QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhân Định Thắng Thiên!

Nguyễn Cường

nước lụt trước chợ Dinh NH

 

Chỉ trong vòng vài năm gần đây, nhất là năm nay, bổng nhiên tin lũ lụt hoành hành khắp cả miền Trung, không chừa ra một tỉnh lỵ, thị xã hay quận huyện nào. Nếu không nhầm thì hình như chu kỳ lũ lụt của miền Trung ngày càng gia tăng đến mức độ báo động. Năm nào cũng nghe người dân kêu than xin cứu trợ khẩn cấp, năm nào báo chí trong và ngoài nước cũng kêu gọi lòng từ thiện cuả đồng bào, những nhà hảo tâm khắp nơi tiếp tay giúp đỡ. Mở trang mạng "Khuyến Học Ninh Hòa" đọc ở phần thông tin, thấy toàn chuyện đau khổ của người dân bị trấng tay vì lũ, hết lũ lịch sử 2008, lại đến lũ 2010..., và biết đâu lại sắp tới "Trận Lụt Thế Kỷ Nhâm Thìn 2012"(!?)

Năm nào rồi cũng “Đến hẹn thì lũ lụt lại tới”, mực nước báo động lại dâng lên tràn ngập đồng ruộng muà màng, cuốn trôi theo giòng nước biết bao nhiêu là tài sản cuả cải, chưa kể đến sinh mạng cuả những người dân vô tội. Tạm bỏ qua những nguyên nhân gây ra lũ lụt nhưbiến đổi khí hậu hay khai thác rừng lấy gỗ quá mức hợp lý, vai chính hay vai phụ vẫn là do việc xây cất thêm các “hồ thuỷ điện” và chuyện “xả lũ” trên thượng nguồn. Được biết, ngoài nguyên nhân mưa lớn gây ngập lụt, thì việc xả lũ hồ thủy lợi Đá Bàn (Ninh Hòa) là một trong những tác nhân chủ yếu.

Dù là nguyên nhân nào hay bất cứ lý do nào, câu hỏi đặt ra đây: Liệu có thể giải quyết chuyện lũ lụt miền Trung được không? Câu trả lời có thể được khẳng định ngay: Vấn đề giải quyết chuyện lũ lụt miền Trung thật ra không khó mấy dưới góc nhìn về kỹ thuật thuỷ lợi. Nhưng sao đến nay sau gần hơn nữa thế kỷ, vẫn còn chưa thấy ai xúc tiến thực hiện, để cho dân phải than van “Trời hành cơn lụt mỗi năm...” (!?)

Điều thắc mắc lớn nhất chính là tại sao phải ngồi chờ đợi đến khi bão táp phong ba ùn ùn kéo đến, nước sông dâng lên tới mức báo động khẩn cấp, rồi mới huy động nhân dân cùng quan chức rũ nhau đi chống lũ(!?). Tại sao không huy động cùng một lực lượng nhân sự, tài nguyên nhưvậy để phòng ngừa và chống lũ lụt từ lúc nó chưa xuất hiện, trước đó 5, 10 hay cả trăm năm?

Trước vấn nạn về chuyện lũ lụt, bài viết này chỉ muốn trình bày một kỹ thuật cơbản về thuỷ lợi, đã được xử dụng từ lâu đời, nhưng lại rất hữu hiệu và cho kết quả tối ưu nhất để giúp giải quyết đứt điểm vấn đề “Trời hành cơn lụt mỗi năm” ở miền Trung. Hy vọng rằng nếu đề nghị này được thực hiện sớm thì chắc chắn là người dân ở tại mỗi điạ phương, hàng năm sẽ không còn phải chịu đau khổ trước cảnh trắng tay vì bao nhiêu công lao, tài sản có thể bị tan biến trong giây phút theo dòng nước lũ.

