QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHA TRANG XUỐNG CHỤT BAO XA…


Du khách đến Nha Trang, có dịp đi thăm Biệt thự Cầu Đá (còn gọi là Lầu Bảo Đại), Viện Nghiên cứu Biển hay Hồ cá Trí Nguyên đều phải qua Chụt, một xóm biển nằm cuối đường Trần Phú nối dài, nổi tiếng với những cửa hàng lâu đời bán đồ mỹ nghệ vỏ hải sản và cả món ăn dân dã bánh canh chả cá.

Nhưng Chụt nghĩa là gì ? Tại sao gọi là xóm Chụt ? Khi có người tò mò hỏi như vậy thì hầu như dân địa phương đều trả lời: Chụt là do tiếng Pháp mà ra. Người Pháp viết Chutt, mình đọc là Chụt. Có đúng vậy không?

Thời Pháp thuộc, khi chính quyền thực dân tráng nhựa con đường ven bờ biển từ Tòa Sứ chạy thẳng xuống Cầu Đá (lúc đó có tên là Avenue de la Plage), họ đã đặt trụ cây số và khắc lên đó chữ CHUTT. Theo đó, các hàng quán nằm hai bên đường xóm Chụt có lẽ muốn Tây hóa nên đều ghi địa chỉ trên bảng hiệu là Chutt. Và chữ Chutt dần dần ăn sâu trong cách viết, cách nói của người địa phương, cho tới bây giờ, nhiều người vẫn tin chắc đó là tiếng Pháp.

Thực ra, trong tiếng Pháp không có từ Chutt mà chỉ có Chut - một thán từ có nghĩa là “im, làm thinh”, hoặc từ Chute nghĩa là “rơi, rớt, sụp đổ”...

Vậy CHUTT, theo chúng tôi, chỉ là cách người Pháp ghi âm tiếng Chụt, một từ thuần Việt có mặt đàng hoàng trong tự điển.

Sách “Đại Nam Quấc Âm Tự Vị ” của Huình Tịnh Paulus Của xuất bản tại Sài Gòn năm 1895, một trong những quyển tự điển cổ về tiếng Việt Nam bộ, giải thích như sau:

- Chụt: vũng nhỏ ở dựa gành có thể cho ghe thuyền núp gió.

Lại còn ghi rõ địa danh “Chụt Nha Trang” là “Chỗ núp gió ở tại Nha Trang về tỉnh Khánh Hòa” (1).

Trong một bài vè kể lại thủy trình từ Huế vô Sài Gòn của dân ghe bầu - tức dân đi buôn bằng ghe thuyền trên biển ngày xưa - có đoạn:

“Nha Trang xuống Chụt bao xa

Kẻ vô mua đệm, người ra mua chằng

Anh em mừng rỡ lăng xăng

Người hỏi thăm vào, kẻ hỏi thăm ra

Anh em chè rượu hỉ ha ...” (2)

Sách “Đại Nam nhất thống chí ” (ĐNNTC) - quyển XI: tỉnh Khánh Hòa, bản in đời Tự Đức - khi viết về “Tấn Cửa Bé Cù Huân” cũng chép như sau: “Hòn Lam Nguyên có dân cư, phố xá liên tiếp nhau, gần đó là thôn Trường Tây, tục gọi là phố Đột, lưng tựa vào núi, mặt trông ra biển, mùa thu mùa đông gió to tung cát không thể ở được, phải dời đến hòn Lam Nguyên, đến mùa xuân mùa hạ lại trở về.” (3)

Trong đoạn văn trên, có mấy chi tiết đáng chú ý:

- Hòn Lam Nguyên - sách ĐNNTC bản in đời Duy Tân lại chép là Bồng Nguyên (ở đây có thể có nhầm lẫm trong khi sao chép, vì chữ Lam và chữ Bồng trong Hán tự có tự dạng rất giống nhau) - chính là đảo Trí Nguyên hiện nay, một làng đảo thuộc phường Vĩnh Nguyên, T.P Nha Trang, chỉ cách Cảng Cầu Đá khoảng vài mươi phút đi đò. Đa số người dân sống trên đảo đều là bà con, dòng họ với dân xóm Chụt.

- Trong nguyên tác chữ Hán, ĐNNTC chép tục danh của thôn Trường Tây là “Đột phố”, bản tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội phiên là “phố Đột”. Ở Nha Trang không có địa danh nào gọi là phố Đột. Theo chúng tôi, đúng ra từ này phải phiên là “cửa Chụt” hoặc “bến Chụt”. Từ “phố” trong tiếng Hán cổ có nghĩa là cửa biển hoặc bến cảng (ví dụ cảng thị Hội An xưa kia có tên là Hoài Phố). Còn “đột”, thật ra là cách ký mã Hán-Việt của âm Nôm “Chụt”.

Qua đó, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

- Chụt là một địa danh thuần Việt đã có trước khi người Pháp đặt chân tới Nha Trang.

- Xóm Chụt là tục danh của làng Trường Tây - trước đây thuộc xã Vĩnh Nguyên, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh, nay là khóm dân cư Tây Hải thuộc phường Vĩnh Nguyên, T.P Nha Trang. Xưa kia cuộc sống, sinh hoạt ở Chụt diễn ra khá xô bồ, tấp nập. Dân ghe bầu từ Nam ra Bắc hoặc từ Bắc vô Nam đều ghé Chụt. Họ mừng rỡ gặp nhau, chén thù chén tạc vui vẻ, trao đổi tin tức, tình hình mua bán. Họ cũng không quên mua lá buông để kết đệm buồm và song mây để chằng cột buồm - hai loại lâm đặc sản của rừng núi Khánh Hòa hồi đó được bày bán rất nhiều ở Chụt.

CHÚ THÍCH:

(1) Huình Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quấc Âm Tự Vị, bản in lại của nhà sách Khai Trí Sài Gòn, tr. 172.

(2) Bửu Cầm, Hải môn ca, Văn hóa nguyệt san, tập XIII quyển 9, Sài Gòn 1964.

(3) Đại Nam nhất thống chí, tập III, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1971, tr. 106.

(4) Một trường hợp tương tự: địa danh “Lư Cấm” ở phường Ngọc Hiệp, TP. Nha Trang thật ra chỉ là cách ký mã Hán Việt của “Lò Gốm” (vùng này vốn có nghề làm gốm lâu đời) chứ không có nghĩa là cái “lư cắm nhang” như một số người đã giải thích!

Nguyễn Man Nhiên

 

Bài cùng tác giả

 

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Ăn giỗ đi trước

>> Mỹ nghệ vỏ hải sản ở Nha Trang

>> Ngày xuân nhớ lại một số tục cổ, nếp xưa

>> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

>> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

>> Món ngon trên đời

>> Về địa danh Vịnh Vân Phong

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

>> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

>> Nếp xưa, Tết Việt

>> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

>> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

>> Đi tìm di tích Dinh xưa

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

>> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com