QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dương Anh Sơn

 

VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

(Kỳ 13)

 

 

III- MỘT SỐ HỌC THUYẾT KHÁC VỀ LÒNG NHÂN ÁI:

 

A- MẶC TỬ VÀ CHỦ TRƯƠNG KIÊM ÁI.

 

Mặc Tử là một trong những nhà tư tưởng lớn trong bầu trời học thuật Trung Hoa. Ong tên là Địch, sinh khoảng 490-479 và mất khoảng 403-382 (TTL) sau thời của Khổng Tử. Ong xuất thân từ con nhà nghèo làm lụng đủ nghề. Ong vẫn thường nói: "Địch tôi trên không có phận sự thờ vua, dưới không phải khó nhọc cày ruộng cho nên đâu dám bỏ việc đọc sách" (1: Nguyễn Hiếu Lê, Mặc Tử, Văn Hóa XB, 1995). Ông sớm theo học đạo Nho thông thạo Thi, Thư; Xuân Thu ít chú trọng lục nghệ, không ưa lễ, nhạc cho là xa xỉ, phiền toái. Ong là người mở đầu cho tư tưởng "Tri hành hợp nhất" nghĩa là những gì mình biết, mình nói và hành động phải đi đôi với nhau. Sau này Vương Dương Minh đã đưa tư tưởng này thành một học thuyết lớn mạnh vào thời nhà Minh (đời Hiến Tông, Hiếu Tông  1465-1506). Ong tuy học Nho nhưng tranh biện nhiều điểm và đề ra học thuyết mới: kiêm ái, phi công, thượng đồng, thiên chí, tiết dụng v.v... Đặc biệt học thuyết "Kiêm Ai" của ông được nhiều người đề cao.

Thời đại của Mặc Địch là một thời đại xảy ra nhiều cuộc tương tranh, nước mạnh đi chinh phục nước yếu. Ong đã bôn ba từ nước Lỗ qua Tống, Vệ, Sở, Tề, Việt để can ngăn vua các nước gây chiến tranh với một nhiệt tình không hề biết mệt mỏi. Tinh thần chống chiến tranh, yêu hòa bình, thương yêu khắp mọi người của ông khác với những kẻ như Tô Tần chỉ vì danh và lợi. Ong đã thành công trong việc thuyết phục Sở Huệ Vương ngừng đánh Tống, Lỗ Dương Văn Quân thôi đánh Trịnh. Với nhiệt tâm cứu đời ông đã đề ra thuyết Kiêm Ai bên cạnh thuyết Phi công.

Kiêm ái là gì? – Kiêm ái nghĩa là yêu hết thảy mọi người không kể thân hay sơ, gần hay xa nghĩa là yêu tất cả con người trong thiên hạ. Sau đây là một số nét căn bản về "Kiêm ái":

- Vì yêu thương hết thẩy loài người nên ông khuyên làm việc gì không nên nghĩ đến lợi ích riêng tư mà phải nghĩ đến cái lợi cho cả thiên hạ, loài người. Ong bôn ba ngăn cản chiến tranh từ nước Lỗ, Tề, Tống, Vệ... không làm lợi cho nước nhỏ như Tống, Lỗ, không làm mạnh thêm cho nước lớn như Tề, Vệ... Nhiệt tình của ông không nằm trong việc phục vụ nước này, nước kia, vua này vua nọ mà vì thương yêu con người, sơ rằng chiến tranh sẽ đem nhiều tai họa cho họ. Mặc Tử thường nói: "Người có lòng nhân làm việc là để gây điều lợi, trừ hại họa cho thiên hạ" (Nhân nhân chi sở dĩ vi sự giả, tất hưng thiên hạ chi lợi, trừ khử thiên hạ chi hại – Mặc Tử, Kiêm Ai trung).

- Kiêm ái là yêu nhau và làm lợi cho nhau (giao tương lợi).

