QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỖ CÔNG QUÝ

 

MỘT VÀI THÚ TIÊU KHIỂN Ở NÔNG THÔN NINH HÒA

(kỳ 2)

 

DỤNG CỤ ĐI CÂU

Người đi câu cần có : cần câu, đụt đựng cá, gáo lon đựng mồi, cuộn cước, lưỡi câu dự trữ dự phòng. Mồi câu có thể là con trùn, tép tôm, cơm cán nhuyễn với nghệ hay trộn với cám rang, bắp thơm giã lớ nhuyễn.

Cấu tạo một cần câu : cần bằng tre trúc, phao, chì, cước và lưỡi câu.

- Tre, trảy chỉ, trúc núi huyện Ninh Hòa hay trúc núi huyện Madrăk Khánh Dương (cũ) là vật liệu được làm cần câu được yêu thích nhất. Tre trúc phải dùng lửa hơ đốt để uốn đầu để ra dáng cần câu, vừa thẫm mỹ, vừa giựt êm khi có cá.

- Phao thì dùng các loại nguyên vật liệu cây cỏ hay lông thú. Cây cỏ có cây điên điển, cờ cây bắp, ngòng cây đót làm chổi, hay gọt xốp công nghiệp dài 16cm, ở giữa bẻ vuông góc dài 0,8mm, túm 4 thanh đầu lại bằng chỉ hay bằng cước và có một vòng cột ở trung tâm chiều dài thì phao mới đẹp. Về lông thú có phao bằng ngòng lông công.

- Chì thì đúc : dùng dao dùi một lỗ trong đất làm khuôn, khuôn cao cỡ 2cm đến 2,5cm, đường kính to nhỏ để tạo viên chì nặng nhẹ tùy sở thích người đi câu. Trung tâm lỗ đặt một cây tăm nhan vuốt tròn. Chì lấy từ   những miếng chì tháo ra từ các tấm lưới rách, bỏ chì miếng vào lon sữa bò để nấu. Lon sữa không này bóp một cạnh hình mỏ quạ, chiếc mỏ này dùng để rót chì và phải chuẩn bị một chiếc kềm để nhắc chì từ lon nấu đổ vào khuôn khỏi bị phòng bỏng tay. Đốt lửa lên nấu chì, chì tan ra và nấu sôi ở nhiệt độ từ 1000C đến 1200C, dùng kềm nhắc lon nấu đổ vào khuôn. Phải giữ chân nhan lỗ khuôn cho chính tâm để viên chì đúc khỏi méo lỗ, nếu vì lý do nào đó bị vướng làm lệch cây tạo lỗ thì phải đúc chì lại và đổ khuôn lại, đúc đến khi nào có viên chì câu cá vừa ý thì thôi. Có thể đúc một lần 1 đến 2 viên, nếu chì nhiều thì đúc nhiều viên để cho bạn bè hay trang bị cho nhiều cần câu cùng một lúc. Chì đúc thì sử dụng chì lưới cá, tuyệt đối không đúc đầu đạn viên có thể gây chết người. Viên chì được đúc có dáng còn thô, phải mài dũa cho có một đầu nhọn một đầu tà, rút cây chân nhan tạo lỗ ra là các em có một viên chì vừa ý để xỏ tra vào dây cước cần câu.

- Cước cột từ đầu cong của cần câu, cột rút và cuốn thành nhiều mối giữ chừng 15 vòng. Chỉnh dây câu phải nằm trung tâm nhiễu xuống thuận theo chiều cong của cần câu. Cột lưỡi ở đầu dây cước còn lại cước có độ dài tùy thích hoặc bằng chiều dài của cần, hoặc dài hơn nhiều lần chiều dài cần câu.

