QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHẤT KHÔI  HÀI TRONG VÈ HỌC CHỮ PHÁP

VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

Từ khi chế độ thi cử Hán học chánh thức cáo chung tại Trung Kỳ năm 1917, sau đó một thập niên thì chữ Pháp được truyền dạy cho nhiều người thông qua nền giáo dục do chính quyền cai trị của Pháp đề ra. Mọi công văn giấy tờ bằng chữ Hán dần dần được thay thế bằng chữ Pháp, ngoại trừ một số sắc thần ở đình miễu và bản tăng cang độ điệp ở nhà chùa do triều đình Huế ban tặng là còn dùng chữ  Nho. Giờ này vị thế chữ  Nho trong xã hội đóng vai thứ yếu (Cái học chữ Nho đã hỏng rồi – Trần Tế Xương), tại Ninh Hoà, nó cố gắng thoi thóp kéo dài thêm sự sống mỏng manh, bị chữ Pháp lấn áp, thành phần con cái quan lại và phú hộ thì đua nhau theo tân học. Địa phương Ninh Hoà có năm bảy trường tiểu học từ lớp năm đến lớp ba (tức từ lớp một đến lớp ba ngày nay) dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ. Đám trẻ nhỏ bắt đầu ngâm nga cách chia “vẹc-bờ” và học tiếng một. Số người có điều kiện gần với đám lính Tây và me-đầm được dịp trọ trẹ tiếng bồi, mỗi khi về làng xã trổ tài nói tiếng Pháp lai An Nam như bắp rang nổ, làm ai cũng nể phục. Người ta bắt đầu ưa học lóng tiếng Pháp dù nói tiếng bồi ngọng nghịu, may ra khi gặp Tây có thể thoát được những đòn đấm đá hoặc cảnh bắn giết.

Có những trường hợp buồn cười là người nông dân trả lời cho thằng Tây nghe bằng câu văn tiếng Pháp đớt ngọng, chắp nối, không chia vẹc-bờ, cộng với đôi tay ra dấu, thế mà thằng Tây vẫn hiểu. Thế nhưng người dân quê quá nghèo khổ thì làm sao học tiếng Pháp đây, ai dạy ? Thế là vè học tiếng Pháp ra đời.

Những bài vè này được chắp nối, canh cải bởi nhiều người làm, dài hàng mấy trăm câu theo thể lục bát. Những người lúc bấy giờ nảy sanh ra ý kiến này, nhằm hai mục đích, một là để lớp ấu học dễ thuộc tiếng một, hai là để lớp dân đinh có điều kiện tập tò tiếng Pháp. Vốn truyền thống khôi hài thì bài vè làm ra cũng vui nhộn theo cách phát âm. Không giống như chữ nho, diễn vè bằng hình tượng, ẩn dụ và tự dạng rất phong phú, còn chữ Pháp chỉ dùng cách phát âm cấu trúc thành vè là chính. Người ta đôi khi cố ý phiên âm ra những từ khét lẹt mùi gốc rạ nghe cũng vui tai. Ví dụ:

 

Sau ấp rè, trước à văn (après - avant)

cao, ba thấp, trong đằng, xua trên ( haut – bas – dans - sur)

Ve ly, tách chén, rạc lu (verre – tasse - jarre)

Ra chuột, xin khỉ, chí bu, mạc chồn (rat – singe  -pou - marte)

 

Thỉnh thoảng, trong một đoạn vè lại khéo chen vào một vài câu khôi hài trào lộng:

 

Chị, lông dài, mu mềm (soeur – long - mou)

Anh phe, đu cứng, nuôi đêm, rua ngày (frère – dur – nuit - jour)

 

Vè học chữ Pháp cũng cố gắng mô phỏng theo từng loại vật và nghĩa liền nhau như sách chữ nho Nhất Thiên Tự, tuy nhiên cũng chỉ tương đối. Có lẽ những người làm ra câu vè học chơi chữ Pháp, lúc trước ít nhiều gì cũng đã từng học chữ  Nho, nên khi bỏ bút lông quay sang bút thép thì cái vần vè gốc cũ họ vẫn còn nhớ để ứng dụng. Ví dụ sách Nhất Thiên Tự thì:

 

...Nhạc non, sơn núi,sông,

Lâm rừng, hải biển, nguyên nguồn, khê khe. . .

…Thủ đầu, mục mắt, nhĩ tai,

Yêu lưng, phúc bụng, kiên vai, càm cằm ….

 

Với cách thức ấy vè chữ Pháp cũng mô phỏng theo

 

Ve ly, tách chén, rạc lu (verre - tasse - jarre)

Ra chuột, xin khỉ, chí bu, mạc chồn (rat – singe – bou - marte)

 

Nói như vậy không có nghĩa là tất cả chữ Pháp đều đưa vào vần vè lục bát hết được. Người thời đó chỉ chọn lấy năm sáu trăm chữ để kết thành vần vè cho lớp ấu học dễ thuộc tiếng một, trong đó có pha nhuộm chất khôi hài. Câu vè học chữ Pháp sau đó dần dần được truyền khẩu trong dân gian, lớp người nhà quê dân dã xưa nay quen ăn mặn uống nước bằng gáo dừa, âm ngữ mỗi lúc mỗi tam sao thất bổn, nên ai nghe đọc bài vè học tiếng Pháp cũng phải bật cười. Chúng tôi sưu tầm trong những năm 1966 – 1967 rồi nhờ các cụ theo tân học hiệu đính lại. Các cụ bảo rằng có những tiếng Pháp không thể phiên âm ra chuẩn được bằng tiếng Việt, nhất là giọng nói của người miền quê Ninh Hoà rất cứng. Lại có một số từ khác, một số người bấy giờ cố ý phiên âm lêch âm để nghe cho vui, nhưng cũng không sai âm tiết, ví dụ:

Âm tiếng Việt phiên âm không chuẩn:  cheval = sơ vanh; buffle = búp;  tête = tét;  frère = phe;  bouche = bút (bít);  v.v…

Âm cố ý phiên lệch: òu = ù;  lui = luỹ;  après  =  ấp rè;  très =  rè …

Ngày nay chữ Pháp được dạy bằng phương pháp khoa học, có bài bản hơn thì những câu vè học chữ Pháp này lại là chứng tích của cách học thô sơ bình dân của một thời kì đất nước trong cảnh nô lệ tối tăm.

