QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐỖ CÔNG QUÝ

 

MỘT VÀI THÚ TIÊU KHIỂN Ở NÔNG THÔN NINH HÒA

 

(kỳ 3)

 

 

CÂU CÁ TRÀU

Tất cả các địa phương nông thôn ở tỉnh Khánh Hoà đều có cá tràu sinh sống trong tự nhiên nước ngọt. Nhưng cá tràu Võ Cạnh thuộc TP Nha Trang (thực ra là ở thôn Võ Dõng) là nổi tiếng hơn cả, cụ Quách Tấn trong tác phẩm Xứ Trầm Hương đã xác định như thế.  

Câu cá tràu bằng nhiều hình thức như câu cắm, câu dĩa (quay), câu giăng.

Câu cắm là dùng cần tre, phải là tre gốc, dài chừng 1m, phần đầu cần vót mỏng để tạo thế uốn công, trên đầu cần có đầu ngù để cột dây cước, dây cước phải lớn bằng 3 lần  dây cước câu cá trắng và lưỡi câu cũng lớn gấp 5 lần lưỡi câu cá rô. Sợi cước nối lưỡi câu có độ dài 50cm đến 60cm.  Mồi câu cá tràu là giống trùn phang, trùn quắn. Còn mồi sống có mồi nhái, mồi chạy là cá sặt, cá rô thóc, cá trắng nhỏ...

Khi cắm câu phải cắm vào lúc giấc từ 16 giờ đến 18 giờ. Cá tràu  thường ăn lúc xẩm tối đến 22 giờ và lúc từ mờ sáng rạng đông đến 6 giờ sáng . Người cắm câu dùng  câu liêm lội xuống ruộng còn ngập đầy nước cắt rạ cho quang sạch rồi mới cắm cần câu. Khi cắm, cần câu phải cắm sâu vô bờ và cần cắm nghiêng. Nếu ta không làm quang chỗ cắm câu ra thì nhái mồi, cá mồi nhảy lên  vướng rạ và cá lớn đi ăn không thấy mồi mà ăn mồi. Và khi cá bị dính câu, các cọng rạ sẽ tạo thế, tạo đà quấn, cá quẫy sẽ sẩy. Người đi câu cắm chuyên nghiệp thường có 200 cần câu đến 300 cần câu được sử dụng để cắm

Câu giăng cũng là hình thức đi câu cắm. Câu giăng không câu ở ruộng đã gặt mà câu ở ven sông, suối, lạch, vàm, dùng dây ny long hay dây dù dài cỡ chừng 200m đến 300m to bằng nửa ngón tay út. Cứ 5m đến 7m thì cột một sợi cước có lưỡi câu. Một hệ thống câu giăng, cứ mỗi sợi có thể cột 30 lưỡi cước đến 50 lưỡi cước và người đi câu có thể sử dụng ba sợi dây giăng hay năm sợi dây giăng. Mồi cũng móc như mồi câu cắm, nhưng thường móc mồi trùn (phang hay quắn). Khi móc mồi chạy (cá, nhái)  phải để lưỡi câu có mồi là là trên mặt nước, mồi sâu trong nước quá thì cá và nhái dễ bị chết vì bị ngộp. Nhái thì móc lưỡi câu ở đuôi sau trên eo lưng, cá thì móc lưỡi câu ở trên lưng.

Câu cắm cũng như câu giăng, đến sáng, từ 6 giờ đến 8 giờ phải thâu gom cần câu toàn bộ lại. Không câu ban ngày vì ban ngày có vịt bầy lội tìm thức ăn, nếu ăn phải mồi câu, bị mắc lưỡi câu thì thật là phiền phức

Câu giăng đi móc mồi bằng ghe xuồng sau khi đã căng cột hai đầu dây, còn câu cắm thì móc mồi liền khi cắm cần. Và khi móc mồi giáp vòng xong là đi thăm câu để gở cá (nếu có) và thay mồi những cần cá sẩy sau khi ăn mồi.

Câu dĩa còn gọi là câu quay, sử dụng cần trúc dài chừng 2,5m, trên đầu có khoen tròn như khoen tai và luồn sợi cước với chì hơi nặng. Cước có thể dài vài mươi mét, loại cước câu cắm. Cước được quấn bằng 1 ru lô cắt khía tượng trưng, ru lô có nồng ống rỗng 2 đầu để luồn 4 ngón tay của bàn tay trái vào. Lưỡi câu câu dĩa to bằng hai lưỡi câu cắm. Mồi móc hoàn toàn bằng nhái cơm to cỡ lớn hơn ngón tay cái, không dùng loại nhái ốm chàng hiu. Sau khi mồi được móc, dùng một đoạn cỏ lùng hàn đầu lưỡi với sợi cước còn ló lại, để con nhái khỏi bị táp sẩy bởi cá trầu. Người câu dĩa chỉ đứng một chỗ và quăng dây lên những mép nước ao hồ rồi kéo quấn ru lô thâu lại dây cước dài, con mồi nhái sẽ di động để nhử cá tràu. Những con cá tràu to cỡ bắp vế bắp đùi thường ăn câu loại câu này. Một buổi đi câu có kết quả bắt được một con hay vài con cá tràu loại to là có thành tích. Nếu câu được con cá to cỡ vài kilôgram, khi đi về qua xóm làng, con cá còn dính trong lưỡi câu, thành tích đã được khoe trương rồi. Nếu câu dĩa mà được cá, thế nào ngày đó là người câu cũng có một bữa ăn hay một bữa nhậu linh đình với gia đình hay với bạn bè.

