QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 11)

 

 

 

 Chương chín

THƯỞNG PHẠT về ĐẠO ĐỨC

 

I- ĐỊNH NGHĨA:

Biện pháp thưởng phạt hay chế tài (sanction) là toàn thể những sự khen thưởng và trừng phạt hoặc khiển trách mà cá nhân phải chịu khi hoàn thành bổn phận được tốt đẹp hay thiếu sót, sai phạm.

Việc thưởng phạt là công việc cần thiết, cụ thể hoá trách nhiệm trong khi thi hành bổn phận: làm tốt bổn phận tức là với ý thức trách nhiệm cao sẽ được khen thưởng xứng đáng và làm chưa tốt hoặc thiếu sót bổn phận do ý thức trách nhiệm quá kém cỏi sẽ bị trách phạt. Một khi sự thưởng phạt trong tập thể, cộng đồng kịp thời, chính xác và rõ ràng sẽ có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân và hoàn thiện ý thức đạo đức tức là ý thức làm người trong cộng đồng, xã hội. Khi có sự thưởng phạt, mọi hành vi đạo đức sẽ được thi hành thận trọng hơn dẫn đến những kết quả cao hơn.

 

II- PHÂN LOẠI THƯỞNG PHẠT:

Có nhiều hình thức thưởng phạt khác nhau và mức độ cũng vậy. Ta có thể chia làm 3 loại chính:

1/ Thưởng phạt cá nhân hay còn gọi là thưởng phạt bên trong hoặc thưởng phạt về đạo đức. Đây là loại thưởng phạt xảy ra trong tâm hồn mỗi con người diễn biến qua các tình cảm đạo đức như ăn năn, ray rứt khi làm điều xấu xa hoặc gây nên tội ác; thoải mái, vui vẻ, sung sướng khi làm được các việc tốt, việc thiện v.v... Nhiều người vẫn nhận ra được tình trạng cơ thể có sự gia tăng về sức khoẻ khi tác động của tinh thần sau khi làm những việc tốt ảnh hưởng đến thân xác.

2/ Thưởng phạt xã hội:

2.1- Khi ta làm điều tốt, điều phải đem lại những lợi ích thiết thực cho những người chung quanh hoặc trong cộng đồng, tập thể sẽ được dư luận đồng tình khen ngợi, kính trọng. Ngược lại, làm điều xấu xa, gây tác hại sẽ bị khinh bỉ, gièm pha v.v... Thí dụ: khi làm những thức nêm nấu hoặc thức chấm, những nhà sản xuất chắc chắn biết rõ dư lượng của những độc chất làm tăng độ đạm ảnh hưởng đến sức khoẻ và có khả năng gây ung thư. Nhưng họ đã im lặng tiến hành sản xuất và phân phối khắp nơi đặt ra ngoài vấn đề lương tâm đạo đức, trách nhiệm trước người tiêu dùng mà chỉ tham lam chạy theo lợi nhuận. Cũng cách như vậy, những người làm công việc kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm biết rõ hơn ai những tác hại do chất phụ gia làm tăng độ đạm nhưng do lương tâm yếu kém, hoặc chạy theo sự đút lót đã bỏ qua một thời gian dài việc công bố sản phẩm không đạt yêu cầu chất lượng. Và khi dư luận báo chí phát hiện cáo giác trên báo đài họ mới chống chế, tìm cách che chắn sai phạm. Như thế, họ phải chịu sự chê bai khinh thường của dư luận về mặt lương tâm và trách nhiệm.

Thưởng phạt do dư luận quần chúng nếu có bằng chứng rõ ràng là một bài học nghiêm khắc cho những kẻ thiếu lương tâm, thiếu trách nhiệm nếu không muốn nói là chưa có lương tâm và chưa có trách nhiệm.

2.2- Trước dư luận chính đáng, trước các số liệu hoặc bằng chứng rõ ràng về việc sai phạm, luật pháp xã hội có thể được dùng để định loại hình phạt các trường hợp sai trái có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến xã hội. Hình phạt do luật pháp xã hội có hai loại:

- dân sự: bồi thường thiệt hại do những việc đã gây ra.

- hình sự: chịu những hình phạt do toà án xét xử để đền bù tội ác và trách nhiệm đã làm.

Ngoài ra vì mặt thưởng của xã hội cũng có nhiều hình thức. Thí dụ: làm những công tác từ thiện đem lại lợi ích cho xã hội như xây trường học, xây cầu cho những vùng xa, hiến máu nhân đạo, xả thân cứu người v.v... sẽ được các đoàn thể, hiệp hội hoặc chính quyền khen tặng nhằm động viên những người khác noi theo và khích lệ trực tiếp người làm từ thiện. Dĩ nhiên bản thân người làm từ thiện đúng nghĩa là không chờ đợi sự khen thưởng vì đó là việc nghĩa mà người có lương tâm, trách nhiệm cũng như có của cải sẵn sàng làm.

