QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

HOME

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Qua quá trình tìm hiểu, khảo cứu văn học và lịch sử trung đại Việt Nam, Phó giáo sư  - Tiến sĩ ngữ văn Nguyễn Công Lý đã phát hiện, nghi vấn, đặt lại một số vấn đề về mối quan hệ của các nhân vật lịch sử :

1/ Có phải Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha ?

2/ Có phải Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm ?

3/ Có phải Phùng Khắc Khoan là bạn học của Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm -   Phùng Khắc Khoan đã tham gia phủ chính, nhuận sắc văn bản Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ ?

Các nghi vấn này được TS Nguyễn Công Lý viết thành đề tài, báo cáo trong cuộc Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ ba, được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, tháng 12 năm 2008.

Web Khuyến Học Ninh Hòa sẽ lần lượt đăng các nội dung báo cáo trên thành nhiều kỳ. Kính mời độc giả đón theo dõi.

*****

PGS.TS NGUYỄN CÔNG LÝ

CÓ PHẢI NGUYỄN DỮ LÀ HỌC TRÒ CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM ?

 (Kỳ 1)

 

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là một nhà tư tuởng - triết học lớn, một đại thụ của văn học Việt Nam thế kỷ XVI, còn Nguyễn Dữ (cuối XV – nửa đầu XVI) là tác giả cuốn “thiên cổ kỳ bút” Truyền kỳ mạn lục. Từ đầu thế kỷ XVIII đến nay, có rất nhiều tài liệu viết rằng Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Thực tế có phải như vậy không ? Bài viết nhỏ này sẽ bàn lại vấn đề trên.

1. Từ thế kỷ XIX về trước đã có nhiều sách xưa khẳng định vấn đề này như Đại Việt sử loại tiệp lục, trong đó có bài Phả ký “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký” (Phả ký về Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt) của Vũ Khâm Lân (nửa đầu thế kỷ XVIII); Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (giữa thế kỷ XVIII); Công dư tiệp ký tục biên mà có nhà nghiên cứu nêu nghi vấn tác phẩm này chính là Cát Xuyên tiệp bút của Trần Tiến ?; Tục Công dư tiệp ký của Trần Trợ (Trần Quý Nha) là con trai của Trần Tiến (giữa thế kỷ XVIII); Toàn Việt thi lụcKiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (giữa thế kỷ XVIII); Tang thương ngẫu lục của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ (nửa cuối thế kỷ XVIII); Hoàng Việt thi tuyển Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích (nửa cuối thế kỷ XVIII); rồi Lịch triều hiến chương loại chí - Mục Nhân vật chí Văn tịch chí của Phan Huy Chú (đầu thế kỷ XIX); (1) v.v.. Tất cả đều ghi “Nguyễn Dữ cùng với Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thì Cử, Đinh Thì Trung, Nguyễn Quyện … là những học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm”.  

Sang thế kỷ XX đến nay, Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu; Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, (thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII); Đinh Gia Khánh, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc San trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2 (thế kỷ X - thế kỷ XVII); Bùi Văn Nguyên với Lịch sử văn học Việt Nam tập 2 và Văn học Việt Nam thế kỷ X - giữa thế kỷ XVIII; Đinh Gia Khánh với Văn học cổ Việt Nam Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII; Thúc Ngọc Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm tập 1 và Lược truyện các tác gia Việt Nam; Lê Trí Viễn (chủ biên), Văn học trung đại Việt Nam; Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Truyện ngắn; Nguyễn Nam, Phiên dịch học lịch sử - văn hoá Trường hợp Truyền kỳ mạn lục (công trình này có dịch và đăng lại bài viết của M. Tkachov “Bậc thầy của những chuyện kỳ diệu sáng tạo từ đất Hải Dương”); Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (chủ biên), Từ điển văn học, Bộ mới, các mục từ viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm, về Nguyễn Dữ, về Phùng Khắc Khoan; Trần Lê Sáng, Phùng Khắc Khoan cuộc đời – thơ văn; Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Văn học trung đại Việt Nam, tập 1; Đoàn Thị Thu Vân (chủ biên), Văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X - cuối thế kỷ XIX) (2). Đó là chưa kể những bài viết trên các báo, tạp chí, các chuyên khảo v.v.. khi đề cập đến Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Dữ cũng đều cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm là thầy học của Nguyễn Dữ; và Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Những công trình nghiên cứu về Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục của các học giả ở nước ngoài như ở Nhật Bản có Xuyên Bản Bang Vệ “Truyền kỳ mạn lục tiểu khảo”, Nghệ văn nghiên cứu, số 27 (3), tr. 379; ở Trung Quốc có La Hoài “Nho học tại Việt Nam”; Trịnh Vĩnh Thường “Hán văn văn học tại An Nam đích hưng thệ”, Đài Loan Thương vụ ấn thư quán, thiên 4, chương 3 (4); Trần Ích Nguyên “Tiễn đăng tân thoại dữ Truyền kỳ mạn lục tỷ giảo so sánh”, chương 2, tiết 2, Đài Loan học sinh thư cục xuất bản, Đài Bắc, 1990 (5); ở Nga có M. Tkachov, Bậc thầy của những chuyện kỳ diệu sáng tạo từ đất Hải Dương (6) v.v.. Tất cả đều dựa vào tư liệu cổ ở ta mà tin theo và viết rằng: Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