Cột lưỡi, là cột mối rút ta bẻ quật chiều dài tính từ dưới lên trên chừng 15cm dán dính gập song song với lưỡi câu thanh có gờ, dùng ngón trỏ và ngón cái của tay phải quấn từ dưới lên tới gờ tựa của lưỡi câu, quấn chừng 7 đến 10 vòng, mối còn dư xỏ vào lỗ hột gạo của dây cước xếp gờ lúc trước, dùng răng hai hàm cắn đầu cước dư này giữ chặt, một tay bàn trái nắm giữ lưỡi câu chì cố định, còn bàn tay phải rút sợi cước dài nối lưỡi với cần. Hệ thống cước và lưỡi sẽ được rút đẹp và giữ cố định. Cột lưỡi câu chì thì cột theo cách duy nhất này mà thôi. Các cách cột lưỡi câu khác cách nêu trên đều sai, sẽ gây tuộc lưỡi câu khi cá dính lưỡi câu.

Tính từ đầu cần câu xuống cuối cần câu thì đầu cần phải có ngù cản cước khỏi tuột mối. Xuống dưới là chiếc phao, đuôi phao phải xỏ một sợi cước nằm ở trung tâm, khúc cước này dài chừng 12cm và cột vào sợi dây câu chính. Dưới nữa là chì đúc, chì đúc cách lưỡi chừng 15cm đến 20cm đừng để chì câu sát lưỡi câu quá, nếu sát lưỡi câu thì cá ở trong nước tưởng chì là mồi câu cứ chuyên tâm vào đớp chì, vẫn làm phao lay động nhưng giựt thì không có cá và mồi còn nguyên. Khi cột chì vào dây cước cần có một vòng gờ để giữ viên chì ở cự ly cố định, không tuột xuống. Dưới cùng là lưỡi câu .

Tất cả các loại cá đều thích mồi trùn. Và câu nói kinh nghiệm của người xưa “Muốn câu cá phải thả dây dài”, điều này đúng với các kiểu cần câu dây dài thuộc hệ câu cá nước ngọt và có thể cả câu cá biển hệ cá nước mặn . Và loại cần câu dĩa quay (cước, cáp) có thể là loại cần câu mà người xưa chiêm nghiêm để đúc kết nên câu nói mang tính triết học trên. Người đi câu dĩa là những nghệ nhân nghệ sĩ một khi đã đạt đến trình độ tâm ý trong nghề câu, họ có thể nhìn màu nước, thế đứng câu, quăng mồi chì như thế “ quăng khiêu vũ và câu trên vũ điệu “, cách giữ con mồi đã dính lưỡi câu, khi dãn ra, khi buộc vào để rồi sau cùng là bắt được con cá lớn mà không bị sẩy.

             

 

            CÂU CÁ RÔ

Câu cá rô, cá trê, cá rô phi, cá trèn, cá bống thuộc hệ nước ngọt rất thích các loại mồi bằng trứng kiến, mồi trùng chỉ, mồi bắp, mồi bánh mì.  Ngày nay các em dùng bánh mì làm mồi: lấy ruột bánh mì, giã nhuyễn rồi cùng vắt thành hình khối dài để dễ cầm vào lồng bàn tay mỗi khi móc mồi. Loại mồi bánh mì này thay thế cho loại mồi cơm, mồi con gián nhỏ.

Câu cá rô phải câu phao. Cá rô thích ở đìa, ao hồ, mương nước đọng có phủ cỏ lùng, ruộng lúa, sông lạch. Cá rô là loại cá chỉ sống ở miền châu thổ đồng bằng, ít gặp ở miền trung du, thượng du. Cá rô thích ăn mồi trùn chỉ là loại trùn nhỏ, lớn hơn chân nhang, màu hồng, hơi dai thân. Khi thấy phao bị giật lút, giật kéo, giựt nhắp thì ta giật cần, cá có thể dính câu. Nếu giật sẩy thì câu lại cho đến khi nào giật được thì thôi. Cỡ cá rô không nói ký lạng, chỉ nói bằng ngón tay hay cỡ sè bàn tay chẳng hạn. Cá rô cỡ một ngón tay, hai ngón tay, ba ngón tay, bốn ngón tay và một bàn tay (có thể  nặng hơn 200 gam).

