QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Nguyễn Cường quê Xóm Mới - Thị trấn Ninh Hoà. Học Võ Tánh, Đại học Kỹ thuật Phú Thọ. Hiện là kỹ sư công chánh cho Departerment of Transportation, California - USA

Tác Phẩm

*Khoa bảng, Trí thức và Nhân tài Đất Việt:

Kỳ 1, kỳ 2

* Bức Tâm Thư

 * Ngôn ngữ và Trí Tuệ

Kỳ 1, kỳ 2

* Nguồn gốc của Âm Lịch và Tử vi

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngônngữ & Trítuệ

(kỳ 2)

IV.- Kếtqủa sosánh giữa hai cáchviết.

Trong phần trìnhbày trên chúngta đã có dữkiện để biết sơqua về cáchthức xửlý tínhiệu thôngtin của nãobộ, cũngnhư thấyrõ có sự khácnhau về mứcđộ nhanhchậm của hai cáchviết. Phầnsauđây sẽ tiếptục phântích chitiết và đisâu vào vấnđề ảnhhưởng của ngônngữ đốivới trítuệ.

Ở hai vùng tiếpthu sơkhởi nghe và thấy, chúngta đã biết có sự khácnhau về sốlượng tínhiệu tiếpnhận, ướcchừng là 5% do khoảngtrống của cáchviết rời hay đơnâm, sovới cáchviết nốiliền hay đaâm. Nhưng dámchắc chưa quantrọng chobằng ở vùng số 2 (Wernicke), nơi xửlý các tínhiệu và cũnglà chủđích của bàiviết này. Vậntốc hay nhịpđộ xửlý nhanh hay chậm ở vùng này mớilà điều đángnói, vì ngaycả ngườiviết khi tìmhiểu ra, cũng phải ngạcnhiên trước những hậuqủa thậtsự nghiêmtrọng của vấnđề.

Do từ cách xửlý khácbiệt của hai cáchviết A và B, nên thờigian dùng để hiểu lờinói hay đọcsách của A sẽ lâuhơn B. Lâu hơn baonhiêu? Muốnbiết, hãy thử làm một thínghiệm khác để ướclượng thờigian thunhận kiếnthức giữa A và B.

Dùng đoạnvăn ngay phíatrên, bắtđầu bằng "Ở hai vùng tiếpthu sơkhởi...... nghiêmtrọng của vấnđề". Trong tổngsố 117 chữ, có tấtcả 37 cặp chữ viết liềnnhau. Nhưvậy nếu nãobộ của A phải đi "tìm từđiển" 117 lần, thì B chỉ cần đitìm 80 lần. Tỷlệ giữa 37/117 cho ra khoảng 31%. Tỷlệ này được điềuchỉnh và giảmbớt khoảng 5-6 %, do thờigian nhận mãsố ngônngữ đaâm lâuhơn đơnâm mộtchút, tuy rất ngắn sovới thờigian xửlý. Cònlại khoảngchừng 25%. Consố này chothấy phỏngchừng trong cùng một thờigian, trungbình nãobộ A chỉ xửlý 3 sựviệc, trongkhi B cóthể xửlý đến 4 sựviệc!

a) Thínghiệm kiểmchứng.

Ngườiviết có thêm một thínghiệm cụthể sauđây để kiểmchứng lại nhữnggì đã nói ởtrên. Dùng đốitượng cho thínghiệm là nhờ bấtcứ mộtngườinào cũngđược, và chỉ yêucầu đốitượng nhớ mộtdãy số được ghira trên tờgiấy, trongvòng giớihạn thờigian là từ 3-5 giây. Thínghiệm này gồm 2 phần A và B, và cáchnhau ítnhất vài giờ hay một ngày, nhưsau:

Phần A: Ghixuống giấy khoảng 8 consố như: 3 6 9 2 5 8 4 7. Saukhi canhchừng đồnghồ rồi thì đưara cho đốitượng xem trongkhoảng 3-5 giây đểnhớ. Sau thờihạn chấmdứt, yêucầu đốitượng nóilại những consố vừa nhớ. Thínghiệm trên được lậplại từ 3 đến 5 lần, với các số khácnhau. Xin ghinhận số lần đốitượng nhớ đúng cả 8 số theo thứtự nhưtrên. Giữlại kếtquả tờgiấy, và chờ khoảng vàigiờ hay qua ngàyhômsau, cho đốitượng quênhẳnđi.

