QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

 

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 12)

 

 

 

III- NHẬN XÉT:

Để có thể xây dựng được một xã hội công bằng phải lưu tâm chú trọng việc rèn luyện, đào tạo đạo đức con người song song với việc mở mang dân trí, nâng cao sự hiểu biết của các công dân. Việc giáo dục đạo đức cho thật tốt là để có được những con người biết nhận thức đâu là lẽ công bằng, đâu là cái đúng sai, cái tốt xấu, cái thiện ác trên tinh thần nhân ái, yêu thương cuộc sống của cộng đồng xã hội. Một khi được giáo dục tốt về đạo đức, biết phân biệt rạch ròi lẽ hay điều dở, lẽ thiện điều ác cộng với khả năng chuyên môn được giáo dục song hành thật tốt, có chất lượng thì các cá nhân ấy chắc chắn sẽ đủ khả năng gánh vác việc xã hội và đem đến sự công bằng khi làm việc cho dân.

Đừng bao giờ có cái nhìn ngây thơ, lầm lẫn sự phát triển và tăng trưởng kinh tế sẽ làm cho đạo đức con người được tăng trưởng theo. Hai việc ấy phải cùng nằm ở vị trí xuất phát là sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người có đạo đức thật sự, có ý thức làm cho xã hội giàu đẹp đúng đắn. Nói khác đi, làm giàu về kinh tế để người dân có đời sống ấm no. Và làm đẹp tâm hồn con người về văn hóa, đạo đức sống để cuộc sống được công bằng và văn minh. Ngày xưa ông cha chúng ta có nói: "Có thực mới vực được đạo" là câu nói đáng cho ta suy ngẫm. Việc đã có cơm ăn áo mặc dư dả mà "đạo làm người" chưa đạt được sẽ đưa đến nguy cơ mất cân bằng. Vì thế, nhiều xã hội dù cuộc sống từng bước khá lên và đầy đủ hơn về kinh tế nhưng sẽ làm mất đi sự công bằng vì có khoảng cách giữa nông thôn và thành thị không phát triển đồng đều, đời sống giàu và nghèo còn cách biệt.                                                              

Mặt khác, sự công bằng cần nói đến nữa la tôn trọng và trả lại những giá trị tốt đẹp của truyền thống đạo đức của dân tộc đã có từ lâu, trong đó là việc tu dưỡng đạo đức như lương tâm, trách nhiệm, ý thức lẽ công bằng rất cần thiết và không thể lẫn tránh. Đồng thời, mọi công dân trong xã hội phải thấy rõ sự sa sút về đạo đức của nhiều tầng lớp sẽ làm mất cân bằng trong sự phát triển xã hội. Từ đó những bất công có cơ hội nẩy sinh gây ra biết bao chuyện xấu xa. Vì thế, tình yêu đất nước phải có kèm theo sự thương yêu con người với một tấm lòng thành thật và luôn luôn mong muốn đất nước đi trên con đường văn minh tiến bộ và hạnh phúc. Muốn đạt đến những điều ấy, việc yêu chuộng và tôn trọng lẽ công bằng trong cuộc sống xã hội chính là một yếu tố then chốt. Hạnh phúc chỉ thực sự nở hoa khi đời sống thực sự tôn trọng lẽ công bằng cho mọi công dân.

 

Chương mười một

LÒNG NHÂN ÁI

 

Hằng ngày, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong các buổi họp, các hội nghị v.v... ta thường nghe đến hai từ "nhân ái", hoặc lời kêu gọi tinh thần "tương thân, tương ái". Đồng thời, chúng ta cũng thường đọc thấy các mẫu tin trên báo chí chẳng hạn: Công nhân, nhân viên công ty A, B... đã làm một nghĩa cử nhân đạo là hiến máu để giúp đỡ các bệnh nhân cần đến việc tiếp máu thông qua Hội Chữ thập đỏ; hoặc câu chuyện về những người nước ngoài tình nguyện giúp đỡ các em bị ảnh hưởng chất độc da cam ở các trại nuôi dưỡng v.v... Đó là những tấm lòng nhân ái đã biết chia sẻ, giúp đỡ những bệnh nhân trong các bệnh viện và các di hại của chất độc da cam – Hoặc mỗi lần sau các trận thiên tai như bão lụt gây nhiều thiệt hại cho các đồng bào, nhiều cá nhân đoàn thể đứng ra giúp đỡ, kêu gọi mọi người mở rộng lòng nhân ái v.v...