Vào mùa lúa cấy phả bờ, lá lúa chuẩn bị khép tán là có mùa cá rô thóc trong các hông ruộng, cá này lớn bằng một ngón tay rưỡi. Người đi câu chỉ cần móc mồi và đi chung quanh bờ ruộng, không cần phao (phao kéo lên tận đầu cần), thả lưỡi mồi là là trên mặt nước ruộng, cho mồi ngập chừng 10cm đến 1 - 2cm  cách mặt nước ruộng. Loại cá rô thóc rất phàm ăn và ở trong ruộng số lượng cá dày mật độ nên hễ thấy mồi câu là ăn liền. Người câu cảm giác thấy cá ăn trì liệng là giựt nhanh lên liền, có con dính lưỡi, có con dính nhưng tuột rơi vì mới ăn ngàm, nhưng do bị lực giựt kéo tung lên vẫn rơi xuống trên bờ cỏ, ta bắt bỏ vào đụt. Có con giựt lên rồi nhưng rớt lại dưới ruộng. Loại cá rô thóc câu ruộng, nếu câu cả ngày được cỡ vài trăm con hay cỡ 4kg đến 5kg nên các em thiếu niên rất thích câu. Cá rô thóc nướng ngày nay được nâng lên thành món ăn đặc sản của bản địa Khánh Hòa. Các nhà hàng lớn ở Thành Phố Nha Trang có món cá rô thóc nướng ăn với nước mắm Nha Trang hay với muối ớt giã nhuyễn.

Nếu vào mùa vụ lụt Thu Đông ở quê huyện tôi không câu cá rô mà bắt cá rô bằng đánh lưới. Lưới có thể đánh trên tất cả mọi cánh đồng ngập lụt nhưng hầu hết cá rô được dồn về cánh đồng thôn Hà Thanh làng Phước Sơn, làng Tân Kiều thuộc xã Ninh Đa, ba cánh đồng này là túi nước đọng rút chậm hơn các địa phương có nước lụt. Các cánh đồng thuộc xã Ninh Đa này có vùng đất bị nước mặn của cuối con ngòi Ninh Phú Ninh Đa, mùa lụt thường là mùa nước biển thủy triều dâng cao nên nước lụt rút chậm, nước lụt bị dồn ra vùng đất ngày xưa đến bây giờ bị bỏ hoang gọi là vùng trũng láng. Hễ mùa nước lụt là các thôn làng Hà Thanh Phước Sơn Tân Kiều, Phú Diêm, nếu nhân dân hộ nào dùng ghe đi đánh cá thì nhà đầy cá rô, cá rô loại lớn từ 3 đến 4 ngón tay và bụng đầy trứng. Đánh lưới thì phải bằng lưới hai hay lưới ba, loại lưới một đánh cá rô thóc không sử dụng vì phải bắt cá rô nước ngọt là con cá đặc thù trong vùng nuôi hải sản tự nhiên của Ninh Hòa. Các món được chế biến từ cá rô phục vụ cho bữa ăn của nhân dân gồm có: Cá rô nấu chua, kho, đâm xóc với me sống ngò tàu, phơi yểu phơi khô, kho nấm, kho măng, kho rim, nấu lẩu.

Vào mùa lụt, cá rô Ninh Hòa tràn ngập các chợ lớn nhỏ trong tỉnh Khánh Hòa.

           CÂU CÁ TRẮNG

Cá trắng có các loại : cá trắng mè, luối, đỏ mang, hột mít, lòng tong. Cá trắng có con to bằng cả bàn tay. Câu cá trắng ở mương, lạch nước chảy,  ở thành bầy đàn tại các khúc của dòng sông Dinh, đậm đặc nhất là từ cầu Hội Phú cho đến đập đúc 7 xã đóng ở địa bàn xã Ninh Xuân. Mỗi bầy cá trắng có thể lên đến nhiều ngàn con lớn nhỏ. Mồi câu cá trắng là mồi câu bằng củ nghệ cán nhuyễn với cơm, hay bánh mì cán nhuyễn hòa nghệ, mồi gián cơm (cỡ bằng đầu ngón tay sống dưới lá ủ).