Đa số người dân bình thường đều biết nguyên nhân gần và trực tiếp cuả lũ lụt mà không cần phải là chuyên gia thuỷ lợi. Nguyên do chính là lượng nước mưa quá nhiều do các trận bão lớn làm đất đai gần như bị thấm ướt và bão hoà, không thể hấp thu và chứa thêm nước. Đồng thời, sức chứa cuả các dòng sông lại bị quá tải, lưu lượng nước từ trên cao nguyên và thượng nguồn chảy về quá nhiều (kể luôn nước xả lũ từ các hồ thuỷ điện, nếu có), lượng nước trong các con sông không thể kịp thoát ra biển, chảy tràn lan ra ngoài và tạo thành lũ lụt.

Từ đó, cách giải quyết dứt điểm cho các trận lũ lụt trong các mùa mưa bão là hãy tạo cơ hội cho lưu lượng nước từ các con sông chảy thoát ra biển nhiều hơn và kịp thời, trước khi mực nước các sông vượt cao quá sức tải. Cách giải quyết hữu hiệu nhất cho các tỉnh miền Trung, là cho đào những con kênh thoát nước từ những nhánh sông nằm gần giữa thượng nguồn để dẫn ra biển.

Có thể được minh chứng bằng cách xét đến các vùng ít bị lũ lụt hay không bị thiệt hại nhiều, là do nhờ nằm gần sát ven biển và có nhiều con sông hay các hồ nước nhỏ. Cụ thể như trong Khánh Hoà, quận Vạn Ninh tương đối chịu rất ít nạn lũ lụt hàng năm vì có đến bốn (4) con sông, Tô Hạ, Bình Sơn, Vạn Giã và Cầu Lắm (Quách Tấn, Xứ Trầm Hương, Trg 120) nằm trong điạ hình quận, cho thoát ngay một lưu lượng nước rất lớn ra biển. Trong khi hai quận Ninh Hoà và Diên Khánh ở kế bên thường có lũ lụt vì mỗi quận chỉ có một con sông Dinh (hay Sông Cái) và thị trấn chính lại nằm ở cách xa bờ biển.

Không có sông thiên nhiên thì làm sông nhân tạo! May mắn nhất cho công việc chống lũ lụt ở miền Trung chính là khoảng cách rất hẹp giữa núi và biển. Nhờ vậy, các con kênh đào sẽ không quá dài, không những giảm bớt chi phí xây dựng mà thời gian thi công cũng không quá lâu. Mặt khác, nhờ dãy Trường sơn chạy ra gần sát biển, nên hầu hết các vùng bình nguyên ở miền Trung đều nằm trong khoảng từ 10 đến 20 cây số (km) giữa núi và biển. Nhưvậy, trung bình các kênh đào sẽ có chiều dài trong vòng 10 km hay ngắn hơn.

Đặc điểm riêng của những kênh đào nói trên là được trổ ra trực tiếp từ các con sông chính cuả vùng bị lũ lụt, có đặt những cánh cửa nước đóng hay mở tự động giống như các hồ thuỷ điện, và được điều khiển bằng điện hay bằng tay. Tuy nhiên, nhằm tránh làm cho lưu lương cuả con sông chính yếu đi, những kênh chống lụt thuộc loại này chỉ được mở cho nước sông thoát ra, khi dự đoán thời tiết biết chắc có mưa bão lớn, hay mực nước sông chính bắt đầu dâng cao gần mức báo động đầu tiên. Ngoài ra, trong muà hạn hán, các cửa kênh cũng có thể được mở ra để cung cấp nước một cách hạn chế cho các nông dân có nhu cầu riêng.

Vấn đề kích thước to nhỏ cuả các con kênh đào chống lụt tuỳ thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chánh cuả chính quyền điạ phương hay sự hổ trợ từ nhà nước, dĩ nhiên không nằm trong khuôn khổ bài viết này. Tuy nhiên, điều hợp lý nhất cho việc đóng góp một phần chi phí vào ngân khoản để xây dựng những con kênh thoát lũ, có lẽ phải đến từ các hồ thuỷ điện, tuỳ theo dung tích hồ và lượng nước xả lũ hàng năm.