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có bài hát "Để gió cuốn đi" trong đó có câu: "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng..." cũng cho ta thấy sự cần thiết của lòng nhân ái mà ta quen gọi là "sống có tấm lòng". Như thế, hai từ "nhân ái" hoặc "tinh thần tương thân, tương ái" mà chúng ta thường nghe trong cuộc sống hằng ngày nên hiểu như thế nào? Thế nào là lòng nhân ái? Lòng nhân ái có những hình thức biểu hiện nào?

                                                    

I- LÒNG NHÂN ÁI LÀ GÌ?

Con người khi sống chung với nhau trong cộng đồng xã hội văn minh phải cần có lòng thương yêu, quí trọng và giúp đỡ những người chung quanh. Thể hiện tinh thần giúp đỡ những người đang gặp khó khăn đặc biệt liên quan đến sức khỏe đến hoàn cảnh do thiên tai bão lụt gây ra, do những hậu quả của chiến tranh để lại v.v... người ta gọi là tinh thần "tương trợ" hay là "tương thân, tương ái" nghĩa là cùng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn với tình thương yêu, đùm bọc, chia sẻ với nhau.

Nói khác đi, lòng nhân ái là tình thương yêu và quí trọng con người với tấm lòng của con người đối với con người. Thể hiện lòng nhân ái là thể hiện nhân tính, thể hiện tính cách của con người có suy nghĩ, có ý thức trong cộng đồng xã hội.

Khi ta quan sát đời sống bầy đàn của các loài thú, ta cũng nhận thấy ở loài thú cũng có tình yêu thương theo cảm tính, theo bản năng của chúng: hổ mẹ không bao giờ ăn thịt hổ con; khỉ mẹ bao giờ cũng để ý trông chừng con nhỏ dại, tập tành khỉ con làm quen núi rừng, hái trái, chuyền cành; đàn voi khi đi kiếm ăn có con bị sa lầy trong vũng bùn, các con to lớn mạnh mẽ trong đàn tìm cách cứu con kia v.v... Loài thú còn như thế huống chi là loài người và nhất là cùng tiếng nói, cùng một nguồn gốc tổ tiên, cùng chung lịch sử. Thể hiện sự giúp đỡ lẫn nhau tức là tinh thần "tương thân tương ái". Ong cha chúng ta ngày xưa qua tục ngữ, ca dao vẫn nhắc nhở:

"Lá lành đùm lá rách"

hoặc "Một miếng khi đói, bằng một gói khi no"

Của tuy tơ tóc, nghĩa so ngàn trùng".

Hoặc: "Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng".

Hoặc: "Bầu ơi! Thương lấy bí cùng,

Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn".

Cùng chung nhau "trong một nước", "chung nhau một giàn" là phải biết thương yêu đùm bọc lấy nhau. Và rộng ra, làm người là phải có lòng nhân ái, có lòng yêu thương con người không phân biệt là người nước nào, người nghèo, hay kẻ giàu. Con người cần phải yêu thương con người vượt lên mọi giới hạn nhỏ nhoi để có thể mang tinh thần nhân đạo đúng nghĩa. Danh từ "lòng nhân đạo không biên giới" mà nhiều tổ chức quốc tế thường sử dụng mang ý nghĩa này. Trước khổ đau, mọi con người đều bình đẳng. Những ai thực tâm có lòng nhân ái, thực tâm lo lắng cho con người chịu khổ đau và biết chia sẻ nỗi khổ của họ sẽ là những con người có lòng bao dung độ lượng và chắc chắn họ là những người có lương tâm cũng như ý thức trách nhiệm trước nỗi đau của con người ở bất cứ hoàn cảnh nào.