Câu cá trắng nếu câu ở dòng sông Dinh vào những khúc sông chảy xiết thì câu ngầm không cần phao. Nếu câu vào mùa nước sau lụt, nước chảy thơ mộng êm mơ thì câu bằng cần phao, cũng thả mồi như câu cá rô, lưỡi mồi phải cách đáy sông 1/3 chiều sâu từ mặt đáy. Thả dây câu lên đầu nước chảy, theo dõi phao trôi theo dòng nước tới tận mút chiều chảy trôi phao lại dỡ lên và thả dây câu lại chỗ cũ. Người ta thường đi câu trên chiếc ghe, neo lại một mé sông nhiều cá hay giữa dòng luồng chảy có mép cát bãi bồi, thì câu mới có kết quả cao.

Cũng như câu cá rô, câu cá trắng sông, độ lưỡi mồi cách đáy sông chừng 25 cm đến 30cm.

Câu cá trắng sông Dinh muốn câu có kết quả quả lớn có thể bắt đến con số vài trăm con thì phải câu bằng thuốc nhử cá. Thuốc thử cá đựơc làm bằng trái cây hoa gạo già, chẻ đôi hay chẻ tư bằng dao, lấy phần hột ruột ở bên trong đem phơi khô để có thể dùng cho nhiều ngày. Sau đó, đem rang chỉ rang đến màu vàng, không được chín quá thành than, rồi nghiền tán nhuyễn, hòa chất bột này với cám trấu rang và cơm giã nhuyễn.

 Đến nơi khúc sông nhận định có cá bầy đàn do quen câu hay do trực giác. Cá trắng đàn thường xuất hiện lúc trời trong đẹp, sau mỗi kỳ nước sông dâng lũ cỡ 10 đến 15 ngày, dòng sông lúc này trong, cũng là lúc cá vượt dòng lên đầu nguồn để chuẩn bị sinh đẻ .

Khi người câu được một con cá trắng bằng ba bốn ngón tay chẳng hạn, người thợ câu dùng hai ngón tay ngắt chớn đuôi để làm dấu và thả cá lại dòng sông. Đồng thời, người câu ngắt gieo rải hỗn hợp cơm thuốc ở trên dòng nước chảy lơ mơ chừng 10 mét, chất cơm thuốc này sẽ nổi trôi lơ lửng kích thích bầy đàn quần tụ để ăn mồi và người câu sẽ câu bắt tới con cuối cùng của bầy đàn cá trắng, câu bắt đến khi nào được con cá ban đầu có làm dấu ngắt thả đuôi thì dừng lại. Cũng là lúc câu đủ đàn hay câu gần hết đàn cá. Ngày nay đã có những loại thuốc có tác dụng thuốc nhử bằng mùi hóa học có bán ở các quầy bán dụng cụ câu cá. Tuy nhiên loại thuốc nhử cho cá ăn nhiều trong dân gian vẫn được phát triển vì dễ làm vá cá thích ăn hơn. Khi một con cá đã ăn bả nhử, đây là thuốc thử xổ cho cá ỉa nhanh và làm cho cá đói nhanh, nên cá thi nhau tranh mồi nhử.

Khi bắt gần hết cá cũng là lúc con cá trắng được làm dấu buổi ban đầu vừa thấy đói, vì con cá này vừa bị ăn no mồi để dính câu nên có thể không ăn mồi nhử. Vì vậy, đến khi đói cũng phải ăn lại mồi câu và có thể coi nó đã chứng kiến cuộc hạ màn cho đàn cá. Các nghệ sĩ câu cá có thể nhốt cá trong cái vịt cho chìm một nửa xuống dòng nước để giữ cho cá sống, hay ghe có nếu thành cao , có thể đổ một ít nước sông vô để rọng ca dưới cái xoang ngồi câu  đặt xoang ở giữa ghe