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu một đoạn văn sưu tầm được để làm tư liệu cho mai sau:

 

Bớp bò, sư tử li ong (boeuf - lion)

Sơ vanh con ngựa, mu tong con trừu (cheval - mouton)

Cốc gà, siêng chó, ti beo(coq – chien - tigre)

Ca na con vịt, sa mèo, búp trâu (canard – chat - buffle)

Manh tay, cu cổ, tét đầu (main – cou - tête)

Đăm răng, bít miệng, má ru, ria cười ( dent – bouche – joue - rire)

Te đất, phe sắt, ve giòi (terre – fer - ver)

O nước, phơ lửa, vôi, bên kềm (eau – feu – chaux - pinces)

Chị , lông dài, mu mềm (soeur – long - mou)

Anh phe, đu cứng, nui đêm, rua ngày (frère –dur – nuit - jour)

xen, le sữa, roi ngay (sein – lait - droit)

Moa tao, luỹ nó, toa mày, phít con (moi – lui – toi - fils)

Hai đơ, sáu xít, một on (deux – six - un)

Ba roa, bốn cách, min ngàn, xăn trăm (trois – quatre – mille - cent)

Ơ giơ, moa tháng, anh năm (heure – mois - an)

Noa đen, ru đỏ, ri cơm, trà (noir – rouge – riz - thé)

Vu anh, me mẹ, be cha (vous – mère - père)

Máu xanh, hui dầu, hoa, oa vàng (sang – huile – fleur - or)

Sau ấp rè, trước a văng (après - avant)

cao, ba thấp, trong đằn, xua trên (haut – bas – dans - sur)

Mũi ne, bu mủ, gân vênh (nez – pus - veine)

Xoa chiều, lui sáng, lu đinh, bong cầu (soir – luire – clou - pont)

Ve ly, tách chén, rạc lu (verre – tasse - jarre)

Ra chuột, xin khỉ, chí bu, mạc chồn (rat – singe – bou - marte)

Đia nói, uy dạ, nông không (dire – oui - non)

Bo da, đô cật, lòng, phoa gan (peau – dos – coeur - foie)

Sanh đồng, me biển, boi ngàn (champ – mer - bois)

Lu hơn, ít, càng, và ê (plus – peu – très - et)

La cái, đực, nhiều (la – le - les)

Muối xen, cua nấu, mết chè, ru canh (sel – cuire – mets - jus)

Bo tốt, bua sạch, ve xanh (beau – pur - vert)

Phu dại (điên), le xấu, rượu vinh, lam đèn (fou – laid – vin - lampe)

Nốp sang, rít phú, vin hèn (noble – riche - vil)

Căn cần, dây cọt, tron kèn, chỉ phin (canne – corde – trompe - fil)

ru, pha mặt, mắt (joue – face - yeux)

Đô lưng, đoa ngón, phơi tờ, bạc râu (dos – doigt – feuille - barbe)

ít, si nếu, ù đâu (peu – si - òu)

Cuộc ngắn, men mỏng, bô cu là nhiều (court – mince - beaucoup)

U dê cũ rích (gần rách), mới nêu (usé - neuf)

La bin con thỏ, con diều (diều hâu) mi lăn (lapin - milan)

Cu ria chạy, măng rê ăn (courir - manger)

Boa đâu, la đó, thì tăng, ron tròn (point – là – temps - rond)

Dao cu tô, gậy ba ton (couteau - bâton)

Phọt mạnh, văn gió, rên non, mua già (già giặn) (fort – vent – jeune - mur)

Bu trong, lui sáng, bua mà (pur – luire - pour)

Thánh sanh, trưởng xếp, roa vua, xiên trời (saint – chef – roi - ciel)

A mi bạn, nô dơ vui (ami - joyeux)

Me nhưng, đờ bởi, ki ai, coa gì (mais – de – qui - quoi)

Kìa voa la, đây i xi (voila -  ici)

Cám ơn mẹc xì, nói láo men tơ (merci - menteur)

Mỏ bét, cánh e. đuôi (bec – aile - queue)

Đốc tờ bác sĩ, mét trơ ông thầy (docteur - maitre)

Sô tê nhảy, vô lê bay (sauter - voler)

Sạc ru cái cày, cái búa mạc tô (charrue - marteau)

Cua sân, cây viết ben sô (cour - pinceau)

Bọt tờ cái cửa, lơ mu bức tường (porte – le mur)

Nát tờ chiếc chiếu, li giường (natte - lit)

Ghế băn, phấn phạt, nhà trường ê con (banc – fard - école)

bót xong, heo cu son (poisson - cochon)

Mạc xê cái chợ, phọt đồn, trạm ga (marché – fort - gare)

Bu đa Phật, đi ơ Chúa Cha (Bouddha - Dieu)

Răn rê lớp học, cái nhà me dong (rangée - maison)

Bon điểm, bài học lơ xong (point - lecon)

Mét trờ cây thước, cạc tong cái bìa (mètre - carton).

V..V…

VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com