QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngô Văn Ban

CÁC TRẠM DỊCH TRONG TỈNH KHÁNH HÒA

TỪ BẮC ĐẾN NAM

(kỳ 1)

(Theo sách Đại Nam Nhất thống chí – Tỉnh Khánh Hòa  (ĐNNTC-KH) của Sử Quán Triều Nguyễn và Hoàng Việt nhất thống dư địa chí  (HVNTDĐC) của Lê Quang Định)

Thời xưa, Ông Bà ta ở tỉnh Khánh Hòa muốn đi từ ĐÈO CẢ, giáp giới tỉnh Phú Yên đến giáp giới giữa thị xã CAM RANH với tỉnh Ninh Thuận  ngày nay, nếu đi bộ phải mất từ 5 đến 6 ngày, với một cuộc hành trình đầy gian nan nguy hiểm. Theo Đại Nam Nhất thống chí – tỉnh Khánh Hòa (ĐNNTC-KH), đoạn đường dài 292 dặm, khoảng hơn 124 km. Do đó, dưới triều Chúa Nguyễn và triều nhà Nguyễn sau này, dọc đường thiên lý, triều đình đặt những trạm dịch cho khách bộ hành nghỉ chân. Các trạm đặt cách nhau từ 7-8 cây số đến 17-18 cây số, tùy theo quãng đường. Tại mỗi trạm dịch, cho cất một số nhà tranh tre để những người phụ trách trạm dịch ở và một số nhà khác do dân lập nên để mở cửa hàng buôn bán nếu ở đó là một vùng đông dân cư hay một thị trấn. Trạm dịch có 1 Cai Trạm đứng đầu, 1 người Thơ Lại giúp việc và một số phu trạm. Nhiệm vụ của các trạm là chuyển công văn từ trung ương đưa xuống các phủ, huyện, tỉnh hoặc ngược lại. Họ còn có nhiệm vụ dùng cáng võng để chuyên chở các quan lại đi lại công tác. Phương tiện vận chuyển có cáng võng và ngựa. Ngoài ra, những người dân thường muốn vận chuyển phải thuê cáng của dân ở các trạm. Tại tỉnh Khánh Hòa có 11 trạm đi từ bắc vào nam, có tên như sau : TRẠM PHÚ HÒA (trên núi Đại Lãnh, Vạn Ninh), TRẠM HÒA MÃ (Ninh Mã, Vạn Thọ, Vạn Ninh), TRẠM HÒA LÃNG (Trung Dõng, Vạn Bình, Vạn Ninh), TRẠM HÒA HUỲNH (Xuân Sơn, Vạn Hưng, Vạn Ninh), TRẠM HÒA MỸ (Mỹ Hiệp, Ninh Hiệp, Ninh Hòa), TRẠM HÒA CÁT (Cát Lợi, Vĩnh Lương, TP Nha Trang), TRẠM NHA TRANG (Xương Huân, TP Nha Trang), TRẠM HÒA THẠNH (Phú Khánh, Diên Thạnh, Diên Khánh), TRẠM HÒA TÂN (Lập Định, Cam Hòa, Cam Lâm), TRẠM HÒA DO (Thủy Triều, Cam Hải Đông, Cam Lâm) TRẠM HÒA QUÂN (Cam Lộc, thị xã Cam Ranh).

Từ thời vua Gia Long (1802-1820) đến thời vua Khải Định (1916-1925), không có TRẠM NHA TRANG. Đến năm 1924 khi Nha Trang trở thành thị trấn, các cơ quan chuyên môn của người Pháp đều đóng tại Nha Trang, lúc đó, có trạm Nha Trang, đặt tại phường Xương Huân, gần UBND Tỉnh bây giờ. Trước đó, người ở TRẠM HÒA CÁT đặt ở Cát Lợi, xã Vĩnh Lương phải đi thẳng đến TRẠM HOÀ THẠNH đặt ở xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh. Sau này, có TRẠM NHA TRANG, người ở trạm dịch Hòa Cát phải qua trạm dịch Nha Trang rồi mới lên trạm Hòa Thạnh, đường đi thêm hơn 2 Km.