- Kiêm ái của Mặc Tử chú trọng đến "Nghĩa" xem nghĩa như sinh mạng và quí hơn tất cả những gì ở đời (Vạn sự mạc quí ư nghĩa – Kiêm Ai trung). Làm lợi cho khắp thiên hạ, cho tất cả mọi người là một hình thức của "Kiêm ái" tức là quí trọng "nghĩa".

- Kiêm ái cũng gắn chặt với việc chống chiến tranh. Mặc Tử xem việc đi gây chiến là chuyện bất nghĩa, bất nhân. Giết người trong khi đi chiếm nước khác, càng nhiều người chết thì càng "đại bất nghĩa. Nói khác hơn, để chiếm đất đai nước khác, chiếm của cải, bắt dân chúng nước bị chiếm làm nô lệ là bất nhân, là "đại bất nghĩa". – Tuy nhiên, thuyết "Phi công" (Không làm điều bất nghĩa như gây chiến tranh) cũng cho rằng nước nhỏ vẫn phải tích lương, nuôi quân, sửa sang thành quách, lo võ bị để tự vệ và liên kết các nước khác chống lại nước lớn "bất nghĩa".

Mặc dầu học thuyết "Kiêm ái" của Mặc Tử có nhiều chỗ hơi thái quá nhưng những gì Mặc Địch đưa ra và những gì ông đã làm trong suốt đời để gìn giữ hòa bình, thuyết phục các vua nước lớn đừng gây chiến tranh đã cho thấy con người của ông xứng đáng với những gì ông đã đề ra. Đó là một kẻ sĩ của đạo Nho.

 

B- BÁC ÁI CỦA KI-TÔ GIÁO

 

Bác ái là một lòng yêu thương rộng rãi (‘bác’ là rộng khắp) hướng đến mọi người. Ngoại trương của bác ái không giới hạn trong một cá nhân, gia đính hay tập thể. Ngoại trương ấy làm bác ái có vẻ giống với ‘kiêm ái’ của Mặc tử. Với bác ái, người ta đặt mình trước một “người khác” nói chung mà mình cảm thấy phải yêu thương như một phần tử của nhân loại mà mình có dự phần. Chúng ta hãy xác định những đặc tính của bác ái.

 

1. Bác ái là một tình yêu vị tha.

Tình yêu, ví dụ tình phụ tử (amour paternel), tình yêu vợ chồng (amour conjugal) là một sức hấp dẫn của tình cảm hướng người ta về một đối tượng. Sự hấp dẫn ấy đáp ứng một khuynh hướng, thỏa mãn một nhu cầu nên luôn luôn đòi hỏi có đi và có lại. Một tình yêu đơn phương đơn phương sẽ đi đến chỗ tàn lụi. Bác ái cũng là tình yêu nhưng ở phạm vi rộng nhất. Nó bước qua mọi ranh giới đoàn thể, không bị nhu cầu thúc đẩy hay trông chờ một lợi ích. Khi cúi xuống những đau khổ của một người anh em đồng loại, người có lòng bác ái không đòi hỏi một sự đáp lại hay đền bù nào cả. Bác ái là một tình yêu vô cầu và vị tha.

Các triết gia Kinh viện chia tình yêu làm hai loại: tình yêu thị dục (Amour de concupiscence – Eros) hướng đến sự chiếm hữu tha nhân hay ngoại vật cho lợi thú của mình, và tình yêu hảo tâm (amour de bienveillance – Agapé) chủ yếu muốn điều tốt lành cho người khác mà không cầu lợi cho mình. Theo thuật ngữ của các nhà phân tâm học, bác ái chính là tình yêu hiến dâng (amour oblatif), dâng hiến mình để phục vụ đối tượng, trái với tình yêu chiếm đoạt (amour captatif) muốn chiếm lấy đối tượng làm sở hữu.

