quẫn mà cụ đã ghi lại trong câu đối trên! Chính vì thế mà khi Tết đến, cụ nhấm nháp suông một vài be rượu nhỏ để quên đời, quên nỗi khốn khổ nhọc nhằn, quên chuyện nợ đòi nhẵn mặt:

Tết có cóc gì đâu, uống một vài be củ tỏi;

Nợ đâm ương ra đó, nói ba chuyện cà riềng.

(Be củ tỏi: be đựng rượu có hình dạng như củ tỏi, để rót rượu cho tiện và dễ. Chuyện cà riềng: chuyện bao đồng, lòng dòng, con cà con kê)

            Và đón Tết trong một trạng thái tâm lý hờ hững:

Mồng một Tết, mồng hai Tết, mồng ba Tết, ờ Tết;

Buổi sáng say, buổi trưa say, buổi chiều say, cho say.

            Tuy công nợ rối bời, chủ nợ đòi tít mù nhưng cụ vẫn mong muốn ngày Tết kéo dài ra, và mười năm mới có một lần Tết đến. Sao vậy? Có lẽ là để khỏi bận tâm lo lắng nhiều, bởi lúc này nhà cụ quá nghèo:

Chiều ba mươi công nợ rối Mậu Thìn, những muốn mười năm dồn một Tết;

Sáng mồng một rượu chè say Quý Tỵ, trông cho ba bữa hoá mười ngày.

Còn đây là câu đối có lẽ được cụ viết khi còn là hàn sĩ nơi quê nhà, dù thi cử lận đận, cái nghèo lại lùng nhùng đeo bám, nhưng cụ vẫn không nản chí, trái lại vẫn cứng cỏi, đầy bản lĩnh và có cá tính. Nghèo mà vẫn sạch trong, tiết tháo:

Mua pháo đốt chơi, để anh em nghe có tiếng;

Giật nêu đứng lại, cho làng nước biết không xiêu.

(có tiếng; không xiêu: cần được hiểu theo hai nét nghĩa ; có tiếng: chỉ tiếng pháo nổ, đồng thời cũng là tiếng tăm, danh tiếng ; không xiêu: chỉ cây nêu đứng vững, đồng thời còn chỉ khí tiết cốt cách cứng cỏi vững vàng của nhà nho Nguyễn Công Trứ)

            Nói chung, trong văn chương trung đại Việt Nam, lực lượng tác giả thì nhiều, cũng có nhiều danh sĩ từng sống trong cảnh cùng quẫn nhưng có người nào viết câu đối Tết nói về hoàn cảnh của mình nhiều như cụ Thượng Trứ đâu! Cái lạ, cái riêng của cụ là ở chỗ đó. Sau Nguyễn Công Trứ hơn nửa thế kỷ, nhà Nho hàn sĩ Trần Tế Xương có lẽ còn túng quẫn, bức bách hơn cụ nhiều, và Tú Xương có nhiều bài thơ viết về cảnh nghèo, cảnh “van nợ lắm khi trào nước mắt” nhưng lại không thấy viết câu đối Tết nói về cảnh này. Chỉ có một bài hát nói đủ khổ ghi lại chuyện ngày Tết viết câu đối, còn nội dung câu đối thì nói chuyện phẩm giá hơn người, phong lưu nhất đời của ông, chứ không nói về Tết, cũng không thể hiện niềm mong ước của người viết, của vợ con gia đình trong năm mới. Giọng điệu bài hát nói hóm hỉnh, trào tiếu, vui vui có nét khác đôi chút với giọng thơ trào phúng của ông khi cười đời, cười người. Mở đầu là lời giới thiệu trịnh trọng “Nhập thế cục bất khả vô văn tự” (Vào cuộc đời không thể không có chữ nghĩa), cho nên “Ngày Tết đến cũng phải một vài câu đối”. Câu đối đã viết xong, được dán ngay lên cột, nhà thơ hỏi vợ “Hỏi mẹ mày rằng dốt hay hay?”. Bà khen câu đối hay. Cái độc đáo của câu trả lời là ở chỗ bà Tú không thẩm định, bình giá câu đối được viết ra theo tiêu chuẩn nội dung, chất lượng của câu đối mà lại theo tiêu chuẩn học vị của người viết ra nó “Rằng hay thì thất là hay, Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài.” và theo thói quen của bà “Xưa nay em vẫn chịu ngài”. Dù học vị tú tài ngày ấy chưa đủ để tiến thân, để triều đình bổ dụng chức quan !

            Chuyện câu đối Tết của người xưa thì nhiều. Ở đây chỉ nói lại vài ba câu để góp vui, giúp quý vị giải khuây cho qua ba ngày Tết mà thôi.

 

NGUYỄN CÔNG LÝ

         

Quê quán : Thanh Mỹ - Ninh Quang NH

PGS.TS. Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG TP. HCM

 

Bài cùng tác giả và liên quan

 

>> Hoài niệm tình quê

>> Nhớ quê qua mấy vần thơ

>> Phật giáo Việt Nam... 

>> Trần Nhân Tông với cảm hứng mùa xuân

>> Tú Xương viết câu đối tết

>> Bàn về Phật lịch

>> Lại chuyện khinh suất

>> Thân thế và sự nghiệp của Phó Giáo sư - TS Nguyễn Công Lý

 

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net