QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM - BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Qua quá trình tìm hiểu, khảo cứu văn học và lịch sử trung đại Việt Nam, Phó giáo sư  - Tiến sĩ ngữ văn Nguyễn Công Lý đã phát hiện, nghi vấn, đặt lại một số vấn đề về mối quan hệ của các nhân vật lịch sử :

1/ Có phải Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha ?

2/ Có phải Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm ?

3/ Có phải Phùng Khắc Khoan là bạn học của Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm -   Phùng Khắc Khoan đã tham gia phủ chính, nhuận sắc văn bản Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ ?

Các nghi vấn này được TS Nguyễn Công Lý viết thành đề tài, báo cáo trong cuộc Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, tháng 12 năm 2008.

Web Khuyến Học Ninh Hòa sẽ lần lượt đăng các nội dung báo cáo trên thành nhiều kỳ. Kính mời độc giả đón theo dõi.

*****

PGS.TS NGUYỄN CÔNG LÝ

Có phải Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan

là anh em cùng mẹ khác cha ?

(Kỳ 2)

 Xin thưa, chúng tôi không phải là người đầu tiên nêu thắc mắc này, cũng như phản bác lại ý kiến khẳng định mối quan hệ anh em trên của hai vị. Trước đây, Nguyễn Quân trong cuốn Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã căn cứ vào câu “Bà (tức Nhữ Thị Thục, mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm – NCL chú thêm) vẫn không nguôi giận, bỏ về ở bên cha mẹ đẻ, cách ít lâu sau thì mất” trong bài Phả ký của Vũ Khâm Lân “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký” (Phả ký về Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt) mà khẳng định mẹ cụ Trạng Trình không phải là mẹ cụ Trạng Bùng (8). Tiếp đến, trong sách Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Bùi Duy Tân và Ngọc Liễn cũng đã đặt vấn đề thắc mắc về mối quan hệ này, có điều các tác giả đã lý giải vấn đề đó mà theo tôi là chưa thuyết phục lắm, khi viết “Trong thơ văn, Phùng Khắc Khoan không nói gì về người mẹ đẻ của mình. (…) Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn Phùng Khắc Khoan đến 38 tuổi, bà mẹ họ Nhữ khó có thể sinh một đứa con sau cách đứa con trước nhiều năm như thế. (…) Câu chuyện về bà mẹ họ Nhữ và việc gặp gỡ ngẫu nhiên, thú vị giữa Phùng Khắc Khoan và Nguyễn Bỉnh Khiêm chắc chỉ là huyền thoại, khó tin và có thực” (9).

Ý kiến trên của nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân và Ngọc Liễn vừa dẫn, ông Trần Lê Sáng trong công trình viết về cuộc đời và thơ văn Phùng Khắc Khoan có phản biện vì không đồng tình, nhưng theo chúng tôi, những ý kiến phản biện lại của ông Trần cũng vòng vo, không thuyết phục. Đó là chưa nói lập luận có chỗ nhầm lẫn (không chỉ ở chỗ này mà trong công trình trên còn có những sai sót khác, để tránh dông dài, tôi không nêu ra ở đây, hẹn sẽ nói kỹ trong bài viết khác, khi có dịp). Xin trở lại ý vừa trích dẫn trên. Thiết nghĩ, nếu một phụ nữ nào đó lấy chồng từ lúc 13, 14 hay 15 tuổi (người xưa có quan niệm “Nữ thập tam, nam thập lục” mà!) và năm sau sinh con ngay thì 38 năm tiếp vẫn có thể sinh con vì mới có dưới 53 tuổi, cái tuổi vẫn còn có thể sinh đẻ được. Cho nên viết như các tác giả vừa nêu là chưa hết lý lẽ.

Cũng xin nói thêm, Trần Lê Sáng trong sách Phùng Khắc Khoan cuộc đời thơ văn, NXB VHTT, HN, 2005, tại chương 2, mục 2, đã lẩm cẩm khi biện luận loanh quanh để phản biện lại ý kiến nghi ngờ của Nguyễn Quân và của Bùi Duy Tân khi các vị này thắc mắc về quan hệ anh em giữa Trạng Trình và Trạng Bùng, thì Trần Lê Sáng cho rằng “cần khảo cứu lại năm sinh của hai ông, nhất là năm sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm” (2); cũng ở trang này, Trần Lê Sáng đã khẳng định bà họ Nhữ lấy chồng lúc 20 tuổi (lại lẩm cẩm nữa !)