Sách ĐNNTC-KH chỉ chép tên trạm, vị trí trạm đóng, khoảng cách từ trạm này đến trạm kia. Còn Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí (Phan Đăng dịch, chú giải, giới thiệu, NXB Thuận Hóa Huế và Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây, 2005) của Lê Quang Định (1759-1813) soạn xong vào năm 1806, đời vua Gia Long (1802-1820) thì chép tỉ mỉ hơn trên đường, đi từ trạm này đến trạm khác, đơn vị đo đạc là tầm (1 tầm = 1,825m). Trên đường đi, tác giả ghi chép khá đầy đủ về trạm, điếm, hành cung, cầu cống, sông rạch, bến đò, khe suối, cửa biển, núi đồi, đèo dốc, chợ búa, đền miếu, chùa chiền, thành quách, di tích, nhân vật, phong tục, thổ sản, đặc sản, thú dữ … Đọc những điều tác giả ghi chép trên đường đi, chúng ta không những thấy rõ hơn về quê hương Khánh Hòa thời xa xưa mà còn thấy ông bà ta ngày xưa đi lại thật là khó khăn, vất vả, nguy hiểm như thế nào.

 (Những dòng in nghiêng là trích trong Đại Nam nhất thống chí – Tỉnh Khánh Hòa trong Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, những dòng khác là tóm tắt, diễn giải thêm những gì Sử Quán triều Nguyễn và Lê Quang Định ghi chép trong tác phẩm)

TRẠM PHÚ HÒA : Theo ĐNNTC-KH, trạm “ ở  trên núi Đại Lãnh (thuộc xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh), là chỗ giao giới tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, nên gọi tên ấy (từ năm 1993 trở về sau, vị trí của trạm thuộc tỉnh Phú Yên). Phía nam đến trạm HÒA MÃ 19 dặm (khoảng gần 8 Km), dựng vào đầu niên hiệu Gia Long có 60 người phu trạm. Sang năm thứ 9 (1810) thêm đủ 100 người”. Theo HVNTDĐC trạm “Đóng ngay giữa đỉnh đèo Cả, nơi địa giới của hai dinh Phú Yên và Bình Hòa, vậy nên đặt tên trạm là Phú Hòa”. Về 60 người phu trạm thì dinh Phú Yên 30 suất, dinh Bình Hòa 30 suất. Từ trạm Phú Hòa đến TRẠM HÒA MÃ, hai bên đường cây cối rậm rạp, đường đi gập ghềnh, đi qua Dốc Kè, qua khe nhỏ, khe rộng hơn 18m, hai bên cây cối um tùm, tục gọi là Suối Xổ, lội qua được. Đi khoảng gần 500m là đường núi dốc, tục gọi là Ba Hội vì đường nhiều dốc, ba lần đi lên, ba lần đi xuống, hai bên cây cối to cao. Đường đi tiếp đến Suối Dục, suối này có thể lội qua được. Đi khoảng hơn 730m đến Eo Gió, qua miền Tu Bông, do qua đây gió thổi ào ào. Tiếp tục đến Hố Dang, khe Ồ Ồ, nước chảy mạnh chạm vào đá nghe ầm ầm. Đường đi đến Dốc Tranh, đến khe nhỏ, tục gọi Suối Khế. Đường đi đến giồng Bãi Du cát lún sâu bàn chân, rồi đến điếm Bãi Du, có quán Bãi Du, khách ngừng chân nghỉ. Tiếp là đường đi toàn cát, phía đông gần biển, phía tây gần núi, đến khe nhỏ, rộng khoảng 15m, tục gọi Suối Giữa, nước đến mùa mưa lụt thông cửa biển nên nước trở nên mặn. Gần đến TRẠM HÒA MÃ, lập ở chân đèo Cổ Mã, đường đi toàn bãi cát, ven biển. Nơi đây, Lê Văn Duyệt năm 1795 lập đồn chống quân Tây Sơn, hiện vẫn còn di tích.