3- Thưởng phạt siêu việt:

- Khi một cá nhân với ý thức đạo đức cao sẵn sàng làm những việc giúp đỡ, cứu người không hề sợ mệt nhọc, không chờ đợi sự ban thưởng mà chỉ vì đó là điều nhân nghĩa cần phải làm. Đó là những con người siêu việt. Gandhi của Ấn Độ là một điển hình. Tinh thần đấu tranh cho lẽ phải cho độc lập của Ấn Độ, cho sự công bằng, bình đẳng của ông là biểu tượng cho sự vĩ đại của một con người. Cũng không ngoa khi người Ấn đã tôn sùng và gọi ông là Thánh Gandhi (hiểu thánh là những người làm được những điều người khác không làm được với một sự toả sáng của đức độ).

- Ngoài ra, các tôn giáo thường đề cập loại thưởng phạt cho các hành vi đạo đức như thiên đàng, địa ngục, âm phủ v.v... Đạo Phật cũng cho thấy người làm những việc tốt lành sẽ được an lạc sẽ đạt niềm hạnh phúc vô biên ấy giống như uống trà chỉ những ai uống người ấy mới cảm nhận được. Đó là sự siêu việt nghĩa là vượt lên cái bình thường và khó dùng ngôn từ để diễn đạt được.

 

III- GIÁ TRỊ THƯỞNG PHẠT:

- Về mặt đạo đức cá nhân một người có ý thức đạo đức sẽ cảm thấy xấu hổ, ăn năn khi hành động sai trái. Và ngược lại kẻ không có ý thức đạo đức việc thưởng phạt không có tác dụng mạnh mẽ vào tâm hồn bị vẩn đục của họ.

- Về mặt xã hội, sự thưởng phạt sẽ có tác dụng răn đe, trừng phạt những việc sai trái, làm gương cho kẻ khác và tạo được sự công bằng cho xã hội.

Tuy nhiên một số quan niệm lại đặt vấn đề thưởng phạt dưới cái nhìn nghi vấn và ngược lại một số khác công nhận.

 A- Quan niệm phủ nhận thưởng phạt:

1- Cesare Lombroso, người chủ trương thuyết sinh lý không công nhận trách nhiệm cũng như thưởng phạt. Với ông, con người hành động là do truyền khiến của các cơ quan sinh lý từ bẩm sinh đã hướng ta tới điều thiện hoặc điều ác, cái tốt hoặc cái xấu. Quan niệm này gạt bỏ ý thức về đạo đức mà chỉ xem mọi hoạt động của con người có tính cách bản năng nên vấn đề trách nhiệm hoặc thưởng phạt không được đặt ra nữa.

2- Guyau (triết gia Pháp 1854-1888) trong tác phẩm "Phác thảo một nền đạo đức không nhiệm vụ và không thưởng phạt" (Esquissed' une morale sans obligation ni sanction) với nhiều lý lẽ đưa ra để cho rằng sự thưởng phạt không có hiệu lực với quá khứ và cả tương lai.

- Đối với quá khứ một con người, hình phạt không sửa được những tính xấu, tính ác của người phạm tội. Nhà tù cũng không hoán cải được tội nhân cho tốt hơn mà chỉ làm xấu thêm vì đầu óc căm ghét xã hội. Án tử hình không cho người có tội cơ hội để chuộc lỗi lầm. Vì vậy, những hình phạt không đem đến điều gì ích lợi trừ khi chính kẻ phạm tội tự phạt mình với tinh thần tự giác mới có cơ may sửa chữa lỗi lầm.

- Đối với tương lai, con người hành động vụ lợi sẽ lánh xa điều thiện. Làm tốt để được thưởng, tránh điều sai trái, điều xấu để khỏi bị trách phạt. Điều này sẽ coi nhẹ, hạ thấp ý thức tự giác khi hành động đạo đức.

3- Malraux (văn hào Pháp 1901), Grenier (nhà văn Pháp) và Albert Camus (văn hào Pháp 1913-1960) đều cho rằng dự một phiên toà như xem một vở tuồng có nhiều điều vô lý và giả tạo, máy móc áp đặt vào người phạm tội. Vì thế, họ xem thưởng phạt là những vấn đề giả tạo, máy móc.