Từ thời xa xưa, dưới triều Lý, lòng nhân ái đã được đề cao. Câu chuyện vua Lý Nhân Tôn vào ngày đông thánh lạnh đã cho phát thêm áo ấm cho những người tù tội là một bài học lớn về lòng nhân ái. Nhà vua nói đại ý: "Ta ở trong cung đầy đủ thế này mà còn thấy lạnh, huống chi các người đang bị giam kia, có người chưa xét định tội, ăn mặc thiếu thốn sẽ bị lạnh như thế nào?" Đó là truyền thống yêu thương con người đã có từ lâu đời của dân tộc ta.

Trong tác phẩm "Gia huấn ca", được xem là một trong những tác phẩm chữ Nôm có giá trị và còn đến ngày nay được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là tác phẩm của Nguyễn Trãi đã mang đậm tinh thần yêu thương và quí trọng con người. Đặc biệt, những lời giáo huấn, dạy bảo con trẻ mang dấu ấn của tinh thần nhân ái Nho giáo. Tập thơ là biểu hiện tốt đẹp về truyền thống yêu con người mà các hiền nhân và cha ông chúng ta luôn coi trọng trong việc giáo dục thế hệ mai sau.

Tập "Nguyễn Trãi Gia Huấn" hay còn gọi là "Gia Huấn Ca" gồm có 6 bài thơ với 796 vế (Dạy vợ con 300 vế – Dạy con ở cho có đức 66 vế – Dạy con gái cho có đức hạnh 184 vế – Khuyên học trò chăm chỉ 104 vế – Dạy học trò cho phải đạo 114 vế – Vợ khuyên chồng 28 vế) được làm theo thể lục bát chen lẫn song Thất lục bát. Có lẽ lúc mới phối thái của thơ Nôm vần điệu chưa nhuần nhuyễn được truyền về sau người đời đã sửa chữa dần, uốn nắn nên mới đọc xuôi chảy như hiện nay.

Tinh túy của "Gia Huấn Ca" đã thể hiện truyền thống nhân ái là một nho sĩ thấm đượm tư tưởng Khổng Mạnh và tinh thần từ bi của đạo Phật như Nguyễn Trãi đã áp dụng vào việc dạy dỗ học trò, con cái. Với lòng đôn hậu, yêu thương con người thắm thiết, ông đã biến lời dạy dỗ thành ra nhẹ nhàng dễ tác động vào lòng người. Trong bài: "Dạy con ở cho có đức", Ức Trai tiên sinh đã lấy đức nhân làm cơ sở dạy con cái. Ong viết:

 

"Lấy điều ăn ở dạy con,

Dẫu mà gặp tiết nước non xoáy vần.

Ơ cho có đức có nhân,

Mới mong đời trị, được ăn lộc trời.

Thương người tất tả ngược xuôi,

Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.

Thương người ôm ấp trẻ thơ,

Thương người tuổi tác, già nua bần hàn.

Thương người quan quả, cô đau (đơn),

Thương người đói rét lầm than kêu đường.

Thấy ai đói rét thì thương,

Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.

Thương người như thể thương thân..."

 

(1: NGUYỄN TRÃI, Gia Huấn Ca, Thi Nham hiệu đính và chú thích, NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1953.)

"Thương người như thể thương thân" cùng với hàng loạt điệp ngữ "Thương người" cùng một số nội dung biểu đạt đã tóm gọn định nghĩa lòng nhân ái là thế nào rồi.