Ở đây, Nguyễn Quân, Trần Lê Sáng và một số nhà nghiên cứu khác, trong số đó có cả học giả nước ngoài như Trần Ích Nguyên ở Đại học Trung Chính, Đài Bắc, trong sách Tiễn đăng tân thoại dữ Truyền kỳ mạn lục tỷ giảo so sánh (10) v.v.. đều đã nhầm bài Phả ký viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm này là của Thuần Phủ Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp ký. Thật ra, cụ Vũ Phương Đề không phải là tác giả bài Phả ký này. Bởi theo lời Tựa sách Công dư tiệp ký viết vào năm 1755 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 16, đời vua Lê Hiển Tông, thì cụ Vũ Phương Đề đã chép lại toàn văn bài Phả ký trên của Vũ Khâm Lân vào sách của ông.

Vấn đề này, thiển ý của chúng tôi như sau:

Một là, cũng như Nguyễn Quân, chúng tôi căn cứ vào bản Phả ký trên của Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân cẩn thuật vào mùa đông năm Quý Hợi (1743) có chép trong sách Đại Việt sử loại tiệp lục, mà sau đó quan Thự Tham chính xứ Sơn Nam là Tiến sĩ Vũ Phương Đề đã sao chép lại nguyên văn bài ký trên vào sách Công dư tiệp ký (Ghi nhanh lúc rỗi việc quan) của ông, để khẳng định rằng, bà Nhữ Thị Thục thân mẫu cụ Trạng Trình sau khi giận chồng không biết dạy con, bà bỏ về nhà cha mẹ đẻ, ít lâu sau thì mất. Trong khi đó, để phản bác lại ý của Nguyễn Quân và của Bùi Duy Tân, ông Trần Lê Sáng có lập luận rằng: “Còn danh hiệu Từ Thục phu nhân của mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm thì chúng ta cũng đừng vội tin của bà nào, bởi lẽ thân phụ của Nguyễn không chỉ có một bà vợ” (11). Nếu lập luận như thế thì thử hỏi ông Trần Lê Sáng nghĩ gì khi chính cụ Vũ Khâm Lân đã khẳng định trong Phả ký “Thân mẫu họ Nhữ được phong Từ Thục phu nhân”? Cũng nên lưu ý, đây chỉ là hàm vinh phong của vua nhà Mạc khi cụ Trạng Trình ra làm quan cho triều đại này, chứ không có thực quyền, hơn nữa lúc ấy, các cụ thân sinh của Trạng Trình đã quy Tiên rồi. Trong bài Phả ký, Vũ Khâm Lân còn cho biết “Ông nội được tập phong là Thiếu bảo Tư Quận công; bà nội là Chinh phu nhân Phạm Thị Trinh Huệ; thân sinh được tặng phong Thái bảo Nghiêm Quận công; thân mẫu họ Nhữ được phong là Từ Thục phu nhân” (12). Và bài ký của Vũ Khâm Lân không có dòng nào viết về mối quan hệ anh em giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan.

Hai là, cũng trong bài ký trên, cụ Ôn Đình hầu còn cho biết vì bà “vốn người thông minh, học rộng văn hay, lại tinh giỏi cả môn tướng số”; “có chí hướng phò vua giúp nước của bậc trượng phu, muốn chọn một người vừa ý mới chịu kết duyên, nên đã chờ ngót 20 năm trời, khi gặp ông Văn Định có tướng sinh quý tử, bà mới chịu lấy” (trong bản Phả ký này, Vũ Khâm Lân còn ghi lại chi tiết bà gặp Mạc Đăng Dung ở bến đò Hàn thuộc dòng Tuyết Giang, mà bà đã than tiếc “Lúc trẻ chẳng gặp, ngày nay tới đây làm gì?” (13), cũng đủ rõ thêm cái chí muốn lớn lao của bà).

GS. Bùi Văn Nguyên trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 (thế kỷ X - giữa thế kỷ XVIII), xuất bản 1962 và Văn học Việt Nam thế kỷ X - giữa thế kỷ XVIII, xuất bản 1989 đã căn cứ vào lời trên mà cho rằng “cuối cùng bà lấy ông Văn Định, khi bà đã quá lứa, xấp xỉ tuổi 30. Mãi cho đến khi sinh ra Văn Đạt, bà vẫn ôm ấp hoài bão không tưởng của mình, cuối cùng bỏ chồng, bỏ con, đi lang thang, rồi trở về quê hương cha mẹ đẻ ở An Tử thượng”. Nhiều tài liệu cũ, trong đó có nhiều bộ văn học sử ở ngoài Bắc và trong Nam đều ghi rằng “cụ Nguyễn Văn Định nhờ nổi tiếng hay chữ, giỏi thơ văn nên quan Thương thư Nhữ Văn Lan gọi đến gã con gái luống tuổi cho” (14).

