QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĂN GIỖ ĐI TRƯỚC…


1.
Ở nông thôn Khánh Hòa không ai mời đám giỗ mà lại nói giờ, chỉ đại khái: “Chiều nay mời anh đến nhà ăn giỗ” hay “Sáng mai… sáng mốt”, hoặc ngày âm lịch “Chiều mồng tám, sáng mồng chín…”, nhưng cũng không vì vậy mà có sự trở ngại về giờ giấc. Người ta biết rõ thói quen, sinh hoạt của từng gia đình, thậm chí còn biết gia đình nào thường hay nấu nướng những món ăn gì, thường làm những thứ bánh trái gì để “trước cúng sau ăn” trong ngày giỗ. Và đương nhiên người ta biết rõ giờ nào gia đình ấy tiếp khách để đến ăn giỗ cho thích hợp. Đối với những người ruột thịt cùng có trách nhiệm thờ cúng hay con cháu hàng dưới thì phải đến sớm, ít nhất là phải có mặt vào buổi chiều của ngày cúng “tiên thường”, tức là ngày mà người được cúng còn sống. Về sớm để cùng góp công, góp của làm sao cho ngày giỗ ông bà, cha mẹ, anh em quá cố - dù giàu, dù nghèo - cũng được “gói ghém đơm đủ”, không quấy quả, đại khái, qua loa. Các nàng dâu (con dâu, cháu dâu, bạn dâu) phải về sớm để cùng đăng bột làm bánh, phơi lá đãi nếp, đi chợ mua sắm… Các chàng rể (con rể, cháu rể, bạn rể) thì lau chùi bàn thờ, đơm bông, đơm quả, làm gà vịt, bày biện xôi thịt.

Còn với khách mời thì sao? Khách có thể nêu ra một lí do bận rộn gì đó để hỏi giờ. Nếu ngại không muốn hỏi, chẳng hạn được mời vào buổi chiều thì cuối giờ làm việc hãy đến sớm hơn một chút, không nên trễ quá. Đến sớm, khi gia chủ chưa cúng xong và chưa bày cỗ, khách có thể ngồi ăn bánh, uống nước, trò chuyện với các thành viên trong gia đình hoặc với bà con cùng đến ăn giỗ. Động tác này giúp ta tiếp cận, tăng thêm hiểu biết và đồng cảm lẫn nhau. Đến trễ, chẳng ai quở trách gì nhưng cũng gây cho chủ và khách sự khó xử. Xem ra câu ngạn ngữ “Ăn giỗ đi trước, lội nước đi sau” không chỉ là tính toán của kẻ khôn ngoan, mà trong đó còn gói ghém cái ý tứ của người lịch sự.

2. Một người có ý tứ bao giờ cũng “ăn coi nồi, ngồi coi hướng”. Nghĩa là không phải bạ đâu ngồi đó, mà phải biết chọn chỗ cho thích hợp. Tuy con cháu về dự đông đảo, ồn ào, nhưng chỗ ngồi để trò chuyện trước khi ăn và chỗ ngồi ăn đều có sự phân định rạch ròi, đặc biệt là với các “bạn dâu” ở vai con cháu, phụ nữ và các “bạn rể”. Trong nhà, dù được cất theo kiểu cũ hay kiểu mới, đều không có chỗ cho các “bạn dâu”, mà chỗ của họ thường ở bếp hoặc ở nhà dưới. Những phụ nữ có tuổi, có vai vế trong gia đình hoặc những phụ nữ là khách mời, tuy được xếp đặt ngồi ở nhà trên, nhưng là ngồi ở bàn nước, bàn trầu của gian dưới (gian tiếp giáp với nhà dưới). Một điều đặc biệt nữa là không được đi qua gian giữa tức gian thờ. Ngày giỗ cũng như ngày thường, phụ nữ trong nhà muốn lên gian giữa để quét dọn hay phục vụ ăn uống, nếu cửa giữa đóng thì phải vòng ra hiên rồi mới đi lên, còn nếu cửa giữa mở thì đi vòng ra sân rồi lên. Với các “bạn rể” tuy có chỗ ở nhà trên, nhưng cũng chỉ là chỗ đi, chỗ đứng để dễ phục vụ chứ không phải chỗ ngồi. Các bạn rể có thể ngồi ăn ở bàn trên, gian trên, nhưng chỉ sau khi các bậc hào lão, cha chú đã ăn xong và lên ván ngựa ngồi uống nước.

“Ăn coi nồi…” là biểu hiện của sự tinh tế, của tình thương và lẽ phải. Không phải cứ ngồi vào mâm là ăn cắm cúi cho thẳng bụng, mà phải để ý (coi) nồi cơm đầy hay lửng để còn nhường phần cho người khác. Đây không phải là chuyện khách sáo mà là một biểu hiện của văn hóa Việt Nam nói riêng và của phương Đông nói chung.

3. Ở quê tôi, mỗi khi cúng giỗ, sang hay hèn đều có vài cái bánh tráng nướng đặt trên bàn thờ. Vào tiệc, đầu tiên người ta mời “bẻ bánh tráng”, sau là mời cầm đũa, chứ không mời nâng li nâng chén như bây giờ. Tiếp theo là các món khô gọn như gỏi, chả trứng, thịt heo thái phay, vịt nướng, gà luộc… Gọi là đơn sơ theo lời mời của gia chủ, nhưng bàn nào cũng phải có con gà, đĩa thịt. Cũng có nhà quen cúng chay chứ không cúng mặn. Các món chay như bún bò, chả lụa, tôm chiên, gà xối mỡ... làm khéo giống y chang đồ mặn!

Điều đáng nói là khi ngồi vào bàn ăn giỗ, người ta không gắp thức ăn bỏ vào chén người khác, mà xem, nếu sự bày biện thức ăn không đều thì họ gắp chia ra cho đều và hợp lí. Thêm nữa, chủ nhà là người đứng dậy sau cùng, vì nếu chủ nhà thôi sớm, khách sẽ không thực tình ăn no. Cũng là để cho cuộc gặp mặt thêm đậm đà ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm tình… Ăn giỗ xong, lại còn “của gói đem về”, chủ nhà đã chuẩn bị sẵn những phần quà nhỏ là vài chiếc bánh ít, bánh in, vài ba thứ trái cây… đưa tận tay cho từng người.

Một người “có nết ăn nết ở”, trong ngày giỗ bao giờ cũng ăn nói khéo léo, thái độ cư xử chừng mực, tế nhị. Dầu cho thực lòng hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng gió, ác ý gì. Có người bảo ăn đám giỗ mà gặp được người hiểu mình, thì uống mấy cũng còn thấy ít. Cầm bằng như đụng phải đứa hay "kê tủ đứng" thì cho dẫu uống chỉ một chén, cũng không làm sao nuốt nổi.

Dân gian có câu “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Đi ăn giỗ không đơn giản như đi ăn tiệc hay đi nhậu. Ngày giỗ ở nông thôn còn là trường học, trường thi đối với nam nữ thanh niên “mới đầu làm rể” hay “bỡ ngỡ làm dâu”.

Nguyễn Man Nhiên

Bài cùng tác giả

 

>> Mỹ nghệ vỏ hải sản ở Nha Trang

>> Ngày xuân nhớ lại một số tục cổ, nếp xưa

>> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

>> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

>> Món ngon trên đời

>> Về địa danh Vịnh Vân Phong

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

>> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

>> Nếp xưa, Tết Việt

>> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

>> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

>> Đi tìm di tích Dinh xưa

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

>> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net