QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

 

TÌM VỀ NHA TRANG XƯA ...

 

(Kỳ 1)

 

            Tôi sinh sau đẻ muộn đến 17 năm kể từ năm 1924, năm Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập Thị trấn Nha Trang (centre urban). Những người dân sinh ra ở thành phố này, hiện nay bảy tám chục tuổi, hay hơn nữa, biết rõ Nha Trang xưa hơn tôi nhiều.

 

 

Trung tâm Nha Trang xưa

           

          Hồi đó, tức là trước năm 1924, tên Nha Trang chỉ cả khu vực huyện Diên Khánh, nơi lỵ sở của Nam Triều (triều Nguyễn) như Nguyễn Siêu trong Phương Đình Dư Địa chí đã ghi : « Năm Quý Sửu (1793) đại quân lấy lại Bình Khang doanh, tiến đánh thành Quy Nhơn, lúc ban sư đắp thành đất ở thủ sở Nha Trang gọi là Thành Diên Khánh, núi sông thực là thiên hiểm, tục gọi là Nha Trang thành » (1). Thành đất ở thủ sở Nha Trang này được xây dựng năm 1793, trên lũy Hoa Bông cũ, nơi đã từng đặt lỵ sở cũ phủ Diên Ninh, sau đó là phủ Diên Khánh thuộc dinh Thái Khang, Bình Khang. Nguyễn Siêu còn viết thêm : » Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) chia hạt gọi là tỉnh Nha Trang« (2) . Ta biết rằng, năm 1832, vua Minh Mạng đã có sự cải tổ về đơn vị hành chánh. Trong Đại Nam Thực Lục có ghi : « Nhâm Thìn, năm Minh Mạng thứ 13 (1832), tháng 10, ngày mồng 1, : Bắt đầu chia hạt, đặt quan từ Quảng Nam trở vào Nam » (…) « 1. Chia tỉnh hạt : …. Tỉnh Khánh Hòa : trước là Bình Hòa, thống trị phủ Diên Khánh, Ninh Hòa và 4 huyện Phúc Điền, Vĩnh Xương, Quảng Phúc, Tân Định. Trước 2 huyện Hoa Châu và Phúc Điền, nay gộp lại thành huyện Phúc Điền » (3). Như thế, Nguyển Siêu gọi tỉnh hạt Khánh Hòatỉnh Nha Trang là lấy tên Nha Trang cũ gọi nơi lỵ sở của quan chức triều Nguyễn đóng ở Thành. Lúc đó, Phúc Điền là huyện thuộc phủ Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa và khu vực TP Nha Trang hiện nay là thuộc huyện Vĩnh Xương, tổng Xương Cát cũng nằm trong phủ Diên Khánh.

 

            Trong một quyển sách viết về « Alexandre Yersin, người chiến thắng bệnh dịch hạch » của Henri H.Mollaret và Jacqueline Brossollet, ta thấy người Châu Âu rất say mê khí hậu và quang cảnh Nha Trang vào năm 1900, cách đây gần một trăm mười năm : » Người Châu Âu, họ chỉ khoảng 20 người vào năm 1900 cư ngụ dọc theo vịnh cát mịn tuyệt đẹp. Còn làng của người bản xứ, gồm những mái nhà nhỏ lại đóng tại địa điểm gọi là Mũi dân chài, tại cửa sông để ra biển Đông, trong một vịnh nhỏ khuất gió. (…).  Nha Trang rất thoáng mát nhờ vào gió biển lẫn các ngọn gió bri-zơ (gió biển, brise de mer) từ các ngọn núi lân cận thổi vào và được hút về phía mũi tàu bởi một dãy thung lũng nhô cao phía trên vịnh. Với một nguồn nước thật tinh khiết lấy từ các giếng, Nha Trang trở thành nơi nghỉ ngơi và nghỉ mát của những người Châu Âu sống tại Đông Dương. Thế là kéo theo sự xây dựng nhiều khách sạn, villa và tất cả sự đô thị hóa cần thiết cho những gia đình đi nghỉ hè.. « (4) . Nhưng đó Nha Trang năm 1900, còn năm 1891 trước đó, khi bác sĩ Yersin lần đầu tiên đến Nha Trang, từ biển nhìn vào « anh rất kinh ngạc trước khung cảnh hùng vỹ - núi với biển – ánh sáng chói ngời long lanh dưới nước, và sự yên tĩnh trong veo dưới một làn gió nhẹ của cảnh này sẽ còn mãi mãi là nơi gắn bó nhất với anh ở Đông Dương. Anh thấy nơi này có phần vắng vẻ. Nhìn từ ngoài biển, cả một dải cát trắng trên bờ biển, kéo dài đến sáu cây số là một bãi sa mạc. Mấy ngôi nhà tranh đơn sơ của dân chài xếp hàng dọc theo một dải đất ở cửa sông, nơi có một số tàu đánh cá đến trú. Vài ba ngôi nhà trệt rải rác đó đây là nhà của các viên chức người Pháp ở đây : Một công sứ, một đội trưởng cảng sát, một ông trưởng khế, một thuế quan. Bởi vì nếu Nha Trang là nơi có công sứ Pháp ở thì nó không phải là một trung tâm lớn, đông dân của tỉnh và là nơi dinh lũy của chính quyền bản xứ. Không có buôn bán. Không có công nhân tại chỗ. Không có vật liệu xây dựng gần đó. Đường biển là phương tiện giao thông và vận tải duy nhất đi về phía Nam bộ, Trung Trung bộ và Bắc bộ… » (5) Cảng Nha Trang lúc đó, năm 1920 đã được xây dựng ở một cầu tàu nhỏ ở chỗ hiện nay, dùng cho chiếc tàu lưới rà chuyên dùng của Viện Hải Học Đông Dương có tên là De Lanessan đậu và hoạt động thí nghiệm. Người dân lúc bấy giờ thường gọi Hải học Viện (nay là Viện Hải Dương Học Nha Trang) là  sở cá và quen gọi cảng này là bến Cầu Đá. Cảng này cũng là nơi qua lại của một vài tàu hàng và các thuyền buồm lớn đến từ Trung Hoa.