Phần B: Cũng ghi xuống giấy khác những số trong phần A, nhưng ghép haisố kếbênnhau lại thànhcặp: 36 92 58 47. Cũng cho đốitượng từ 3-5 giây và sau đó yêucầu nói lại. Lậplại cùng một sốlần thínghiệm như A.

Kếtquả nhậnxét: Dámchắc rằng đốitượng sẽ nhớ đúng nhiềulần hơn trong thínghiệm B, nếu sosánh với A. Lýdo giảithích là hai thínghiệm trên môphỏng giống như hai cáchviết tiếng Việt. Trườnghợp A, vì đốitượng phải đọc từng consố nên sau 3-5 giây chỉ kịpnhớ thoángqua mà thôi, và khôngcó thờigiờ để ônlại, nên dễquên. Ngượclại cho trường hợp B, đốitượng nhìnvào thì tựnhiên chỉ thấy có 4 lần để đọc và nhớ, vừa lẹhơn nên có thờigian ônlại trước khi hết thờihạn. (Thínghiệm này chỉnên dùng cho ai chưabiếtgì, và chỉmộtlần màthôi)

Thậtra, thínghiệm trên chỉlà một "mẹovặt" để nhớ một dãysố khicần, như bảng sốxe hay số điệnthoại, nhưng vôtình lại trùnghợp với những lýdo chothấy côngdụng của cáchviết nốiliền haichữ vớinhau. Nếu đểý, thì thấy ngay người Mỹ cũng thườngcó thóiquen ápdụng nhưtrên, nhấtlà thích dùng chữ viếttắt (acronym). Thídụ nămsinh là 1999 thì họ nói là 19 99, để tiếtkiệm thờigian. Biếtđâu đólà sảnphẩm tựnhiên của tríthôngminh!

b) Nãobộ của Einstein.

Một trong những khoahọcgia có maymắn xin được mộtchút mẫu "nãobộ" hiếntặng cho thếgiới khi Einstein quađời, là bà Marian Diamond, giáosư tại Berkeley (4). Bà cùngcác đồngnghiệp đã nghiêncứu mẫu não của Einstein, và côngbố một chitiết đáng chúý nhưsau:

Trong vùng số 9 (frontal lobe, tức vùng thùytrán), và vùng số 39 (parietal lobe, vùng baogồm trungtăm Wernicke, số 2 trong hình), tỷlệ của số dâythầnkinh(neuron) đốivới tếbàotruyền (glial cell) của Einstein, caohơn khánhiều nếu sovới 11 ngườiđànông sống khoảng trungbình 64 tuổi, tuổithọ của Einstein, và có tríthôngminh bìnhthường. Bà GS đã kếtluận đólà bằngchứng chothấy hai vùng nãobộ trên của Einstein đã làmviệc nhiều và mau hơn người bìnhthường, và cóthể giảithích phầnnào lýdo tạisao ông thôngminh hơn người!

V.- Hệqủa của vấnđề.