 

2. Bác ái là một tình yêu thấm nhuần trí tuệ.

Tình yêu đặc con người vào bình diện cảm năng, nhưng sự đồng cảm trong bác ái, nhưng sự đồng cảm của bác ái có thể nói là thuần khiết, một rung động của tinh thần không phải sự rung động thụ động của cảm xúc thông thường. Nói cách khác, bác ái không giống tình yêu bình thường bắt nguồn từ bản năng sinh lý mà từ một sự cảm thông thấm nhuần trí tuệ làm chúng ta luôn tỉnh thức và vượt lên cao. Cái phần trí tuệ này rất quan trọng vì nó giúp ta dũ sạch những vẫn đục của tình ái thông thường và phá bỏ những sự ràng buộc của thị dục.

 

3. Bác ái là một tình yêu thần bí.

Điều này thấy rõ trong Ki-tô giáo còn được gọi là đạo bác ái (tiếng Latinh là caritas) vì như chúng ta đã biết bác ái là một nhân đức quan trọng của đạo ấy. Phúc Âm đã viết: "Con phải yêu Thiên Chúa là Chúa của con với hết tấm lòng" và "Giống như thế, con phải yêu người khác như chính con" (Mt. 22, 37-39). Yêu Chúa và yêu người là hai mặt của một đồng tiền. Tình yêu đồng loại nơi người tín hữu là sự nối dài (prolongement) của tình yêu Chúa đối với người ấy. Vì thế trong hành vi bác ái người tín hữu là một đại diện của Chúa hay là một Chúa-khác (autre Jésus). Do đó bác ái là lập lại sự sáng tạo, cứu độ, yêu thương của Chúa đối với mọi người qua bản thân người tín hữu như lời Đức Giêsu đã dạy các môn đệ: “Anh em hãy yêu thương nhau như  Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 14:34)

 

4. Bác ái là một tình yêu nhắm vào con người như một giá trị cao cả. 

Song song với một quan điểm thần bí trên là một quan điểm nhân bản về bác ái có từ thời cổ đại trong tư tưởng của các triết gia Khắc kỷ. Đối tượng mà bác ái nhắm tới được nân lên một giá trị cao cả và chỉ có bác ái mới xứng đáng với người ấy. Người bệnh phong mà tôi đến thăm trở thành một người anh em cao quý của tôi trong hành vi bác ái. Và chúng ta qua hành động bác ái phải nói như Kant đã nói, rằng con người là một cứn cánh tự tại của đạo đức.

Dĩ nhiên quan điểm nhân bản này không hoàn toàn độc lập với quan điểm thần bí và cả hai có mối quan hệ tất yếu với nhau nếu chúng ta nhớ đến danh xưng Ecce Homo / Này là Người (Ga 19: 5) khi tổng trấn Philatô giới thiệu Đức Giêsu với người Do Thái trong ngày Người bị họ vu cáo và giết chết. Vì thế quan điểm nhân bản này cũng chính là nhân bản Ki-tô giáo. (Có thể đọc thêm: MARCEL LÉGAUT, L’homme à la Recherche de son Humanité, Nxb Aubier , 1985).      

 

C- TINH THẦN TỪ BI TRONG ĐẠO PHẬT:

 

Như đã đề cập ở những phần trên, đạo Phật ra đời từ sự nỗ lực và trí tuệ của con người có tên là Gotama (Cồ Đàm). Đó là một mẫu người rất hoàn thiện về nhân cách luôn đề cao vai trò của con người. Một cách đơn giản Từ (mettà) là tình yêu thương rộng lớn, vô biên đối với mọi chúng sinh trong đó có con người không chút phân biệt như "một người mẹ thương yêu đứa con duy nhất". Còn Bi (Karunà) là lòng trắc ẩn đối với mọi khổ đau, phiền não và hoạn nạn của mọi chúng sinh trong đó có hoạn nạn và sự khổ đau của con người không hề phân biệt. Con đường thoát khổ hay là sự giải thoát là con đường không dành cho riêng ai cả.

Phật Thích Ca đã thường giảng giải: "Như người mẹ âu yếm con mình; cũng vậy, phải giữ lòng nhân từ yêu thương vô lượng với toàn thể chúng sinh ở trên, ở dưới, ở bên cạnh ta mà không hề oán ghét, hiềm thù, ghen tuông" (Sutta-Nigata).