            Có sự khẳng định như trên là vì từ nửa đầu thế kỷ XVIII cho đến nay, những người đời sau đều căn cứ vào văn bản “Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn công Văn Đạt phả ký” của Vũ Khâm Lân trong Đại Việt sử loại tiệp lục Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (Bài Phả ký của Vũ Khâm Lân được chép lại trong sách này của Vũ Phương Đề) là những tài liệu xưa nhất nói về mối quan hệ này mà cho rằng Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm và là bạn học của Phùng Khắc Khoan. Trong bài Phả ký, Vũ Khâm Lân đã viết: “Nói về môn sinh của ông sự thực không biết bao nhiêu mà kể, nhưng nói riêng những người đã có tiếng tăm lừng lẫy thì có những ông như Phùng Khắc Khoan, như Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ và Trường Thì Cử…, đều đã nhờ ơn truyền thụ, số học từng đi đến chỗ uyên thâm, và sau đều là những bậc danh thần thời trung hưng” (7).

Thực tế có phải như vậy không?

Đứng trước một khối tư liệu có thể nói là lớn và nhiều như trên (mà có thể chúng tôi liệt kê chưa đủ hết) để giải đáp một vấn đề rất nhỏ như tiêu đề đã nêu, thì có nên không? Việc chẻ sợi tóc ra làm tư có đáng hay không? Chúng tôi băn khoăn mãi, nhưng cuối cùng đành phải làm cái việc thật dại dột là đặt lại nghi vấn về vấn đề này. Mặc dù chúng tôi biết rằng mình là hậu sinh lại học thuật, kiến văn nông cạn, mà những tư liệu trên đều là của những danh sĩ lỗi lạc thời phong kiến, hay của những nhà nghiên cứu bậc thầy, của những vị giáo sư lỗi lạc thời hiện đại đã viết ra, thì làm sao mà phản biện cho được!

Đức Khổng Tử từng căn dặn đồ đệ “Tận tín thư bất như vô thư” (Hoàn toàn tin ở sách, thà không có sách còn hơn). Có nghi vấn này là nhờ bắt nguồn từ lời dạy trên của bậc Vạn thế sư biểu.

Chúng tôi thiển nghĩ, muốn đặt lại vấn đề đã được khẳng định và sàng lọc qua mấy trăm năm như trên, có lẽ cần trở lại tiểu sử lai lịch của hai cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Dữ. Về cuộc đời và tiểu sử cụ Trạng Trình thì đã rõ. Còn cuộc đời và tiểu sử Nguyễn Dữ hiện vẫn còn là khoảng trống, chưa được lấp đầy vì tư liệu xưa quá ít ỏi, chỉ có dăm ba dòng.

2. Trước hết, cần xác định lại năm sinh của Nguyễn Dữ.

Trên cơ sở tư liệu hiện còn, người đọc hôm nay chưa biết gì thêm về Nguyễn Dữ ngoài những thông tin mà các cụ xưa như Hà Thiện Hán trong Lời tựa sách Truyền kỳ mạn lục; Vũ Khâm Lân trong bài Phả ký ở sách Đại Việt sử loại tiệp lục; rồi Vũ Phương Đề, Trần Tiến, Trần Trợ đã viết lại trong sách của các vị. Đến Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục Toàn Việt thi lục; Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển Hoàng Việt văn tuyển; Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí v.v.. cũng có nhắc đến tiểu sử Nguyễn Dữ dù chỉ rất sơ lược.

Lời tựa Truyền kỳ mạn lục của Đại An Hà Thiện Hán viết năm 1547 là tư liệu sớm nhất có ghi chép về Nguyễn Dữ như sau: “Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi thi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội trúng Tam trường, từng được bổ Tri huyện Thanh Tuyền (Toàn). Mới được một năm, ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu, đến mấy năm không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này để ngụ ý” (8). Lời Tựa trên của Hà Thiện Hán đều có chép trong bản Cựu biên năm 1712 và bản Tân biên năm 1763, năm 1774, tuy còn sơ lược nhưng rất đáng tin cậy, bởi nó được viết lúc Nguyễn Dữ còn sống, và tác giả bài tựa lại là người sống đồng thời với Nguyễn Dữ.