Ngoài ra, tinh thần nhân ái đó được Nguyễn Trãi củng cố sắc nét trong Bình Ngô Đại Cáo, tổng kết chiến thắng sau mười năm gian khổ chống quân Minh: ... "Lấy đạo nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân để thay cường bạo". "Chí nhân" là lòng yêu thương rất mực của con người đã vượt lên trên mọi tị hiềm, sự hận thù, phân cách, đố kỵ, bạo tàn (cường bạo). Đó là lòng từ bi của đạo Phật kết hợp nhuần nhuyễn với đức nhân ái của đạo Nho. Bài cáo ấy đã nêu cao lòng nhân ái cao cả và nó trở thành vốn liếng quí báu vô giá để chúng ta tiếp nối học hỏi và giáo dục cho các thế hệ sau này. Truyền thống nhân ái, thương yêu loài người của ông cha ta từng sống và áp dụng trong thực tiễn ấy cần được đề cao, cần được đưa vào việc giáo dục về đạo đức một cách hệ thống. Cuộc đời của các danh sĩ từ Nguyễn Trãi cho đến các bậc chí sĩ như Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Thượng Hiền, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng v.v... là những bài học sáng ngời về sự gắn bó của tinh thần "nhân, trí, dũng" của đạo Nho hay là "bi, trí, dũng" trong đạo Phật. Đó là những con người sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.

 

II- NHỮNG HÌNH THỨC CỦA LÒNG NHÂN ÁI:

Lòng nhân ái hay đức nhân là một trong những đức hạnh then chốt của tư tưởng đạo Khổng, Mạnh đã ăn sâu trong nhiều thế hệ người Việt Nam chúng ta từ lâu. Đó là đức tính căn bản của đạo làm người. Lòng nhân ái đã được Khổng Tử trả lời mỗi khi mỗi khác tùy vào người hỏi, tùy hoàn cảnh nhưng tựu trung vẫn là con đường của đạo làm người (hiểu chữ đạo như là đường lối, sự hướng dẫn hay đường đi đến). Chúng ta có thể kể một số hình thức sau đây:

 

    1- Nhân là lòng thương người:

Khi được hỏi về đức nhân là gì, Khổng Tử đã trả lời: "Nhân là thương người" (Phàn Trì vấn nhân. Tử viết: "Ai nhân" (L. N, Nhan Uyên, XII, 21). Như thế, "ái nhân" hay là lòng nhân ái, yêu thương con người và biết quí trọng cuộc sống. Đó là đức tính căn bản nhất, tràn đầy tính người nhất về đức nhân. Mạnh Tử, về sau lại khẳng định mạnh mẽ: "Người ta ai cũng có lòng không nỡ trước lòng nhân của con người khác" (Nhân giai bất nhẫn nhân chi tâm – M. T, Công Tôn Sửu, 6). Các vị thầy lớn ấy là những hiền nhân vững tin vào tính thiện của mọi con người và mong muốn người chưa tốt sẽ trở nên thiện lương. Chính vì thế, Khổng Tử đã nói: "Chỉ có bậc nhân mới thương người và ghét người đúng đắn thôi" (Tử viết: "Duy nhân giả năng hiếu nhân, năng ố nhân – L. N, Lý Nhân IV, 3). Thầy Khổng đã nhắc nhở: "Nếu quyết làm điều nhân thì không làm điều ác" (Cẩu chí nhân hĩ, vô ác dã – L. N, Lý Nhân IV, 4).

Như thế, lòng nhân ái là hướng đến điều thiện, cái tốt với một tình thương yêu mong muốn con người tốt hơn, tránh xa cái ác, cái xấu.

 

     2- Lòng nhân ái có được là do rèn luyện đạo đức:

Con người sinh ra, theo Mạnh Tử, là có tính thiện. Có tính thiện chưa phải là đã có lòng nhân, nó chỉ là đầu mối để có được lòng nhân. Và để có thể biết thương yêu con người thực sự tức là có đức nhân đúng nghĩa cũng như muốn giúp đời, trước hết phải rèn luyện bản thân cho có đạo đức; rèn luyện cho có đạo đức rồi mới có lòng nhân. Người có đức nhân mới là người biết thương yêu con người. (Tu thân dĩ đạo, tu đạo dĩ nhân. Nhân giả nhân dã – Trung Dung, 20).