Những con cá tràu có con là bầy ròng ròng không ăn mồi câu vì có thể cá đẻ nên đã hoá khôn. Nhưng đôi khi cá khôn này cũng bị dính câu, vì muốn bảo vệ đàn con nên phải đánh đuổi, cắn xé con vật (mồi nhái, cá) đến quấy phá đàn con của mình, Thế là cá đớp phải mồi, dính câu, bỏ lại một đàn con đông đúc trong ao bể, là miếng mồi ngon trong thế giới “ cá lớn nuốt cá bé “ này.

Câu cắm, câu giăng, câu dĩa không sử dụng phao.

Cá tràu có con tầm lớn đến 5kg và 10kg. Ở quê tôi ngày xưa, xã Ninh Đa ở vùng cuối láng ngòi nước lợ chè hai, nơi có muôn trùng cá tràu cỡ 5 đến 10kg, có con trên mình thân đóng rêu và muốn đi bắt phải bắt bằng nơm. Khi nơm được cá phải nhờ một người ngồi trên nơm giữ đè và một người thọc tay vô nơm mò bắt cá. Bắt cá nôm phải nắm ở vòng cổ thọc xuống mang, sau khi nắm bắt được rồi, giở ngửa nôm lên trời với cánh tay nắm cá. Đôi khi cá quẫy mạnh làm tung bay nơm, thế là con cá bị sẩy. Những con cá trầu nhiều kilôgam thường trên đầu có họa tiết trông như chữ Hán, thân có rêu đóng trên vảy. Truyền thuyết dân gian gọi là cá của ông bà linh thánh nuôi và rồi ông bà cho con cháu ăn để sống. Loại cá tràu cỡ đã nêu trên sinh sống ở láng vực miền Tây núi Hòn Hèo .

Ngày nay cỡ cá loại ông bà linh thánh cho ít dần ở quê tôi cũng như các địa phương khác trên toàn quốc. Vì nhiều người đi rà cá bằng điện cao thế giống như đánh bắt cá bằng dã cào ở biển, đã bắt và giết cỡ thượng vàng hạ cám những con cá sinh trưởng trong thiên nhiên. Họ đã ăn non, ăn hớt, ăn tận diệt để không còn cá cho mùa sau, cho con cho cháu.

CÂU CÁ CHỐT

Cá chốt ở quê tôi nhiều nhất ở con ngòi là cửa ở đầm Nha Phu thuộc xã Ninh Phú, một phần nước thủy triều biển, một phần nước ở sông Dinh và một phần nước các suối ở núi Hòn Hèo, một phần nhận nguồn nước tháo úng từ các cánh đồng ruộng của các thôn Tiên Du, Hội Bình, Hội Phú, Mỹ Lệ, Phú Diêm, Phước Sơn, Tân Kiều, Hà Thanh thuộc hai xã Ninh Phú và Ninh Đa và một phần nước xả lũ ở đập Đá Bàn, tràn lụt qua địa bàn hai xã Ninh An, Ninh Thọ.

Cá chốt thuộc dòng cá sống ở vùng nước lợ (nước chè hai mặn ngọt). Cá có ba ngạnh sắt nhọn, một ngạch ở đỉnh lưng chỉ thiên và hai ngạnh như ngạnh cá trê. Ngạnh cá chốt đâm vào tay người hay vào thịt người đi câu hay người làm cá, rất là đau nhức, nhức đến thốn tim, cả tiếng đồng hồ.

Câu cá chốt là phải câu cần trúc mới thú và câu ngầm, không có phao, chỉ có khối chì nặng và mồi lưỡi. Có thể cùng một dây câu ta gắn ba đến bốn mồi lưỡi chùm so le. Có khi cá ăn cả, ta giựt cần câu lên lưỡi nào cũng dính cá,

Chọn một chỗ ngồi cho êm mát, cạnh cây bần cây đước thấp, hơi  có bóng râm và móc mồi quăng câu.