 

  

Bải biển trước khách sạn Hải Yến xưa

 

            Về bãi biển Nha Trang, Bs Yersin cũng có những nhận xét : trên một bãi cát mịn dài bảy cây số, chạy theo đường vòng cung, những làn sóng đã được các vách đá làm dịu đi rất nhiều, không ngừng dào dạt. Cát trải dài trắng xóa lấp lánh dưới ánh mặt trời nhiệt đới này bị những đường uốn lượn của một dãy núi dài cắt ngang về phía Bắc, vừa đưa khu rừng nhiệt đới đi thẳng biển thành một mũi nhọn. (…). Và về khí hậu Nha Trang, trên bờ biển khí hậu dịu đi nhờ có hơi gió nhẹ từ trong đất liền và từ ngoài biển thay nhau đều đặn thổi về suốt cả ngày.(…). Ngày 9.6. 1986, Yersin viết cho ông Ru (Bs Roux chuyên ngành vi trùng học) :  » Ông Ru quý mến ơi, xin ông hãy đến đây gặp lại tôi, nếu ông biết ở đây dễ chịu đến chừng nào. Không bao giờ nóng quá, không bao giờ lạnh quá và rất yên tĩnh để làm việc » (6)

 

Ngôi nhà của Bs Yersin ở và làm việc là một … lô cốt. Năm 1895 từ Pari quay về lại Nha Trang, Nha Trang lúc đó có  một lô cốt cũ vươn lên giữa vài ngôi nhà thấp của khu kiều dân Pháp bên bãi biển và những căn nhà chòi của ngư dân gom lại chỗ góc cửa sông (7) , nơi xóm Cồn bây giờ. Cái lô cốt này, Bs Yersin mua lại vào năm 1895 và ông đã biến nó thành nơi ăn ở, làm việc, quan sát.., mà dân ở Xóm Cồn thường gọi nôm na là Lầu Ông Tư, một di tích nay không còn nữa. Nay không thấy được Lầu Ông Tư, vậy đọc trên sách vậy : « Qua nhiều lần dọn dẹp, ông đã biến nó thành ngôi nhà ở của mình. Khối gạch hình lập phương với cạnh là 7,50 thước và gồm hai tầng này, hoàn toàn được bao bọc bởi một ban công và chấn song cao 2m. Mặt hướng ra biển và hơn nữa có một phần nhô ra rất rộng. Hệt như một ngôi nhà ở các khu phố cũ của Luân Đôn, mỗi tầng của nó chỉ có một phòng duy nhất, tầng trệt là phòng ăn, lầu một làm văn phòng, phòng ngủ đặt tại lầu hai. Đầu tiên mái nhà lợp bằng ngói. Ngôi nhà cao này nhô cao phía trên thành phố Nha Trang một thời gian dài. Vào khoảng năm 1908, Khi Yersin cho thay mái ngói bằng một ân thương bằng xi măng để lắp đặt một đài thiên văn nhỏ, ngôi nhà lại càng dễ nhận ra hơn từ phía xa bởi mái vòm của nó. Suốt gần nửa thế kỷ, Yersin ở và làm việc tại đây. Từ đây ông quan sát biển và cửa sông, thấy những phụ nữ lom khom đi bắt tôm hay hoạt động của dân chài ... (8)  .