Mặt khác, làm người cho ra người phải lo tu học vì rằng: "Có học mới nên khôn", có học mới phá vỡ sự ngu tối và để dân trí mở mang. Dân trí có mở mang, con người trong xã hội mới hiểu biết đạo làm người. Cho nên Khổng Tử đã nói: "Chuộng điều nhân mà không chuộng học hành sẽ bị cái ngu che lấp" (Hiếu nhân, bất hiếu học, kỳ tế dã ngu – L. N, Dương Hóa, XVII, 8). Người ra làm việc dân việc nước mà ngày xưa gọi là ra làm việc quan có lòng nhân ái tức là biết thương dân, lo liệu giúp đỡ cho dân. Phải làm trước những công việc của dân, phải chịu khó vì dân (Tiên chi, lao chi – L. N, Tử Lộ, XIII, 1). Đồng thời phải là người lo là lo trước, vui là vui sau thiên hạ, vui sau những gì đã lo cho dân. Đó là những người "có lòng" với dân thể hiện bằng hành vi thương yêu con người thật sự và bằng sự sáng suốt trong công việc, bằng sự rõ ràng giản dị trong các mối quan hệ, bằng hiệu quả của việc làm, bằng sự tiết kiệm bớt tốn kém công quỹ và tiền bạc dân chúng. Nghĩa là "chí công vô tư" và "cần kiệm liêm chính". Đó là những đức hạnh của người làm quan thuở xưa luôn luôn rèn luyện để xứng đáng là cha mẹ dân (phụ mẫu chi dân). Và làm "cha mẹ" có nghĩa là phải có lòng yêu thương con cái, yêu thương dân lành như người thân của mình. Cho nên, chưa có sự học hỏi, rèn luyện chưa thể ra làm việc nước, việc dân vì bị cái ngu dốt che mờ, theo cách dạy của Khổng Tử, dẫn đến nhiều sai lầm cho dù tấm lòng của mình trong sáng.

 

     3- Lòng nhân ái luôn đặt trong mối quan hệ giữa người và người:

Lòng nhân ái được xây dựng trong mối quan hệ giữa cá nhân và những người khác trong cộng đồng và rộng hơn là cả nhân loại. Đạo làm người của Nho giáo bao giờ cũng hình thành giữa mới quan hệ giữa người và người. Khổng Tử nói rằng người có đức nhân muốn nên thì cũng lo giúp cho người nên đã và muốn mình đạt đến (điều nhân), hãy giúp cho người cũng đạt được. (Phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân; kỷ dục đạt nhi đạt nhân – L. N, Ung dã, VI, 28).

Đồng thời, lòng nhân ái được thiết lập trên ý thức tôn trọng về lẽ công bằng giữa người và người. Điều gì mình không muốn làm cho mình cũng đừng làm cho người. (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân, L. N, Nhan Uyên, XII, 2).

Những người làm ra những sản phẩm độc hại chẳng bao giờ dùng những thức ấy. Họ chỉ biết đến lợi nhuận mà không kể gì đến ảnh hưởng của các chất độc hại đối với sức khỏe của biết bao người chung quan. Đó là những kẻ không có lòng yêu thương và tôn trọng con người. Mà người ta thường gọi là những kẻ "vô nhân", "vô lương tâm". Thiếu lương tâm còn mong cải thiện, chuyển hóa cho có lương tâm chứ không có lương tâm xem như không có nhân tính, không có lòng nhân ái. Đây là sự sa đọa của tình người. Nhưng sự đi xuống cùng sự thiếu vắng tình người nếu không vực dậy và chấn chỉnh sẽ là một lỗ hổng lớn về đạo đức cho các thế hệ mai sau ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội tương lai.

 

     4- Lòng nhân ái thường ở những người thật thà, mộc mạc, đơn giản:

Tính cách của những người gần gũi đức nhân theo kinh nghiệm trong cuộc đời cho thấy họ là những người chất phác thật thà, cương nghị. Dĩ nhiên không nên "xem mặt mà bắt hình dong" nghĩa là nhìn vẻ bề ngoài để đánh giá con người. Và kinh nghiệm cuộc sống cũng cho thấy được những người thường dùng lời nói không thật, trau chuốt vẻ ngoài, nói năng hớn hở thường kém về lòng nhân. ("Xảo ngôn lệnh sắc, tiển hĩ nhân". L. N, Học Nhi, I, 4 và "Cương, nghị, mộc, nột cận nhân" – L. N, Tử Lộ, XIII, 27) nói năng, bộ dạng vững vàng, nghiêm chỉnh, chất phác sẽ gần gũi với mọi người.