Chúng tôi cũng đồng ý với suy luận của GS. Bùi Văn Nguyên về tuổi tác của bà Thục lúc lấy chồng. Đồng thời xin bổ sung thêm, người xưa đã có tục tảo hôn và quan niệm rằng con gái 13, con trai 16 tuổi là có thể dựng vợ gã chồng, vì đủ trưởng thành về sinh lý (nữ thập tam, nam thập lục). Con gái bấy giờ mà luống tuổi có thể là ngoài 20 hay hơn nữa. Thân mẫu cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chờ ngót 20 năm trời”, như vậy, nếu làm phép tính giản đơn là: 13,14, hay 15 cộng với ngót 20 sẽ là 30 hoặc trên 30 tuổi. Bà ở với ông Văn Định, đến khi Nguyễn Văn Đạt (Bỉnh Khiêm) 04 tuổi thì bỏ chồng con ra đi. Vậy khi ấy ít ra lúc này bà cũng đã khoảng 35. Hãy chưa nói chuyện bà bỏ về nhà cha mẹ đẻ, mà nói việc có thể bà đi lang thang lên mạn Từ Sơn rồi gặp nho sinh họ Phùng, thấy người này phúc hậu, có tướng sinh quý tử, bà thổ lộ nỗi niềm rồi hai người gá nghĩa vợ chồng, đưa về Sơn Tây như truyện về Mai Lĩnh hầu (tước của Phùng Khắc Khoan lúc đi sứ lần thứ nhất trở về được vua Lê chúa Trịnh ban cho) đã chép mà ở trên có lược dịch, thì lúc này bà đã 35 hay ngoài 35 tuổi rồi. Giả dụ như khi bà lấy ông Định và lúc sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm thì bà đã 30, và khi bà lấy ông nho sinh họ Phùng để hơn ba chục năm sau sinh ra Phùng Khắc Khoan thì lúc lấy ông nho sinh này, ít ra bà cũng đã 35 hay ngoài 35. Mà theo sử sách chính thống ghi Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528, có nghĩa là cụ Trạng Trình lớn hơn cụ Trạng Bùng 37 tuổi. Chẳng lẽ khi sinh ra Phùng Khắc Khoan, bà Nhữ Thị Thục đã ngoài 70 tuổi ? Còn nếu cho luống tuổi, qua lứa là ngoài 20 đến 25 chẳng hạn, rồi bà mới lấy chồng và sinh con, thì khi bà sinh ra Phùng Khắc Khoan cũng đã 60 hay ngoài 60 tuổi. Với cái tuổi này, thể trạng người phụ nữ Việt Nam còn có khả năng sinh đẻ được không? Cho dù họ có thuốc tiên đi nữa!

Vì thế, căn cứ vào bản Phả ký của Vũ Khâm Lân, cùng với suy tính trên, chúng tôi hoàn toàn không đồng ý, không đồng tình với giai thoại, truyền thuyết dân gian đã lưu truyền và người xưa đã viết lại, khi cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha mà những tài liệu xưa nhất hiện được biết là Ký lục tiên tổ sự tích (Ghi chép sự tích tổ tiên) tại nhà thờ họ Phùng ở Phùng Xá và truyện Mai Lĩnh hầu thành mẫu chí truyện có chép lại trong sách Danh gia thi truyện tập. Cũng cần lưu ý rằng, hai truyện và ký nêu trên là do cháu nhiều đời của Mai Lĩnh hầu Phùng Khắc Khoan đã dựa vào giai thoại, truyền thuyết dân gian mà viết lại, để kể về sự tích tổ tiên mình, chứ chưa phải là lịch sử chính xác, mà giai thoại truyền thuyết thì rất khó tin là sự thật.  