 

 

Nhà bác sĩ Yersin

 

Từ năm 1895 đến năm 1904, lúc Bs Yersin đến cư ngụ tại thành phố này, « không ai có thể thấy trước là Nha Trang sẽ trở thành bãi tắm cho những người đã bị mệt mỏi vì khí hậu ở Nam bộ và vì những nơi thiếu vệ sinh ở phía Nam Đông Dương. Mấy năm sau đã có những khách sạn lớn và những biệt thự xếp hàng dài theo bờ biển để đón họ. Con đường sắt xuyên Đông Dương dài 1.860 cây số từ Sài Gòn đi Hà Nội, sẽ đưa họ tới đó.. Kể cả những xe ô tô riêng và những xe ca trên con đường cái quan cũng dùng Nha Trang làm nơi nghỉ chân hiếm có… » (9) Đường cái quan (route mandarine) đây nay là đường Quốc lộ 1A đi từ Bắc vào Nam, được thay đổi nhiều lần và tên cũ mất đi để trở thành « con đường thuộc địa số 1 xứ An-nam » như người Pháp đã gọi. Đường bộ phải qua đèo cao, rừng rậm, nhiều thú dữ nhất là cọp, nên chỉ dùng trong chinh chiến. Chủ yếu quan dân đi lại, vận tải hàng hóa bằng đường thủy. Đời vua Gia Long, cho trùng tu lại quốc lộ Bắc Nam, gọi là Đường cái quan hay Quan lộ và vào năm 1803 cho lập các Trạm dịch. Quan quân, dân thường di chuyển trong địa phận tỉnh phải qua 10 Trạm dịch, trên những con đường gian nan, vất vả và nguy hiểm vì nạn cọp. Trạm gần nội thành thành phố Nha Trang được đặt tại thôn Cát Lợi, xã Vĩnh Lương. Từ trạm này, muốn qua huyện Diên Khánh để vào trạm trong thì đi trên con đường, nay là đường Cải lộ tuyến, xưa là con đường đất, qua Cầu Thành, cây cầu gỗ nối liền thôn Phú Lộc qua chợ Thành. Từ năm 1924, khi lập thị trấn Nha Trang, các công sở của người Pháp được xây dựng ở đây và một trạm dịch, Trạm Nha Trang, cũng được xây dựng gần nơi Tòa Sứ, nay là trụ sở của UBND Tỉnh. Như vậy, từ đó, trạm Hòa Cát phải qua trạm Nha Trang rồi mới lên huyện Diên Khánh bằng con đường dài 10 cây số, là đường 23 tháng Mười hiện nay để đi vào trạm trong . Sau 1885, Pháp đặt nền cai trị, di chuyển binh lính, chiến cụ, khai thác tài nguyên cần đường đi lại cho thuận tiện. Pháp cho lập cơ quan Công trình công cộng (còn gọi là Lục Lộ) để làm đường mới, nới rộng đường cũ, cho tráng nhựa. Sở Lục Lộ Nha Trang được thiết lập đầu thế kỷ 20, do các kỹ sư Pháp quản lý, còn công nhân là người Việt. Sau này, Pháp thiết lập sở Công Chánh, quản lý về đường sá, cầu cống, thuyền bè, thủy lợi, hải cảng, kiến trúc đô thị … Về trách nhiệm các công trình của khu miền Nam, từ Quảng Nam đến biên giới Nam Kỳ, bản doanh đặt tại Nha Trang, mang tên Khu Công Chánh miền Nam Trung bộ, đặt nơi tòa nhà hiện nay là Bảo Tàng Tỉnh Khánh Hòa.

 