"Từ bi là lòng yêu thương, là ánh sáng chiếu soi vào cái ác và oán thù" (Mâjjhima-Nikâya). Hơn ai hết, đức Phật đã thấy rõ được hố ngăn cách loài người chính là sự hận thù mà chỉ có lòng từ bi, tình yêu thương đích thực mới đem lại hòa bình và an vui cho chúng sinh, cho loài người. Đức Phật đã nhắc nhở: "Hận thù không bao giờ dập tắt hận thù, mà chỉ được dập tắt bởi tình thương. Đó là sự thật muôn đời" (Dhammapada, 15).

Ngày nay, thông điệp của đức Phật càng có ý nghĩa lớn lao trong một thế giới nhiều bạo loạn, chiến tranh, hận thù vẫn đang diễn ra hằng ngày ở nhiều nơi. Chúng ta có thể định nghĩa một cách khác về lòng từ bi theo lời đức Phật:

- "Từ bi là sự thắng lướt hận thù, lấy lòng tốt đối lại với sự xấu xa, lấy bác ái đối lại với lòng ích kỷ và lấy sự chân thật đối lại với gian tà" (Dhammapada – Pháp Cú Kinh).

Tóm lại, người có lòng từ bi theo nhà Phật là người đã vượt lên trên sự ham muốn giữ phần thắng cũng như sự thất bại để có được sự an vui, hạnh phúc. Hạnh phúc an vui của Thúy Kiều trong Đoạn Trường Tân Thanh về sau này đã có được vì nàng Kiều đã chiến thắng chính bản thân nàng khi thấy rõ lòng mình ("Hoa tàn mà lại thêm tươi" hoặc "Tẻ vui cũng bởi lòng này mà ra"). Cho nên, Phật cũng đã lưu ý: "Kẻ chiến thắng sẽ nuôi thêm hận thù nơi kẻ khác, kẻ chiến bại sẽ nằm xuống trong đau khổ. Người nào từ khước cảthắng cũng như bại sẽ được hạnh phúc, an vui" (Dhammapada).

Có nhiều người sẽ nói rằng quan niệm từ bi của đạo Phật rất cao đẹp nhưng không thực tiễn, khó áp dụng. Nhưng kinh nghiệm thực tiễn lại cho thấy rằng có bao giờ ác độc, bạo tàn phải lấy sự ác độc và tàn bạo để trừng trị cũng như hận thù làm sao dập tắt được bởi thù hận đâu! Nhiều người chúng ta ở các thế hệ gần đây và hôm nay từng nghe Nguyễn Trãi nói: "Lấy đạo nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" (Bình Ngô Đại Cáo). Cách nói của Nguyễn Trãi, một nho sĩ từng thấm nhuần đạo lý của nhà nho và tư tưởng từ bi của đạo Phật, đã nêu cao tình thương yêu hay đức nhân để thắng sự hung bạo, tàn ác. Đây là con đường gần nhất, hay nhất để hóa giải hận thù với nhà Minh sau khi bị Lê Lợi và dân ta đánh bại. Phải chăng đó là lòng nhân ái đậm màu sắc Việt Nam và đã trở thành một truyền thống tốt đẹp mà chúng ta cần tiếp tục giữ gìn và phát huy?

Tóm lại từ bi trong đạo Phật phát xuất từ lòng yêu thương con người và rộng hơn yêu thương muôn loài (chúng sinh). Đó là thông điệp về sự khoan hồng và bao dung, về sự hiểu biết và cảm thông, về chân lý và trí tuệ, trong đó, sự tôn trọng đối với mọi sự sống, tôn trọng và giải thoát những khổ đau, dứt bỏ ích kỷ, hận thù và bạo động. Hơn bao giờ hết trong thời đại nhiều bất ổn và chia rẽ khắp nơi trên thế giới, thông điệp về lòng từ bi, về lòng yêu thương rộng khắp vẫn là những lời dạy hữu ích, thiết thực.