Thiết nghĩ, cụ Vũ Khâm Lân thật có lý khi trong bài Phả ký về Nguyễn Văn Đạt (Bỉnh Khiêm), đã viết rằng bà Thục giận chồng, bỏ về nhà cha mẹ đẻ, cách ít lâu sau thì mất, mà không đá động gì đến chuyện bà Thục “bước đi bước nữa” với ông nho sinh họ Phùng ở Thạch Thất để sinh ra cụ Phùng Khắc Khoan, một nhân vật lỗi lạc đầu thời Lê trung hưng. Và có thể là hồi ấy cụ cũng đã có nghe lời truyền về mối quan hệ đó trong dân gian, chứ không phải là cụ né tránh việc này. Bởi bài Phả ký được cụ Vũ Khâm Lân hoàn thành vào cuối năm Quý Hợi 1743, tức sau khi cụ Trạng Trình đã quy Tiên đúng 158 năm; và cụ Trạng Bùng đã tạ thế đúng 130 năm. Trong bài Phả ký, Ôn Đình hầu có nói ông đến tận nhà, hỏi người cháu 7 đời của cụ Trạng Trình là Nguyễn Thì Đương để xem tộc phả, nhưng ông này lại đưa ra những trang giấy rách nát, chỉ biên danh tính tiền nhân, ngoài ra chẳng có gì khác. Cho nên họ Vũ đành phải “thâu thái ý kiến mọi người rồi hợp với những điều mắt thấy tai nghe trong lúc ngày thường để viết nên bài ký” (15). Như vậy, tuy không viết ra cụ thể nhưng cụ Ôn Đình hầu ngày ấy cũng không tin là giữa cụ Trạng Trình và cụ Trạng Bùng có mối quan hệ anh em cùng mẹ khác cha !

Kết luận vấn đề này của chúng tôi là quan hệ giữa cụ Trạng Trình với cụ Trạng Bùng chỉ là quan hệ Sư - Đệ (thầy – trò), chứ không phải là anh em cùng mẹ khác cha.    

PGS. TS. NGUYỄN CÔNG LÝ

 CHÚ THÍCH:

(1) Mai Lĩnh hầu thành mẫu chí truyện trong cuốn Danh gia thi truyện tập,Tự Đức, Giáp Dần, thư viện Khoa học Xã hội Hà Nội, ký hiệu VHv.2163.

(2) Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, Đại Nam Quốc sử diễn ca (1870), bản phiên âm Quốc ngữ, NXB văn học, HN, 1966, trang 171.

(3) Nguyễn Ngọc Kim, Danh nhân đất Việt, NXB Nam Hải, HN, 1951, quyển 2, trang 23.

(4) Quang Khánh, Chí hướng và hành vi của Trạng Bùng trong Văn hoá nguyệt san, Hà Nội, số 2-1952, trang 62.

(5) Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Giai thoại làng Nho (1963), mục từ Phùng Khắc Khoan, bản in lần 2, Nam Chi tùng thư, Sài Gòn, 1972, các trang 61 – 67.

(6) Lê Bá Sinh, Về làng Bùng tìm di tích Trạng, sách Danh nhân quê hương, tập 1, Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây, 1973, tr 75.

(7) Trần Lê Sáng, Phùng Khắc Khoan cuộc đời - thơ văn (viết xong 1984), NXB Văn hoá Thông tin, HN, 2005, ở chương 2, mục II: Gia thế, trang 67.

(8) Nguyễn Quân,Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sống Mới, Sài Gòn xb, 1974, tr 16. 

(9) Bùi Duy Tân và Ngọc Liễn, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, Ty Văn hoá Thông tin Hà Sơn Bình xuất bản, 1979, tr 14 và 96.

(10) Trần Ích Nguyên, Tiễn đăng tân thoại dữ Truyền kỳ mạn lục tỷ giảo so sánh, Đài Loan học sinh thư cục xuất bản, Đài Bắc, 1990, bản dịch của Phạm Tú Châu, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Thị Ngân, NXB VH, HN, 2000, trang 51.

(11) Trần Lê Sáng, sđd, trang 66.

(12)  Vũ Khâm Lân “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký” trong sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề, bd của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, Trung tâm Học liệu, Bộ GD, SG, 1971, tb 1973, trang 396.

(13) Vũ Khâm Lân, sđd, trang 397.

(14) Bùi Văn Nguyên, Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 (thế kỷ X - giữa thế kỷ XVIII), xuất bản 1962 và Văn học Việt Nam thế kỷ X - giữa thế kỷ XVIII, xuất bản 1989, trang 227 và 303.

(15) Vũ Khâm Lân, sđd, bản dịch, trang 411.

--------------------------------

 

Quê quán : Thanh Mỹ - Ninh Quang NH

PGS.TS. Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG TP. HCM

 

Bài cùng tác giả và liên quan

 

>> Có phải Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha (kỳ 1)

>> Ngày xuân đọc lại câu đối tết của người xưa

>> Hoài niệm tình quê

>> Nhớ quê qua mấy vần thơ

>> Phật giáo Việt Nam trong mối giao lưu – tiếp biến …  

>> Trần Nhân Tông với cảm hứng mùa xuân

>> Tú Xương viết câu đối tết

>> Bàn về Phật lịch

>> Lại chuyện khinh suất

>> Thân thế và sự nghiệp của Phó Giáo sư - TS Nguyễn Công Lý

 

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net