            CÂU CÁ TRÊ

            Mồi câu cá trê chỉ có trùn quắn là loại trùn màu đen, lớn bằng ngón tay út, dài hơn 10cm, để chết ươn càng tốt. Lưỡi câu cá trê phải lớn hơn gần bằng gấp đôi lưỡi câu cá trắng, nhỏ hơn lưỡi câu cá tràu và cũng câu phao, canh độ mồi lưỡi thật sát đáy mặt bùn. Cá trê thường ở hầm đìa, hầm ao, hầm ngòi (nước chà hai) có thể chiếc phao bị nghiêng nằm và kiên nhẫn đợi . Nếu phao đứng, bổng thấy phao nằm rồi bổng nhiên lút mất là giựt, cá trê bị mắc câu, hoặc nhỏ hoặc to. Lưỡi câu ngoài móc vào mép cá trê, còn bị cá trê ăn nuốt vào tận ruột. Để tháo cá trê ra khỏi lưỡi một cách an toàn, bằng cách dùng một tay đè đầu cá và một tay khác bẻ tháo rời hai ngạnh ở hai bên mép tai đầu nơi nối với thân mình cá lấy lưỡi câu ra. Nếu cá trê nuốt sâu lưỡi câu vào bụng, phải bỏ lưỡi câu đó và nối cột lại lưỡi câu khác để tiếp tục câu. Vì cá trê cũng là giống cá ở chung bầy đàn, thường câu được phải câu một cặp trở lên, phải kiên nhẫn câu để bắt hầm cá trê cho hết . Khi tát đìa, ao, vũng có hầm, ta dùng cây dài thọc lùa vào hầm, nếu hầm đó có cá trê, cá trê sẽ bơi từng đàn từ hai con trở lên. Có hầm, cá trê có thể đến cả rổ, cỡ ba kí lô là chuyện bình thường, nhất là tại những đìa, ao, vũng chất đầy cây duối tươi để héo rục dưới đìa, gọi là cắm chà đìa. Cũng như lươn, cá trê thích ăn ốc trùn cá chết bốc mùi, ngay cả xác người chết. Có những chiếc hòm chôn người chết được chôn ở sát nơi ao hồ kênh rạch, bị mục vỡ trong nước, bị nguồn nước xoáy vào tận quan tài, cá trê lợi dụng lỗ thủng mục của quan tài để vào bên trong làm nơi trú ngụ và ăn thực phẩm sẵn có là xác người, cá trê sinh đẻ đến nhiều. Khi cải táng ta phát hiện trong quan tài, ngoài xương người và đồ dùng tùy táng còn có đầy cá trê con, cá trê lớn. Loại cá này phải đem bỏ đi, cấm kỵ đem bán để ăn. Khi cá trê câu lên bờ, ta nghe cá phát ra tiếng kêu nhỏ “ ngoặc ngoặc “. Cá trê cũng là đề tài sáng tác văn học, trong nền văn học Việt Nam cổ điển, có áng văn mang tên “ Truyện Trê Cóc”, đó là truyện ngụ ngôn Việt Nam theo thể thơ lục bát của tác giả Khuyết Danh. Tác phẩm nói về vụ án của con nòng nọc, vì cá trê và cóc, khi hai con vật này mới sinh ra có dạng hình nòng nọc có đuôi nên cóc trê đều cho là con của mình. Cá trê ngày nay là món ăn đặc sản, nhưng cá trê bắt từ thiên nhiên ăn mới ngon, cá trê nuôi không được ngon. Lại có cá trê lai, to gấp đôi cá trê bình thường, nhưng thịt không ngon. Món ăn chế biến từ cá trê có món cá trê kho tộ, cá trê kho tiêu, cá trê nướng đâm xóc (ăn với mắm đâm me ngò tàu cùng tỏi ớt), cá trê nấu chua, nấu lẩu ....

            Vì là giống cá ăn tạp nên cá trê đôi khi mắc dịch, mắc bệnh và dễ phát hiện nhất của cá trê bị bệnh là bị ghẻ lở khắp mình. Nếu câu phải cá trê mắc dịch, điều tốt nhất là nên bỏ hẳn, không nên ăn.

ĐỖ CÔNG QUÝ

(xem tiếp kỳ 3)

Bài cùng tác giả

 

>> Một vài thú tiêu khiển ở nông thôn Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Kẹo đường

>> Món bánh ít lá gai Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Món bánh ít lá gai Ninh Hòa (kỳ 1)

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com