            Về đường sắt, người Pháp làm đường sắt tuyến Sài Gòn – Nha Trang trong 12 năm liên tục, từ năm 1901, đến năm 1913 mới đến Phú Vinh, nằm cạnh đường 23 tháng 10 hiện nay, thuộc xã Vĩnh Thạnh, có độ dài 462 km. Ga này có điểm đặc biệt là khi tàu muốn trở đầu chạy vào Sài Gòn, vì không có đường vòng nên đầu máy của nó được đặt vào một bộ phận, gọi là cầu quay. Có một bộ phận máy móc quay cho đầu tàu quay lại, sau đó đầu tàu nối vào các toa và chạy vào ga Sài Gòn. Sau khi Ga Nha Trang được thành lập, cầu quay này không được sử dụng nữa và thực dân Pháp đã dùng nó, cải tạo lại để nhốt các chiến sĩ cách mạng chống Pháp, vì lúc đó, nhà lao Nha Trang chật kín cả tù nhân. Năm 1928, Pháp khởi công làm tuyến đường sắt Nha Trang – Đà Nẵng, đồng thời người Pháp cho khởi công xây Ga Nha Trang và nối đường sắt từ ga Phú Vinh về đây. Nhà ga có 5 đường tránh tàu và đặc biệt có đường sắt vòng, bao quanh khu ga, tàu không trở đầu máy như các ga khác, thường gọi là đường vòng bóng đèn. Nhà ga xây trệt, mái lợp ngói, nhưng có kiểu dáng kiến trúc đẹp, ngày nay vẫy giữ được y nguyên như thế. Lại nữa, trước mặt ga lại có công viên, vườn hoa (thời chính quyền Sài Gòn cũ có tên là công viên Trịnh Minh Thế, sau 1975, công viên mang tên Võ Văn Ký), tạo cho nhà ga một cảnh quan thông thoáng. Nhà ga được khánh thành vào ngày 2.9.1936. Từ năm 1940 – 1943, người Pháp còn cho làm một đường sắt nhánh từ Ga Nha Trang xuống cảng Cầu Đá, nhưng dở dang sau đó được tháo gỡ toàn bộ.

 

            Trước nhà Ga Nha Trang, nằm hai bên công viên, trên đường Thái Nguyên hiện nay, có hai khách sạn : khách sạn phía đông có tên là Bon Air Hotel của ông Nguyễn Văn Sung, lúc ấy làm Chủ sự Bưu điện Khánh Hòa và khách sạn phía tây có tên là Terminus Hotel của một người Hoa, tên là A Tỷ. Có một điều đặc biệt là tại nơi khách sạn Bon Air Hotel đã nẩy nở một mối Lào - Việt . Ông Sung, chủ khách sạn quê gốc Quảng Nam, cha mẹ tham gia kháng chiến chống Pháp, nên ông bị truy lùng, phải vào Nha Trang lánh nạn. Vợ đầu không có con, ông lấy bà vợ sau tên là Lê Thị Nói, người gốc Bình Tân, phường Vĩnh Trường. Ông bà sinh được một người con gái tên là Nguyễn Thị Kỳ Nam vào năm 1921. Ông cho Kỳ Nam ra Huế học ở trường Đồng Khánh. Vào dịp hè 1937, Kỳ Nam 17 tuổi, về nghỉ tại nhà cha mẹ tại khách sạn và giúp cha điều hành khách sạn. Lúc đó, khách sạn tiếp đón một khách người Lào là Hoàng thân Souphanouvong, con của một Phó Vương Lào, vừa tốt nghiệp trường Quốc Gia Cầu Đường Paris, được bổ nhiệm về Khu Công Chánh Nam Trung bộ. Ông đi tàu hỏa từ Sài Gòn ra đến Nha Trang vào sáng ngày 13-7-1937 (lúc đó ông 28 tuổi). Đứng trước hai khách sạn trước Ga, ông chọn Bon Air Hotel làm nơi lưu trú, và đó cũng là một sự lựa chọn… định mệnh trong đời ông. Tại đây, mối tình giữa Hoàng thân Lào và cô gái Việt Kỳ Nam nẩy nở và họ cưới nhau vào năm 1938. Đám cưới được tổ chức tại khách sạn Grand Hotel (nay là Nhà nghỉ T78 44 Trần Phú). Hoàng thân Souphanouvong đã từng giữ chức Chủ tịch Cộng hòa Dân chủ Nhân Dân Lào. Vợ chồng ông đã tặng khách sạn Bon Air cho tỉnh Phú Khánh. Sau này, khách sạn được mở thành cửa hàng ăn uống và hiện nay khách sạn Bon Air Hotel đã bị phá dở chuẩn bị xây văn phòng. Còn khách sạn Termius Hotel được phòng Cảnh sát Giao thông Công An Khánh Hòa dùng làm trụ sở, vẫn giữ được vẻ dáng bên ngoài như xưa. Ngoài các khách sạn nói trên, Nha Trang xưa còn có khách sạn Frégate đường Pasteur (nay đang xây lại, có tên mới khách sạn Thắng Lợi), khách sạn Beau Rivage nay là khu C khách sạn Hải Yến, đường Trần Phú, vẫn còn mang dáng vẻ cũ.

NGÔ VĂN BAN

(xem tiếp kỳ 2)

 

Bài cùng tác giả

 

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang - Ngô Văn Ban

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com