Nói khác hơn, mỗi hành vi, cử chỉ, lời ăn tiếng nói cũng nên khiêm tốn đơn giản. Việc rèn luyện đức nhân ở lời nói, cử chỉ cũng là một cách thức để nâng cao lòng nhân ái trở thành đức nhân đúng nghĩa. Đó là hình ảnh của những bậc "chính nhân quân tử" làm việc gì cũng rõ ràng giản dị, khiêm tốn, thật thà, mạnh mẽ thể hiện qua cách sống, cách nói năng của họ.

 

     5- Lòng nhân ái luôn gắn liền với nghĩa:

Đọc "Lục Vân Tiên" của cụ Đồ Chiểu chúng ta thấy hình ảnh chàng trai họ Lục giữa đường đi thi thấy sự bất bình đã ra tay cứu người. Đó là hành động hiệp nghĩa. Vì thế, người có lòng nhân ái mỗi khi thấy việc gì phù hợp với đạo nghĩa đã làm. Thấy việc nghĩa mà không ra tay không phải là kẻ có lòng nhân và dũng khí làm người. (Kiến nghãi bất vi, vô dũng dã – L. N, II, 24).

Con người sống ở đời cốt ăn ở có nhân, có nghĩa vì chỗ ở của kẻ làm người là ở nhân và đường đi đến đạo làm người là ở nghĩa khí con người. (Cư ô tại? – nhân thị dã; lộ ô tại? – nghĩa thi dã -  MT, Tận Tâm Thượng). Do đó, nghĩa là sự thể hiện trong thực tế của lòng nhân, mỗi khi gặp người hoạn nạn, khó khăn là sẵn sàng giúp đỡ. Ngày xưa hai tiếng "nghĩa hiệp" chỉ những người có lòng nhân mà lại nghĩa dũng nữa.

 

     6- Lòng nhân ái gắn liền với trí và dũng:

Sẵn sàng giúp đỡ người khi cần đến là nghĩa. Có đầu óc sáng suốt, không lầm lẫn khi hành động là trí. Giúp người mạnh dạn, không do dự, sợ hãi là dũng. Cho nên, với Khổng Tử, "Nhân-Trí-Dũng" luôn luôn kết hợp với nhau khi thi hành lòng nhân trong đời sống (Nhân giả: bất ưu; trí giả: bất hoặc; dũng giả: bất cụ – L. N – Hiến Vấn, XIV, 30, nghĩa là người có lòng nhân chẳng lo sợ; người có trí, có đầu óc suy nghĩ sẽ không lầm lạc; người có dũng khi không sợ hãi). Và dù có hành động can đảm hoặc suy nghĩ để hành động đều lấy đức nhân, lấy lòng nhân ái, tôn trọng, yêu thương con người làm nền tảng.

Thêm vào đó, những người có đức nhân thực sự phải là người có nhân cách. "Cách" là cách thế, cách thức làm người thể hiện trong các mối quan hệ giao tiếp, cư xử mọi lúc, mọi nơi. Cho nên, người xưa nói những ai là "đại trượng phu" tức là đáng mặt làm người vì có nhân cách. Đó là những con người mà khi giàu sang, phú quí cũng giữ được mình không ham muốn phóng túng; gặp khi nghèo khó lòng vẫn giữ được liêm sỉ, tiết tháo; đứng trước cường quyền, sức mạnh không hề sợ hãi, khuất phục (Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất – MT – Tận Tâm Thượng, Đằng Văn Công cú hạ, 2).

 

Dương Anh Sơn

Cựu GV trường TH Ninh Hòa

(Xem tiếp kỳ 13)

 

Cùng tác giả

 

>> VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

I KỲ 1  I  KỲ 2 I  KỲ 3 I  KỲ 4 I KỲ 5 I KỲ 6 I KỲ 7 I KỲ 8 I  KỲ 9 I  KỲ 10 I KỲ 11 I

>> Vài suy nghĩ về sự sành điệu

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com