4- Nhận xét chung về quan niêm phủ nhận sự thưởng phạt:

Ta thấy có nhiều điều cần phải bàn cãi, tranh luận vì những lý do sau đây:

a/ Sự thưởng phạt đạo đức trước hết dựa trên lương tâm của mỗi con người. Trong tâm khảm sâu lắng của mỗi con người, lương tâm vừa soi sáng, vừa phê phán mọi hành vi con người. Toà án lương tâm, tuy không thể mô tả đầy đủ về nó, nhưng những ai tự nhận mình là con người đều thấy nó vẫn hiện diện nhắc nhở, khiển trách khi mình có những sai phạm. Phủ nhận lương tâm là phủ nhận giá trị thiêng liêng về con người có lý trí, có tự do, có phẩm giá. Con người không hành động theo bản năng loài vật một cách máy móc mà làm có chủ ý dù là chủ ý đó bị mê mờ, lầm lẫn đưa đến hậu quả.

b/ Đối với xã hội, luật pháp và toà án tuy chưa phải là hoàn thiện nhưng rất cần thiết để duy trì an ninh trật tự trong cuộc sống. Luật pháp cũng phải bổ sung tuỳ hoàn cảnh hoặc phải sửa đổi khi không phù hợp. Toà án khi xét xử chắc chắn sẽ có những sai sót hoặc không phải bản án nào đưa ra cũng đều hoàn toàn chính đáng. Vấn đề là luật pháp và toà án đều do con người đảm nhận. Do đó, việc soạn thảo luật pháp luôn luôn được tu chỉnh, soạn phải chặt chẽ, hợp lý và tôn trọng con người. Việc xét xử đòi hỏi quan toà giỏi, nghiêm minh và nhất là phải công bằng. Thưởng phạt đúng tội, đúng người, xác đáng sẽ làm cho xã hội có qui củ, nề nếp và cuộc sống an ninh trật tự hơn.

c/ Chối bỏ thưởng phạt sẽ làm cho con người trở nên phóng túng, đạo đức trong xã hội sẽ hỗn loạn. Vì thế, việc giam giữ người phạm tội là để cho người có tội có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thấy được con người của mình. Dĩ nhiên, đối với kẻ vô luân, tàn ác, coi thường mạng sống kẻ khác và không có dấu hiệu ăn năn hối cải, việc giam giữ cũng là để bảo vệ trật tự công cộng dù nó không có giá trị đạo đức. Với các xã hội tiến bộ nhà tù không phải là địa ngục chôn vùi cuộc sống tự do của người phạm tội có dịp rèn luyện, tu sửa đạo đức trên tinh thần tôn trọng con người.

Do đó, sự thưởng phạt phải đạt đến công bằng, chính đáng để có tác dụng gìn giữ đạo đức, làm cho xã hội được bảo đảm an ninh trật tự. Một số quan niệm dưới đây sẽ bổ sung thêm việc công nhận thưởng phạt là cần thiết.

B- Quan niệm công nhận thưởng phạt:  

1- Leibuiz (nhà toán học và triết gia Đức 1646-1716) cho rằng sự thưởng phạt là cần thiết không phải là để nêu gương cho kẻ khác, để người phạm tội sửa chữa hoặc bảo vệ xã hội nhưng mà để phục hưng trật tự lý tưởng của các giá trị đã bị vi phạm. Việc đền bù tội lỗi đã phạm là để phục hưng các giá trị đạo đức.

2- Cuvillier cho rằng thưởng phạt là để nhắc nhở con người khỏi quên lãng và coi thường đạo đức. đạo đức có tính chất lý tưởng nhưng các qui luật của nó lại xác định cách cư xử trong điều kiện cụ thể của cuộc sống. Nếu không có thưởng phạt con người sẽ xa rời đạo đức, quên lãng qui luật đạo đức và dễ tiến đến cuộc sống không đạo đức.

3- Jaques Maritain (triết gia Pháp sinh 1882) quan niệm rằng vũ trụ là tác phẩm tuyệt diệu của Thượng Đế và việc hoà đồng, tôn trọng trật tự là để bảo tồn những gì Thượng Đế đã sáng tạo. Cá nhân phạm tội là làm mất đi cái đẹp và trật tự đã được tạo dựng. Sự thưởng phạt là nhằm bảo vệ cho cái đẹp và trật tự ấy đúng vị trí của nó.