Dámchắc saukhi biếtđược các consố saibiệt trên, có người sẽ chorằng việcgì mà phải lo, càng chậm càng khỏe, đường nào cũng đitới Lamã! Câu trảlời, đây khôngphảilà vấnđề về thểxác như đichơi hay chuyện ănmặc. Đây là vấnđề thuộc trítuệ hay sự thôngminh, chậm ở đây sẽ là đồngnghĩa với kém thôngminh, và đôikhi cóthể lâmvào trườnghợp giốngnhư các pha đấusúng trên mànảnh, chậm là chết! Sauđây là những minhchứng cụthể cho lậpluận vừa nói trên:

Chúngta đã biết vùng số 2 đóng vaitrò trungtâmxửlý các tínhiệu thunhận từ cả hai vùng nghe và thấy. Đặcđiểm chính của vùng này là chỉ có khảnăng chứa một sốlượng giớihạn tínhiệu trungbình tươngđương với 7 sựviệc, và thờigian lưutrữ tínhiệu khoảngchừng một (1) phút. Dođó các trườnghợp sauđây thường xảyra:

1) Giảsử A và B cùng nghe hai thầy giảngbài tronglớp, theo hai cáchviết (hay nói) khácnhau, với nhịpđộ là 4 hệluận chứngminh cho một bàitoán. Nếu B vừa nghe kịp và ghixuống cả 4, thì A sẽ chỉ kịp nghe và ghixuống có 3 hệluận mà thôi, coinhư A chưa ghi kịp bàihọc. Trườnghợp này thường xảyra rấtnhiều, nhấtlà khi đang học mà bị chiatrí vì chuyện khác ở bênngòai chenvào. A bị coinhư là kém thôngminh hay chậmhiểu. Nếu trườnghợp thầy giảngbài chậmhơn vừađủ cho A hiểu, thì B sẽ có dư thờigiờ để lậplại trong đầu và nhớ lâuhơn, trongkhi A cóthể hiểu nhưng dễquên nếu khôngchịu họcthêm ởnhà. Đằngnào thì B cũng có ưuthế hơn hẳn A, kểcả khi đọcsách. Chắc các vị caoniên cònnhớ tạisao thờixưa, khi phươngtiện ấnloát bàivở còn thiếuthốn hay chưacó, việc họchành gặp khókhăn rấtnhiều, vì ít ai cóthể nghe thầy giảngbài mà hiểuliền. Mộtphần cũng bởi do vôtình vùng số 2 của quívị đã quen xửlý chậm, do những từ đơnâm của tiếng Việt. (Xinnhắclại, ngườiviết chỉ nói chung cho tậpthể, khôngkể đến những cánhân xuấtsắc.)

2) A bị chậm hơn khoảng 25% đã là thiệtthòi, nhưng nếu A phải lâmvào trườnghợp gọilà bị "mấttrí tạmthời" sauđây còn tệhại gấpbội. Do phảnứng tựnhiên, thídụ nếu vùng số 2 của A chỉcó khảnăng xửlý 3 sựviệc trong vòng 1 phút, thì vùng số 2 của A sẽ chỉ chịu nhận một lượng tínhiệu tươngđương từ các vùng tiếpthu sơkhởi. Và nhưvậy, nếu vôtình vì một biếncố quantrọng nào làm trởngại, chắcchắn sẽ xảyra hiệntượng tínhiệu bị ứđọng và "xóamất" ở vùng số 1 và số 5, vì thờigian lưutrữ tínhiệu của các vùngsơkhởi chỉ có khoảng 2 giây (theo ngônngữ máyvitính cholà bị pháhỏng hay"crash"). Giống yhệt như cảnh cả ngàn xe bị kẹt cứng ở xalộ, chỉ vì có một xe bị hưmáy phải chậmlại ở phíatrước, trong khi sốlượng xe ở phíasau vẫn tiếptục chạyđến thậtnhanh! Hiệntượng trên theo tâmlý còn gọi là bị "sảnghồn", hay nhẹhơn là "quýnhquáng" khôngcòn biết phải làmgì khi gặp cơn nguybiến, và những người càng "kém thôngminh" thì càng dễgặp. Dĩnhiên, B cũng cóthể bị nhưtrên, nhưng chắclà ít hơn.