 

IV- NHẬN XÉT CHUNG VỀ LÒNG NHÂN ÁI:

 

1/ Trước hết dù thể hiện dưới bất cứ hình thức nào, lòng nhân ái trước hết phải lòng yêu thương và tôn trọng con người thực sự. Yêu thương cuộc sống là phải biết yêu thương con người và sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ con người khi họ khổ đau, bệnh tật, hoạn nạn, nghèo khó v.v... Và điều căn bản của lòng nhân ái là tinh thần vì người (vị tha). Yêu thương con người và sẵn sàng giúp đỡ họ với một tấm lòng nhân hậu, bao dung, độ lượng và cần tránh việc biến lòng yêu thương thành bé nhỏ, dễ đi đến sự ích kỷ. Khi chúng ta chia sẻ, thương xót những người bị thiên tai như sóng thần, động đất hoặc bị chất độc hóa học do chiến tranh gây ra chẳng hạn, trái tim nhân ái trong chúng ta sẽ hướng về những nạn nhân của hiểm họa bất kể họ là ai, tôn giáo nào, màu da nào, chế độ chính trị nào. Lòng nhân đạo còn phân biệt sẽ nhỏ nhoi biết bao và sẽ đi ngược lại mọi lý tưởng về lòng nhân ái, về tình người. Nhân loại ngày nay với sự chia rẽ vì màu da, vì giàu nghèo, vì hận thù đã gây ra biết bao nhiêu đau khổ cho con người. Lại gần với nhau với một sự chân thành, quên đi những đố kỵ thù hằn và ân cần chia sẻ, giúp đỡ nhau bằng tình cảm con người hầu giúp cho thế giới được tốt đẹp hơn lên. Do đó, mỗi một cá nhân, mỗi quốc gia và rộng hơn cả nhân loại nếu hướng về việc nuôi dưỡng lòng nhân ái chắc chắn thế giới sẽ xích lại gần nhau hơn và hòa bình thế giới không còn xa xôi nữa.

 

2/ Sự tăng trưởng về kinh tế đem lại ấm no thịnh vượng cho con người là một điều tốt đẹp. Nhưng nhân loại sẽ tốt đẹp hơn nếu mỗi con người biết xây dựng lòng nhân ái đem lại sự tăng trưởng về mặt đạo đức. Và một khi con người biết "sống tử tế với nhau", sống hòa hợp và biết chia sẻ với nhau thì hòa bình chắc chắn sẽ ló dạng đem lại bình minh tươi sáng cho loài người. Ngày nay, nhiều quốc gia văn minh, tiến bộ đều khuyến khích mọi thành phần xã hội có điều kiện nên tham gia vào các công cuộc từ thiện bằng nhiều hình thức như: tình nguyện làm việc từ thiện, đóng góp cho các quỹ từ thiện phi chính phủ, tham gia các hoạt động nhân đạo do nhiều tổ chức tư nhân hoặc chính phủ v.v... Những hoạt động như thế có tác động khơi dậy lòng nhân ái sẵn có trong mỗi con người cũng như làm cho cuộc sống có ý nghĩa và tốt đẹp hơn lên. Chúng ta có thể nói rằng một khi lòng nhân ái được trải khắp và nhân rộng chắc chắn đạo đức con người sẽ nở hoa và đem đến hạnh phúc thực sự. Tình người, tình nhân loại sẽ là sợi dây liên kết con người khắp thế giới xích lại với nhau. Và ý nghĩa cao cả của lòng nhân ái sẽ xóa đi mọi sự thù hận, sự dị biệt về ngôn ngữ, địa phương, màu da, sắc tộc vì rằng lòng nhân ái đích thực sẽ không có biên giới phân cách. Việc Bill Gates ở Mỹ là một điển hình khi cống hiến phần lớn tài sản của mình cho các công cuộc từ thiện. Những điều ông ấy làm đã lay động nhiều tấm lòng các người giàu ở Mỹ. Đó là tấm gương của lòng nhân ái đáng trân trọng và đề cao.