Trong phạm vi hạn hẹp cuả bài khảo luận này, người viết chỉ dùng một thí dụ tiêu biểu cho quận Ninh Hoà, nhưng nguyên tắc chung vẫn ứng dụng được cho tất cả các nơi trên thế giới. Ngoài ra, vì do các chi tiết về điạ hình còn chưa đầy đủ và rất sơ khai qua hệ thống mạng “Google Earth”, những thông số kỹ thuật và tính toán trong bài này chỉ có tính cách tạm thời, và chắc sẽ không là những con số phản ánh thực tế sau cùng.

Như đã trình bày, thị trấn Ninh Hoà (nay là Đô thị loại I, vừa được nâng cấp lên thành Thị Xã) chỉ có một con sông chính là sông Dinh, được tạo thành bởi ba nguồn nước chính còn gọi là phụ lưu. Hai nguồn phụ lưu từ Hòn Phụ Mẫu (Khánh Dương) và hòn Đa Đa (Vạn Ninh) nhập vào cùng với nguồn nước sông Cái xuất phát từ Phú Yên và chảy ngang qua hồ Đá Bàn. Trong tất cả các vụ lũ lụt đã xảy ra tại Ninh Hoà, vì do lượng nước mưa bão quá nhiều, lưu lượng nước dồn vào sông Dinh không kịp chảy thoát ra biển nên gây ra lụt lội, nặng nhẹ tuỳ theo vũ lượng mưa nhiều hay ít hàng năm.

Địa điểm thuận tiện nhất để bắt đầu đặt cửa kênh đào có thể nằm dưới hồ Đá Bàn khoảng chừng 10 km, thuộc hai xã Ninh Trung và Ninh Thân, cách Ninh Hòa chừng 6 km về hướng Bắc. Kênh đào này dài chừng 8 km chảy theo hướng Đông Tây ngang quốc lộ 1, hướng ra vùng Hòn Khói thuộc vịnh Vân Phong (xem hình vẽ dính kèm.) Một thiết kế phụ thêm vào ở đây không những tăng cường khả năng chống lũ mà còn làm cho Ninh Hòa có vị thế của một độ thịtrong tương lai, là xây dựng được một hồ nước công viên giải trí ngay giữa thành phố. Hồ này sẽ lấy nước từ kênh đào (khoảng 2km) và sẽ chảy thông ra con kênh nối liền với sông Dinh gần cửa vịnh Nha Phu. Hồ công viên này ngoài vai trò làm nơi thoát nước lũ tạm thời cho vùng xung quanh, còn tạo ra không gian thoáng mát để du khách đi bộ dạo chơi, địa điểm tụ hợp lý tưởng cho lễ hội, hay những thú vui giãi trí lành mạnh cho cư dân Ninh Hòa (giống như Hồ Xuân Hương Đà Lạt).

Một vài thông tin về kỹ thuật cần chú ý để bảo đảm sự an toàn, tăng cường hiệu quả xử dụng cho các kênh đào. Độ dốc hai bên con kênh đào không nên cao quá 27 độ (hay độ dốc 2 : 1, 2 ngang, 1 đứng) nhằm tránh trường hợp sạt lở hai bên bờ kênh và cho những trường hợp phải cứu hộ khẩn cấp. Đất đào lên từ lòng kênh sẽ được dùng để xây bờ đê chắn, chạy dọc theo hai bên con kênh. Các bờ đê chắn hai bên, ngoài việc có độ dốc bằng với độ dốc hai bờ kênh, còn có thêm khả năng chống giữ thêm lưu lượng nước lên quá cao trong trường hợp các con kênh đào bị quá tải.

Một kênh (Channel) đào dài khoảng 8 km, có thiết diện hình thang, chiều ngang trên mặt khoảng 15 m, chiều đáy 3m, chiều cao hay sâu khoảng 3 m, có thể cho một lưu lượng dòng chảy trung bình từ 30-40 m3 /giây (tính theo công thức Manning's). Trong cao điểm mùa lũ mạnh có thể tải từ 2- 4 triệu m3 nước thoát ra biển mỗi ngày hay giúp cho tối thiểu một vùng rộng khoảng 10-20 cây số vuông (km2) tránh được ngập lụt nặng. (Xin ghi nhớ con số 10 km2 trên được tính theo vũ lượng mưa trung bình là 200 mm / ngày với hệ số an toàn là 2.0, có nghĩa là có thể tăng gấp hai lần sức tải.)