3) Trong suốtcả đờingười khôngthể tránhkhỏi những khoảngkhắc đốidiện với taihọa hay nguybiến đang xảyđến. Thídụ như đang láixe giữa đường gặpphải conchó chạyngang, hay bị kẻbấtlương hămdọa v.v. Trong tíchtắc chớpnhoáng của thờigian suynghĩ cách giảiquyết vấnđề đó, chậm suynghĩ là cóthể nguy đến tínhmạng! Gặp những trườnghợp nguyhiểm nhưtrên, những người có vùng số 2 tốt cóthể thấuhiểu ngay tìnhhình (đồngnghĩa với thôngminh lanhlợi) thường giữ được bìnhtĩnh đốiphó và có nhiều cơhội thoáthiểm hơnlà những người bị "quýnhquáng" mất bìnhtĩnh gâyra như trong trườnghợp 2.

4) Trong các cuộc hộihọp hay thảoluận của ngườiViệt thường xảyra cảivả, làm rốiloạn trậttự do việc chẳngai chịu nghe ai nóicả! Trừ mộtsố những trườnghợp có dụngý hay chủtrương pháhoại, có ai ngờ rằng mộtphần nguyênnhân làdo vùng số 2 của các thamdựviên có vấnđề! Đây còngọi là hiệntượng bị "chảytràn" của trínhớ ngắnhạn. Thídụ, Diễngiả hay ông X có khoảng 4 vấnđề để trìnhbày, nhưng vùng số 2 của ông Y chỉ cóthể xửlý hay tạmthời lưutrử được tốiđa là ba (3) sựviệc. Vìvậy nênkhi ông X sắp tiếptục vào vấnđề thứtư, thì bị ông Y cắtngang để xin phátbiểu ýkiến phêbình nhắmvào 3 vấnđề vừa trìnhbày. Lýdo, vùng số 2 của ông Y đã chứa trànđầy các tínhiệu xửlý và đápứng, nếu nhậnthêm tínhiệu mới vào sẽ xóađimất cáicũ. Phảnứng báođộng "khẩntrương" trong tiềmthức chobiết khôngthể nhậnthêm tínhiệu từ vùng số 2 được phátra, làmcho ông Y phải quyếtđịnh lêntiếng phátbiểu, dùcó biếtrằng khôngnên làm nhưvậy! Kếtquả thường xảyra, Ông X sẽ phảnđối vì bị cắtngang, nhưng ông Ythì cứ thaothao xổra chohết ýkiến, vì sợ đểlâu sẽ quênđi! Nặng hơnnữa là trongkhi đốithọai, vì trínhớ ngắnhạn bị "chảytràn", ông Y sẽ phảnứng tiêucực bằng hànhđộng không muốn nghenói thêm gìnữa, và coinhưlà chấmdứt cuộc đốithọai!

Cộngđồng hay đoànthể từđó sẽ mang mầmmống của chiarẽ và hiềmkhích(!?). Đó cóthể là một trongnhững lýdo chính, va ?à cáigiá phảitrả vì do bệnh kémtrínhớ màra, nhưng cólẽ ít người hiểurõ được nguồngốc của vấnđề.

5) Trởlại trườnghợp sosánh của A và B, vì B có khảnăng tiếpthu xửlý nhiều kiếnthức hơn, nên có nhucầu cầndùng nhiều tếbào bộnhớ. Nếu A và B còn nhỏtuổi và nãobộ đang pháttriển mạnh, thì chắcchắn bộnhớ hay dungtích nãobộ của B sẽ pháttriển mạnh hơn A, theo đúngluật cungcầu trong thiênnhiên. Đólà "hiệntượng" tạmthời trong một thếhệ. Nếu cứ tiếpdiễn mãi quanhiều thếhệ, thì nó lại trở thành "bảnchất" theo ditruyền. Luật ditruyềnhọc này cóthể được giảithích giốngnhư câunói chúngta thường nghe " Con quan thì lại làmquan, ...". Cụthể minhchứng điều vừanói là dâncư ở thànhthị thường "lanhlợi" hơn ở nôngthôn, vì nhờ tainghemắtthấy nhiều chuyện hơn, một hìnhthức trựctiếp huấnluyện nãobộ do môitrường sinhsống màra.