 

3/ Mẫu số chung mà chúng ta có thể rút ra được từ lòng nhân ái của Khổng Mạnh, Kiêm Ai của Mặc Địch, Bác ái của Ki tô giáo, Từ bi trong đạo Phật là lòng yêu thương con người. Con người sống trong trái đất này sẽ gần gũi nhau hơn khi biết yêu thương và biết tôn trọng nhau. Những lò lửa chiến tranh chỉ được dập tắt khi biết gạt bỏ những khác biệt, tị hiềm, thù hận trong quá khứ và hiện tại để ngồi lại với nhau. Hòa bình cho nhân loại cũng từ con người và gây ra chiến tranh cũng bởi con người. Sự thiếu hiểu biết lẫn nhau, thiếu tình con người với nhau, thiếu tôn trọng nhau cùng với hố ngăn cách về tôn giáo, chính trị, giàu nghèo, chủng tộc và nhất là việc đề cao hận thù là nguyên nhân cho những bất ổn hiện nay trên thế giới.

 

4/ Khi đề cập lòng nhân ái, chúng ta hẳn thấy đây là con đường mà các hiền nhân cũng như biết bao thế hệ cha ông chúng ta từng ấp ủ và thực hiện trong cuộc sống. Lịch sử dân tộc ta đã cho thấy rõ các triều đại như nhà Lý, nhà Trần đã đề cao và thể hiện lòng nhân ái, đức khoan dung từ vua quan bên trên cho đến dân chúng bên dưới. Đó là những thời kỳ tốt đẹp của lịch sử dân tộc. Kế tục truyền thống ấy để có thể củng cố đạo đức và sự đoàn kết, gắn bó của các bộ phận dân tộc. Lòng khoan dung, đức nhân ái là di sản quí giá mà cha ông đã để lại trong quá trình dựng nước và giữ nước. Hình ảnh dân tộc Đức khi xóa bỏ bức tường Bá Linh ngăn cách đã xếp bỏ quá khứ do hoàn cảnh lịch sử để lại cùng nắm tay chia sẻ sự giàu có đã đưa nước Đức vào một giai đoạn phát triển mới: vừa trở thành đất nước thống nhất giàu mạnh, vừa nêu cao tinh thần đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Đó là một tấm gương cho bất cứ một dân tộc nào tự hào về truyền thống dân tộc và giàu lòng nhân ái ở một giai đoạn mới của lịch sử thế giới.

 

5/ Một dân tộc đã có cả ngàn năm tiếp thu, học hỏi và áp dụng tinh thần Nho học vào việc dựng nước và giữ nước, trong đó lòng nhân ái đã được cha ông ta khéo léo vận dụng vẫn giữ được các nét tinh túy và hòa cùng màu sắc dân tộc. Chính nhờ tinh thần ấy, dù trải qua biết bao lần bị xâm lược, bị đô hộ, bị lệ thuộc nhưng đất nước và dân tộc vẫn vững vàng. Yêu thương nòi giống, yêu quê hương, đất nước là sự thể hiện lòng nhân ái cao đẹp. Đồng thời, trong thời đại hiện nay việc bảo vệ đất nước vẫn cần lấy tinh thần nhân ái làm kim chỉ nam để hướng đến việc bảo vệ nền hòa bình khắp thế giới cùng với các dân tộc yêu chuộng hòa bình khác.

 

Dương Anh Sơn

Cựu GV trường TH Ninh Hòa

(Xem tiếp kỳ 14)

 

Cùng tác giả

 

>> VỀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC :

 

I  KỲ 1  I  KỲ 2  I  KỲ 3  I  KỲ 4  I  KỲ 5  I  KỲ 6  I  KỲ 7  I  KỲ 8  I  KỲ 9  I  KỲ 10  I

I  KỲ 11  KỲ 12  I

 

>> Vài suy nghĩ về sự sành điệu

 

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com