Còn đây là thông tin của cụ Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục: “Ông người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, Hải Dương. Cha là Tường Phiêu, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), làm quan Thượng thư bộ Hộ. Nguyễn Dữ lúc còn bé thông minh lanh lợi, xem rộng, nhớ lâu, văn chương có thể nối dõi được gia phong, thi đỗ Hương cống, thi Hội nhiều khoa trúng kỳ đệ tam, được bổ Tri huyện Thanh Tuyền, làm quan mới được một năm, liền lấy cớ là xa nhà, xin từ chức về nhà hầu cha mẹ. Sau vì nguỵ Mạc cướp ngôi vua, ông thề không ra làm quan, sống ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ để chân đến thành thị. Về phần trứ tác có Truyền kỳ mạn lục 4 quyển, lời lẽ thanh tao tươi đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen” (9).

Cần lưu ý là hai thông tin cổ xưa trên của hai bậc tiên Nho danh tiếng không hề nói đến quan hệ thầy – trò, hay mối quan hệ thiết thân nào khác giữa Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Dữ.

Xin nêu lại ở đây ý phỏng đoán về năm sinh Nguyễn Dữ của nhà nghiên cứu người Nga M. Tkachov trong bài viết giới thiệu về Truyền kỳ mạn lục ở nước Nga, sau khi biện giải và thiết lập sơ đồ, M. Tkachov đã đi đến ức đoán: “Nguyễn Dữ  sinh khoảng 1496” (10). Đây cũng là năm thân phụ ông là Tường Phiêu (Phiếu) đỗ Tiến sĩ đệ tam giáp, lúc này ông Phiêu ở độ tuổi khoảng ngoài 20 đến 30, vì căn cứ vào sách Đăng khoa lục và sách Lược truyện các tác gia Việt Nam của cụ Thúc Ngọc Trần Văn Giáp mà biết. Còn việc Nguyễn Dữ thi đỗ Hương tiến (đúng ra lúc này phải là Hương cống), thi Hội nhiều lần trúng tam trường, có thể có ra làm quan Tri huyện được một năm và từ quan trước hoặc trong năm 1527, lúc nhà Mạc tiếm ngôi vua Lê. Lúc này, có thể Nguyễn Dữ đã ở tuổi ngoài 30 (vì thi Hội nhiều lần, mà triều Lê theo lệ cứ 3 năm mở một khoa, năm trước thi Hương, năm sau thi hội, thi Đình). Những ngày ẩn cư, cụ đã viết và hoàn thành bộ Truyền kỳ mạn lục gồm 4 quyển, mỗi quyển 5 truyện, cộng 20 truyện (11) từ năm 1527 và trước năm 1547 là năm mà Hà Thiện Hán viết lời tựa, sau đó Đại Hưng hầu Nguyễn Thế Nghi đã dịch Nôm.

Ức đoán suy luận về năm sinh Nguyễn Dữ của nhà nghiên cứu M. Tkachov, theo chúng tôi là có lý. Nếu quả đúng như thế thì Nguyễn Dữ chỉ nhỏ hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm khoảng 5 tuổi trở lại. Chúng tôi còn nghĩ rằng, cũng có thể Nguyễn Dữ được sinh ra trước đó vài năm, tức trước khi cụ Nguyễn Tường Phiêu thi đỗ Tiến sĩ dưới đời Hồng Đức Lê Thánh Tông (1496). Vì ngày xưa, các cụ thường lập gia đình sớm, nhiều người có con khi chưa đến 20 tuổi, mà gia đình Nguyễn Dữ là danh gia vọng tộc. Ông còn là con trai cả của cụ Thượng thư Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu (Phiếu) đời Lê sơ. Và như thế thì có thể Nguyễn Dữ bằng hoặc nhỏ hơn hay lớn hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm vài ba tuổi mà thôi, tức sinh khoảng năm 1490 đến năm 1495.

 

NGUYỄN CÔNG LÝ

(xem tiếp kỳ 2)

 

 

Quê quán : Thanh Mỹ - Ninh Quang NH

PGS.TS. Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Trường ĐHKHXH&NV-ĐHQG TP. HCM

 

Bài cùng tác giả và liên quan

 

>> Có phải Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha (kỳ 2)

>> Có phải Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha (kỳ 1)

>> Ngày xuân đọc lại câu đối tết của người xưa

>> Hoài niệm tình quê

>> Nhớ quê qua mấy vần thơ

>> Phật giáo Việt Nam trong mối giao lưu – tiếp biến …  

>> Trần Nhân Tông với cảm hứng mùa xuân

>> Tú Xương viết câu đối tết

>> Bàn về Phật lịch

>> Lại chuyện khinh suất

>> Thân thế và sự nghiệp của Phó Giáo sư - TS Nguyễn Công Lý

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi đến webmaster@ninhhoatoday.net