Một dữkiện đưara với sựdèdặt vì cần kiểmchứng lại, hìnhnhư "chỉsố trán" nóichung của ngườiViệt thấp hơn sovới trungbình của cả thếgiới. "Chỉ số trán" này là tỷlệ giữa khoảngcách từ chântóc đến chỗ hai hàng mimắt giaonhau, chiacho khoảngcách từ chântóc đến cằm. Biếtđâu nguyênnhânchính là từ ngônngữ màra (?), vì chỉsố này ít tùythuộc vào việc dinhdưỡng hay chủngtộc. Mới cáchđây vàituần, các nhà nghiêncứu ykhoa của viện Rotman, Toronto (5), đã pháthiện và khẳngđịnh rõ phần nãobộ to bằng trái bida, ở phíatrên đỉnhđầu thuộc vùngtrán, đóng vaitrò của bộnhớ "dàihạn" (3). Nhớlại, chẳngphải là ngẫunhiên mà khoatướngsốhọc Áđông cũng chorằng những người có trán caoráo và rộngrãi thì thiếuniên hiểnđạt sớm, và được hưởng phúcđức của tổtiên (phúcđức này phảiđược hiểu nhưlà ditruyền về thểxác cũngnhư sựgiáodục của giađình). Phần trán nởrộng và cao thì chắchắn là có trínhớ "dàihạn" rất tốt, cólợi cho việchọchành thicử, và dĩnhiên là khảnăng suyxét tốtđẹp trong nhiều vấnđề.

6) Đasố các nước chậmtiến và nghèokhổ dovì chưacó một nền kinhtế ổnđịnh và pháttriển. Nhưng muốn có kinhtế vữngmạnh, thì điềukiện tiênquyết là các cơsở kinhdoanh, hay xínghiệp công cũngnhư tư, cầnphải có nhiều nhàquảntrị giỏi. Đặcđiểm chung của một nhàquảntrị giỏi, ngoài kiếnthức và hiểubiết, thì vùng số 2 (Wernicke) phải có khảnăng xửlý songsong nhiều việc cùngmộtlúc, vì hàngngày phải giảiquyết cả chục vấnđề, cókhi chỉ trong vàigiờ. Trên là lýdo giảithích tạisao ngườiViệt thường yếukém về khảnăng quảntrị, và biếtđâu ngônngữ đã đóngvaitrò của mộttrongnhững nguyênnhân chính (?).

7) Sởdĩ ngườiViệt học ngoạingữ thường gặp rấtnhiều khókhăn từ nghe cho đến nói, là vì do chúngta đã quen với lối đọc và nghe theo đơnâm, trong khi đasố các ngoạingữ khác đều thuộc dạng đaâm. Đi từ đơngiản đến phứctạp baogiờ cũng khó hơn là từ phứctạp đến đơngỉan. Chưa nóiđến việc phải dunhập những từ mới để làmgiầu thêm cho ngônngữ, chỉ những danhtừ chuyênmôn về khoahọc và kỹthuật cũng đã là trởngại chính choviệc giảngdạy và họctập rồi. Dámchắc khôngriênggì ở hảingọai mà hiện ở trongnước, nếu códịp đọc những bài chuyênkhảo về khoahọc, hiệntượng "songngữ" đã thấy xuấthiện nhiều và thườngxuyên, vì tácgiả tìm khôngra từ Việt, kẹtquá nên xàiluôn từ tiếngAnh (hay Pháp) trong bài! Nếu tiếngViệt được dùng như đaâm thì chắcchắn sẽ dễdàng hơn trongviệc soạnthảo thêm nhiều từchuyênmôn!