Mồi câu phải chuẩn bị trùn chỉ cho nhiều, một buổi đi câu phải chuẩn bị đầy gáo trái dừa xiêm khô. Nếu câu nửa chừng hết mồi thì coi bãi sình nào có cồn khô ướt, dùng hai tay xăm rồi bợ một cục đất ra để tìm trùn nước. Trùn nước lớn cũng dài nhưng thân dẹp, đây chỉ là loại trùn câu “ chữa cháy “.

Tung cần để sợi dây chì mồi đánh tủm xuống nước thành tiếng và nước sôi lên nhiều tăm. Đôi khi không cần phải đợi lâu, chừng ba mươi giây hay một phút là cá chốt ăn và dính lưỡi câu liền. Có thể một lần dính đến nhiều con, có con to gần bằng 2/3 cườm tay người lớn, có con nhỏ hơn hai ngón tay.

Vì phải thường xuyên câu ngầm trong dòng nước chảy ngược xuôi lúc nước thủy triều lên và nước thủy triều xuống, nên người đi câu phải dự trữ nhiều lưỡi câu và mồi câu. Lưỡi câu cá chốt to hơn lưỡi câu cá trắng, nếu đi câu cá trắng cần lưỡi câu hàm ếch chuyên dụng thì khi câu cá chốt chỉ cần lưỡi câu thường. Số lưỡi câu dự phòng mang theo phải đến cả chục cái.

Thường người đi câu cá chốt về để ăn. Mỗi lần đi câu thường một buổi, từ tờ mờ sáng đến trưa hay từ trưa đến chiều là trong đụt được hàng trăm con cá lớn nhỏ trở lên là chuyện thường ngày .

Cá chốt là món cá đặc sản. Cá chốt câu về có thể nấu canh chua, canh tập tàng, nấu lẫu, chiên rấm nghệ, kho (kho nấm, kho măng, kho nước cốt dừa) ăn rất ngon và rất ấn tượng, nhớ đời.

Đôi khi câu cá chốt cũng câu được cá trê, bắt cả cặp hay bắt được bốn đến sáu cùng một lúc .

Nhưng cũng có những ngày cá chốt không ăn mồi cả một dòng ngòi. Và ai đi câu cũng về tay không hay câu được rất ít cá chốt. Đây là điều bí ẩn của con ngòi quê tôi .

CÂU CÁ MÈ

Các mè ở các sông rạch ao hồ huyện Ninh Hòa thuộc loại cá mè trắng Việt Nam, có một số đặc điểm giống loại cá mè trắng Trung Quốc cả hai có vảy nhỏ mịn cỡ lớn hơn hột mè. Cá mè là giống cá được nuôi có hiệu quả kinh tế ở miền Bắc, miền Nam, có thể nuôi ở vùng nước ngọt và vùng ven biển nước lợ. Cá mè thích ăn sinh vật phù du, trái cây, cá lớn nhanh và con trưởng thành có thể nặng hơn 5 kg.

Ngoài những mồi câu phổ thông như câu các loại cá khác, mồi câu cá mè còn dùng mồi trái gừa. Gừa là một loại cây hoang, được người chơi kiểng xem như một loại cây kiểng, cây dày lá, có nhiều rễ thòng. Cây gừa mọc hoang ở những khúc sông Dinh để chống xói mòn, như khúc sông ngã ba Mù U thuộc các xã Ninh Đông, Ninh Bình, Ninh Phụng, khúc sông Hội Phú. Đến mùa, cây gừa ra đầy quả, quả cỡ to bằng viên bi. Cá mè thích ăn loại trái gừa mùa chín rụng này nên người đi câu dùng trái gừa móc vào lưỡi câu, loại lưỡi câu to như lưỡi câu quay câu dĩa, lưỡi câu câu cá hố biển. Họ móc nhiều trái gừa vào kín cả lưỡi câu.

Chọn một nhánh vừa vươn ra tận dòng sông và bên dưới là vực nước hầm sâu nơi có đàn cá mè năm đến mười hay nhiều hơn nữa đang trững nước ăn mồi gừa, người câu cá mè ở trên nhánh cây thả lưỡi mồi xuống nhữ, mồi gừa nổi trôi, cá mè xáp vào ăn. Khi cá đã dính lưỡi câu, người câu phải giựt nhẹ, nương nương, thả cước trong thế ghì, chờ hồi lâu cá thấm mệt mới giựt lên bờ. Nếu đi câu có hai người, một người câu, một người nhảy xuống nưới bơi cút để trục vớt cá lên .