Trừ quan niệm của Maritain ra có tính chất siêu hình và tôn giáo không thiết thực và ở phạm vi khác, chúng ta thấy quan niệm của Leibuiz theo khuynh hướng lý tưởng hoá các giá trị đạo đức, xem đó là mẫu mực và sự thưởng phạt để phục hưng giá trị đạo đức. Chỉ có quan niệm của Cuvillier rất phù hợp với quan điểm của các nhà đạo đức xem thưởng phạt là để con người sống có đạo đức hơn, sống không xa rời đạo đức. Và như thế sống có đạo đức là sống cho ra con người, sống có nhân tính. Thưởng phạt là để bảo vệ cuộc sống cộng đồng xã hội được an ninh và tốt đẹp hơn. Muốn vậy, việc giáo dục đạo đức rất cần thiết để người ta sống biết tôn trọng nhau, sống có trách nhiệm và có lương tâm hầu đưa xã hội đến chỗ văn minh, tiến bộ.

 

Chương mười

CÔNG BẰNG

 

Hằng ngày, chúng ta vẫn thường nghe nói đến từ "công bằng". Chẳng hạn mỗi đầu năm học, các phụ huynh đều mong muốn con em mình được xét tuyển công bằng để vào các cấp học từ tiểu học đến trung học, đại học. Người có nghĩa vụ đóng góp thuế má cho việc phát triển cộng đồng thì sẽ có quyền đòi hỏi được đi học đàng hoàng, được đi làm việc và quan trọng hơn nữa là quyền được đối xử công bằng. Ngược lại với khái niệm công bằng là bất công, là không có sự công bằng. Vậy thì công bằng là gì? Tại sao sống trong một xã hội đề cao đạo đức làm người phải có sự công bằng? Đó là những điều cần được trả lời dưới đây.

 

I- ĐỊNH NGHĨA:

Có nhiều định nghĩa về sự công bằng nhưng tựu trung ta có thể định nghĩa: Công bằng cốt ở chỗ trả lại cho mỗi người cái quyền họ được hưởng. Nói khác đi, công bằng là sự tôn trọng quyền của người khác và đối xử với họ trên tinh thần nhân bản.

Trong Luận Ngữ, Khổng Tử đã tóm gọn về cách thể hiện sự công bằng trong đời sống: "Điều gì mình không muốn, đừng làm cho người khác" (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Vệ Linh Công, XV, 23). Đó là lẽ công bằng dựa trên lương tâm trong các mối quan hệ thường ngày.

Sống trong xã hội có văn minh, luật pháp càng ngày càng rõ ràng, tiến bộ, ý thức và đời sống văn hoá ngày càng cao thì quyền làm người và các loại quyền khác của con người có phẩm giá phải được tôn trọng. Ngược lại, một con người có phẩm giá, có đạo đức cũng phải biết tôn trọng luật pháp, tôn trọng những giá trị của nề nếp đạo đức truyền thống xã hội. Với lại, sống là chung đụng, là "sống với" tha nhân và cộng đồng xã hội. Cho nên, tôn trọng người khác cùng sống chung và hưởng những lợi ích cộng đồng, xã hội là biết sống và biết làm người. Và khi đã biết cách sống cho đẹp và biết làm người tức là có ý thức về lẽ công bằng. Câu nói của ông thầy ngàn đời (Vạn thế sư biểu) bên trên có thể xem đó là định nghĩa cụ thể và là kim chỉ nam để sống sao cho có sự tôn trọng lẽ công bằng trong quan hệ giữa người và người.

Mỗi cá nhân và gia đình đều đóng góp công sức ít nhiều trong vị thế của mình cho xã hội. Do đó, xã hội cũng phải đối xử công bằng với cá nhân và gia đình thông qua luật pháp rõ ràng, các công trình dự án dân sinh và quốc gia phải minh bạch, công khai v.v... Đồng thời, khi mình có cuộc sống tốt đẹp, con cái học hành đàng hoàng là nhờ vào công sức của cộng đồng, xã hội. Vì vậy, khi mình có điều kiện cũng nên có ý thức chia sẻ, giúp đỡ những người còn gặp khó khăn trong cộng đồng. Đó là một hình thái của khái niệm công bằng. Một vị chánh án xét xử tội trạng minh bạch, rạch ròi, đúng luật pháp, người ta gọi đó là công lý tức là biết tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải, lẽ công bằng. Và vị chánh án đó xét xử với tấm lòng tôn trọng phẩm giá con người, tôn trọng luật pháp, xét đoán có lý, có tình một cách hài hoà, ta gọi vị ấy có công tâm tức là lương tâm chính trực, công bằng.

 

II- PHÂN LOẠI:

Công bằng thường được xem xét dưới hai khía cạnh: công bằng cá nhân và công bằng xã hội.

A- Công bằng cá nhân: Mỗi cá nhân sinh ra và lớn lên trong môi trường xã hội, đòi hỏi phải biết tôn trọng chính mình và những quyền mà xã hội cũng như luật pháp đã qui định.