VI .- Kết luận

Qua nhữnggì đã được trìnhbày trên cơsở nghiêncứu khoahọc, thì sựtươngquan giữa ngônngữ và trítuệ khôngcònlà giảthuyết nữa, mà là một thựctế. Đốivới các dântộc hiện có ngônngữ theo đaâmtiết thì không đáng cho họ quantâm đểý làmgì, bằngchứng là chưahề có một chươngtrình khảocứu quymô nào "thuộcloại này" xuấthiện trên diễnđàn khoahọc, nhấtlà ở phươngtây. Cũng dễhiểu và thôngcảm, làvì chođếnnay khoahọc vẫn chưahiểubiết nhiềulắm sựvậnhành của nãobộ cho những phạmtrù về Tưtưởng, tríthôngminh, hay khảnăng sángtạo. Lýdo khác, khônglẽ một nước tiếnbộ ở ẤuMỹ lại chịubỏ tiềncủa và côngsức tìmhiểu, để nói hay báođộng cho các nước khác là : "Coichừng! Ngônngữ của quývị cóthể có vấnđề!" Điều vừa nói phảnảnh đúng phầnnào câuchâmngôn của ngườiViệt mình:" Đèn nhà ai nấy rạng". Ngượclại, đốivới các nước hiện có ngônngữ thiênvề đơnâm hay có nhiều từ đaâmtiết do ghéplại mà thành như tiếngViệt, thì khôngnhững vấnđề có tầmquantrọng quốcgia, màcònlà "khẩntrương" và "bứcxúc" của cả dântộc. Khôngphải chờ đến thếkỷ này, xuấthiện chothấy cáigọilà nền "kinhtế trithức", thì conngười mới cần đến trítuệ(?). Lịchsử đã chứngminh từlâu rồi: Quốcgia có hưmgvong, dântộc có trườngtồn, đấtnước có vănminh tiếnbộ haykhông là tùythuộc vào chỉmộtmình "nó" thôi! Nó đây chínhlà trítuệ, mà như đã minhchứng, chịu ảnhhưởng không ít của ngônngữ hay tiếngnói của dântộc đó.

Vấnđề thayđổi cáchviết hay ngônngữ sẽ không dễdàng và thoảimái, và chắcrằng nếucó thựchiện ngaybâygiờ, thì phải cần một thờigian vài chụcnăm trởlên mới thấy được kếtquả.

Đasố chúngta cóthể sẽ khôngthấy hết những thànhtựu của việclàm. Tuynhiên, lợiích thựctế trướcmắt nếu bắtđầu làm bâygiờ cho mọi ngườiViệt là chúngta sẽ có cơhội để "táihuấnluyện" hay tập cho nãobộ hoạtđộng tíchcực nhiềuhơn, nhấtlàcho các vị lớntuổi. Trong vòng vàinăm qua, đã có nhiều khảocứu chứngminh rằng nãobộ vẫn tiếptục pháttriển về phẩmchất và mộtít sốlượng các tếbào thầnkinh, bấtkể ở vào tuổitác nào. Thốngkê cũng chothấy những vịcaoniên nếu năng luyệntập tríóc, bằng các tròchơi có suynghĩ nhiều hay do từ côngviệclàm, sẽ kéodài tuổithọ lâuhơn là những vị ngồikhông hay chỉ biết vuithú điềnviên.

Sauhết, và cũng là chủđích của việc thayđổi, chínhlà nhắm vào thếhệ của những đứabé vừamới hay sắp được sinhrađời, vì theolẽtựnhiên, tấtcả đều bị bắtbuộc phải học ngônngữ thứnhất hay tiếng mẹđẻ. Chonên, nếu những kếtquả nghiêncứu trên đúng như đã chứngminh, thì cóthể nói mà khôngsợ sailầm, đólà mónqùa vôgiá mà chúngta cóthể mangđến cho những mầmnon, tươnglai của dântộc.

Quývị chủnhiệm, chủbút các phươngtiện truyềnthanh và truyềnthông; Quívị lãnhđạo các cơsở hộiđoàn giáodục và vănhóa; cùng quý đọcgiả, xinhãy cùngnhau tiếptay, khởiđầu cuộc hànhtrình manglại giấcmơ thịnhvượng và tiếnbộ trong thiênniênkỷ mới này cho dânViệt.

 

Nguyễn Cường

 

Về trước

   

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net