Với mỗi con cá có đến vài kí lô,  mỗi ngày câu được một con cũng đã là một thứ công phu để đời rồi. Vì vậy những người có quê gốc xã Ninh Giang, xã Ninh Phú đã từng câu cá mè sông Dinh mùa có quả gừa, đều trở về một lần trong năm nếu họ đi làm xa quê hương để đi câu, tìm lại những thú vui ngày xưa

CÂU CÁ TRẮM

Giống cá trắm được nuôi thuần dưỡng để lấy thịt hay sống hoang trong vùng nước ngọt và nước lợ của các cửa sông giáp biển là giống cá trắm đen được nuôi và sống tự do từ bờ Amua giáp vùng cực viễn Đông Nam Á Châu đến Việt Nam

Ở huyện Ninh Hòa cá trắm được nuôi ở các lòng hồ  Suối Trầu thuộc xã Ninh Xuân, Ninh Sim, ở lòng hồ Đá Bàn thuộc xã Ninh Sơn và sinh sống tự nhiên ở các nhánh nguồn sông Dinh. Đi câu cá trắm là đi câu cá sống trong tự nhiên. Người đi câu ở các lòng hồ thường đi câu bằng ghe và câu ngầm, lưỡi câu cũng lớn cỡ lưỡi câu cá mè.

Cá trắm thích ăn rau cải, rau muống còn tươi nên người làm mồi phải cột bó cải và rau muống lại rồi bó ôm vào lưỡi câu. Dây cước to, chì nặng và thả sâu. Khi cá ăn mồi và dính câu, cũng tương tự như câu cá mè, cố dùng vợt lưới vớt lên. Cá trắm vảy to và cá cân nặng đến nhiều kí lô, nên mỗi lần đi câu chỉ trông bắt được một con cá cỡ vài kí là đã thỏa mãn rồi. Ở sông Dinh, cá trắm thường rộ ở các mùa lụt, các tháng mùa thu đông lúc dòng sông Dinh nước nổi.

Câu ở lòng hồ Đá Bàn, nơi nổi tiếng về cá trắm to, có con lên đến hơn 10 kí lô nên người đi câu phải sử dụng loại dây thừng nhỏ làm bằng những sợi thép và cũng đã từng có người bỏ cả ghe lẫn cá để bơi bộ vô bờ. Đó là vì con cá to dính câu đã kéo ghe chạy với tốc độ sinh tử trên mặt nước hồ Đá Bàn. Câu kiểu dây cáp thừng phải cột cố định ở mũi ghe hay mạn ghe và dây cáp phải thả được tới đáy hồ.

Đôi khi cá trắm, cá mè cũng ăn mồi câu phao kiểu cá trắng và câu ngồi cố định ở bên bờ.

CÂU CÁ CHÉP

Cá chép là giống cá nuôi lấy thịt cùng với cá mè, cá trắm, cá rô phi. Nhưng cá chép cũng đã phát triển ở thiên nhiên hoang dã nhiều, nên có người chuyên đi câu cá chép để ăn và để bán.

Các loại cá chép có màu sắc tím, trắng, đỏ, ghi vàng ... Trọng lượng cá chép có thể đạt nhiều kí lô, có con hơn 10kg.

Người đi câu cá chuyên nghiệp phải chuẩn bị loại lưỡi chùm, lưỡi cỡ lớn hơn lưỡi câu cá trắng một tí, mỗi chùm gần 10 lưỡi câu có ngạnh

Mồi câu chuẩn bị : Bột năng hay các loại bột : bột hạ, bột sắn, bột mì tây, bột mì ta, bột gạo nếp .... đem phơi khô rồi hòa với màu nước nghệ, bóp vắt thành cục mồi bọc vào chùm lưỡi câu và thả sâu xuống gần tới đáy. Khi cá chép dính câu cá chép kéo lĩa dữ dội. Vì vậy người đi câu cá chép phải thuần thục trong nghề câu để câu có kết quả cao nhất. Cũng như câu các loại cá to khác, câu cá chép phải câu ngầm và câu dĩa câu quay. Có thể câu ngồi ở trên bờ hay câu bằng ghe lớn nhỏ, câu bằng sợi cước lớn hay bằng sợi cáp bằng thép mềm cỡ lớn hơn đầu cây tăm nhang một tí .

Nếu câu bờ thì câu ở các vùng rộng lõm yên tĩnh cạnh dòng chảy cuồn cuộn chảy xiết vì các loại cá đều chịu ở những nơi yên tĩnh này để ăn mồi, cá lớn nuốt cá bé.

Cá chép ăn rất ngon, chế biến được nhiều món.

Câu cá sông hay câu cá biển là thú tiêu khiển, giải trí, hưởng nhàn hay là nghiệp dĩ mưu sinh. Đi câu cá còn là một cách chữa bệnh,  một số bệnh mãn tính thể trạng hay bệnh stress tâm lý.

 

ĐỖ CÔNG QUÝ

(xem tiếp kỳ 4)

 

Bài cùng tác giả

 

>> Một vài thú tiêu khiển ở nông thôn Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Một vài thú tiêu khiển ở nông thôn Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Kẹo đường

>> Món bánh ít lá gai Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Món bánh ít lá gai Ninh Hòa (kỳ 1)

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com