 

Bờ Đê                                                                                           Bờ Đê

 

Thiêt Diện chính của Kênh Đào

 

Đặc biệt trong thiết kế này, đất đào trong kênh sẽ được dùng để đấp đê ngay lên trên hai bên bờ kênh đào (xin coi hình vẽ minh họa). Bờ đê sẽ được đắp cao khoảng 1.8 m và có cùng độ dốc (2:1) với bờ kênh. Công dụng của bờ đê sẽ là tạo khoảng cách an toàn trong trường hợp mực nước lên cao hơn 3 m, và dĩnhiên là có thể chịu được áp lực nước tối đa nếu mực nước dâng lên tới đầy tràn (4.8 m) mà không sợ bị vỡ đê.

Dựa theo quan sát và nghiên cứu sơ qua địa hình của miền Trung từ Quảng Bình vào đến Khánh Hòa, mỗi tỉnh chỉ cần khoảng một (1) hay nhiều nhất là hai (2) con kênh đào chống lụt như trên là quá đủ. Các tỉnh miền Bắc Trung phần có thể có nhiều hơn (2 hay 3) những con kênh ngắn từ 5-7 km, do vị trí địa hình của dãy núi Trường Sơn chạy quá gần sát với biển.

Ngay cả Sài Gòn hay Hà Nội vẫn có thể thiết kế thêm các kênh đào để chống ngập lụt khi có mưa bão lớn rất hữu hiệu, theo kinh nghiệm của các thành phố lớn như Los Angeles, Lousiana, v.v Các kênh đào thoát nước tại các thành phố lớn có thể được thiết dự theo kích thước nhỏ và vừa, nhằm tránh chi phí quá cao trong việc thu mua đất nền. Trở ngại đáng chú ý duy nhất là các kênh đào có thể biến thành những bãi rác công cộng khổng lồ, nếu không có những biện pháp ngăn ngừa hữu hiệu hay ý thức về giữ gìn vệ sinh công cộng của người dân.

Một lưc lượng nhân công chừng khoảng 100 người với hai máy Đào (Excavator) hạng nặng và một số xe cơ giới lưu động có thể hoàn tất công việc trong vòng 6 tháng tới 1 năm. Chi phí ước tính sơ khởi cho việc đào kênh với kích thước kể trên, tính luôn cả máy móc và di dời nhà cửa hay thu mua lại chủ quyền, giải phóng mặt bằng cho kênh đào khoảng chừng từ 50-100 tỷ, tùy theo giá đất ruộng và giá thuê hay mua các dụng cụ xây cất và cơgiới hạng nặng. Nhưng nếu so với thiệt hại tài sản do lũ lụt gây ra tại mỗi địa phương trung bình khoảng vài trăm cho đến cả ngàn tỷ hàng năm, thì cũng còn quá rẻ!

Theo tin mới đây cho biết, chỉ riêng Xí nghiệp muối Hòn Khói mưa lũ đã làm thiệt hại khoảng 10 tỷ đồng. Cụ thể như trong mùa lũ năm nay tại miền Trung, thiệt hại về tài sản lên tới hơn cả ngàn tỷ. Số tiền có thể dùng để xây dưng cho mỗi tỉnh ở miền Trung, ít nhất là một con kênh đào cỡ lớn để chống lũ lụt từ 20-100 năm, có hồ chứa nước mát và giải trí. Thêm vào, các kênh đào có hồ chứa nước còn có thể làm công việc vừa cung cấp nước sạch cho dân, vừa giúp cho việc canh tác trong các mùa hạn hán hay những vùng "đất cày lên sỏi đá".

Hy vọng rằng trong tương lai vài năm tới, dân miền Trung sẽ không còn phải nghe bài ca than van “Trời hành cơn lụt mỗi năm...” nữa!

“Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều...”

Nguyễn Cường

Sacto 12/2010

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com