B- Công bằng xã hội: sống trong xã hội có tổ chức, có luật lệ tiến bộ nghĩa là một xã hội văn minh đòi hỏi mỗi phần tử trong xã hội ở bất cứ vị trí nào phải biết tôn trọng quyền lợi của xã hội, của những người sống trong cộng đồng trên tinh thần tôn trọng luật pháp.

Aristote, triết gia Hy Lạp cổ đại, đã đưa ra một hình thức phân loại từ lâu đời và vẫn được nhiều nhà đạo đức ngày nay sử dụng và có thay đổi đôi chút cho phù hợp:

1- Công bằng giao hoán: buộc ta phải tôn trọng các giao ước giữa ta và người khác. Người nông dân làm ra lúa gạo cho xã hội thì người thợ điện, người làm việc xây dựng nhà cửa cũng sẽ đóng góp công sức mình theo ngành nghề chuyên môn cho xã hội trong đó có tiện ích cho người nông dân. Đó là sự trao đổi và chu toàn bổn phận với nhau trong xã hội. Người thầy ra sức dạy dỗ học trò cho tốt, cha mẹ học trò làm việc có tiền để đóng thuế trả công cho thầy giáo qua hệ thống nhà nước v.v...

2- Công bằng phân phối: là phân chia tài nguyên của xã hội đồng đều, hợp lý, rõ ràng (cấp đất ruộng cho nông dân cày cấy, cấp đất cho các hộ chưa có đất làm nhà v.v...) cũng như phân chia sắp đặt chức vụ, ban bố vinh dự, giao trách nhiệm xứng hợp với hoàn cảnh và khả năng của từng người theo sự phân cấp của xã hội. Một anh nông dân trình độ học vấn thấp, sơ sài không thể làm việc điều hành kinh tế, hành chính ở các cấp cao như quận, huyện và trên nữa thì tầm nhìn kém cỏi, trí thức yếu kém, chuyên môn sơ sài không được đào tạo bài bản và đúng thực chất sẽ không thể đem đến sự ấm nó, hạnh phúc, sự công bằng v.v... cho cộng đồng mình đảm trách vì vượt quá khả năng (thậm chí có khi rất nguy hiểm, gây tác hại khôn lường vì sự ngu dốt của mình!) Một vị chánh án kém cỏi, chưa có kinh nghiệm xét xử những vụ án lớn dù có học luật, ít nhiều biết luật nhưng chưa thấu đáo sẽ có những sai sót khi phán xét người bị tội dẫn đến sự oan uổng, không công bằng. Giao cho người có năng lực kém để đảm nhận chức vụ là một sự không công bằng. Xét tuyển, lọc chọn người có thực tài để đảm nhận công việc đúng chỗ, đúng khả năng là sự công bằng.

Do đó, loại trừ dần những bất công, đem đến sự bình đẳng là mục tiêu của việc đề cao công bằng xã hội. Xã hội nào càng có sự công bằng, bình đẳng trong giao hoán và phân phối, xã hội ấy được xếp vào loại xã hội tiến bộ và văn minh. Chẳng hạn các nước như Đan Mạch, Na Uy, Thuỵ Điển, Phần Lan v.v... được đánh giá là những nước mà sự phân chia tài sản, lợi nhuận quốc gia rất hợp lý và tốt đẹp. Thí dụ như việc bảo đảm giáo dục toàn dân được miễn phí từ mẫu giáo đến đại học, miễn phí và bảo hiểm sức khoẻ đầy đủ cho mọi công dân.

Ngày xưa, Khổng Tử thường bày tỏ mối lo âu của mình: "Không lo ít của, mà chỉ lo của chia không được công bằng" (Bất hoạn quả nhi, hoạn bất quân (L. N XXI, 1)). Vì thế, việc xây dựng công bằng xã hội để tránh hố ngăn cách giàu nghèo, mọi người dân đều được bình đẳng trước luật pháp và dần dần đẩy lùi bất công để cuộc sống mọi công dân đều được đối xử bình đẳng. Đó là điều mà mọi quốc gia có ý thức tiến bộ đều phải hướng đến.

 Dương Anh Sơn

Cựu GV trường TH Ninh Hòa

 

(Xem tiếp kỳ 12)

 

Cùng tác giả

 

>> VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

I KỲ 1  I  KỲ 2 I  KỲ 3 I  KỲ 4 I KỲ 5 I KỲ 6 I KỲ 7 I KỲ 8 I  KỲ 9 I  KỲ 10 I

>> Vài suy nghĩ về sự sành điệu

 

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net