TRẠM HÒA MÃ : Theo ĐNNTC-KH, trạm “Ở thôn Tân Phước, huyện Quảng Phước (nay thuộc thôn Ninh Mã, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh), phía nam đến trạm HÒA LÃNG 27 dặm (khoảng hơn 13 km)”. Theo HVNTDĐC, trạm có 51 suất, chia làm 3 phiên, mỗi phiên 17 người thường trực ở trạm. Trạm mới lập ở chân đèo Cổ Mã, nằm giữa vùng rừng núi. Từ trạm, khoảng gần cây số đến đèo Cổ Mã (Cổ Ngựa). Cách Trạm hơn 5 km là điếm Lão Lài, điếm này ở bãi sông thuộc thôn Họa Hải, năm 1741, Lão Lài lập quán ở đây, khách nghỉ chân. Đường đi tiếp đến Suối Mít, đến truông Phước Hải, truông dài gần 470m, tục gọi là truông Quán Sò, đến ngòi Bãi Sò, ngòi rộng hơn 18m, lội qua được, đi khoảng hơn 70m đến điếm Quán Sò, ở đây có bán nghêu sò, khách có thể nghỉ chân. Đi gần 1km đến ngòi Bãi Hàu, ngòi rộng 33m có thể lội qua. Đi tiếp trên đường đất cát, bốn phía nước mặn bao quanh, đến ngòi Cầu Hàu, ngòi rộng 30m, phía Bắc cầu là thôn Họa Hải, phía Nam cầu là địa phận xã Tân An, tức xứ Tô Hà (nay thôn Tân Phước, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, vùng Tu Bông). Ở đây vào mùa dông gió rất to làm hư cả nhà tranh vách cỏ, khí rất lạnh cho nên thường gọi là gió Tô Hà. Quãng đường đi khoảng hơn 2 cây số rưỡi là đường đi ven biển, ven ruộng, đi thêm 640m đến Cầu Tô Hà, cầu dài gần 35m, phía Đông cầu có đồn để kiểm soát kẻ gian, phía tây cầu có điếm để khách nghỉ chân. Đi một đoạn, đến trạm cũ Tô Hà, thuộc địa phận xã Tân An, tổng Hạ, huyện Quảng Phước (nay là thôn Tân Phước, xã Vạn Phước, huyện Vạn Ninh). Đi khoảng gần 40m đến thôn Hội Toàn (nay là thôn Hội Khánh, xã Vạn Khánh, huyện Vạn Ninh). Đi khoảng 1km đến ngòi Mụ Lỗi, đường đi hai bên ruộng úa, dân cư thưa thớt. Đi khoảng 800m đến  ngòi Gò Lận, ngòi rộng hơn 7m, phía bắc là thôn Hội Toàn, phía nam là thôn Đồng Đế (thuộc xã Vạn Khánh hiện nay). Đi gần 600m đến ngòi Hà Thanh có thể lội qua. Đi khoảng gần 4km đến Láng Vòng. Đây là vùng đất trống bằng phẳng, nước dâng lên lút mắt cá, nước xuống cạn khô, phía trên có rừng, đường đi quanh co. Rồi đến Láng Đầu Giồng Cốt, đến giồng Cốt Lũng, dài gần 500m, đường toàn cát lún, hai bên cây cối, nhiều thú dữ. Rồi đến ngòi Cầu Cởi. Ngòi dài gần 15m, nước mặn, có thể lội qua, xưa kia có cầu, nay bị hỏng, đi xuống 365m thì đến cửa biển. Đi khoảng hơn 4km nữa là đến TRẠM HÒA LÃNG.

TRẠM HÒA LÃNG : Theo ĐNNTC-KH, “Ở thôn Trung Dõng, huyện Quảng Phước (nay thuộc xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh), phía Nam đến trạm HÒA HOÀNG (hay HÒA HUỲNH) 30 dặm (khoảng  hơn 12km). Theo HVNTDĐC, ở trạm có 17 suất. Trạm này mới được lập ra, hai bên đều là vùng đất trống, đất ngập nước, không có dân cư. Đường đi đến ngòi Trùm Tào, ngòi dài gần 15m, có thể lội qua. Đường đi đất khô, dân cư thưa thớt, đến sông Cộc, sông rộng trên 90m, phía Bắc là xã Bình Sơn (nay thôn Bình Trung, xã Vạn Bình, huyện Vạn Ninh), phía Nam là thôn Phú Hội Tây (nay thuộc xã Vạn Thắng, huyện Vạn Ninh). Sông này có nhiều rễ cây củ, khi nước lên thì mặn, nước xuống thì ngọt, xuân hè nước cạn, thu đông nước lớn khó đi lại. Đi tiếp, đường đi bằng phẳng, đất khô, đến lũng Cam Đường. Lũng dài hơn 3km, hai bên đường có nhiều cây cam, đường đi cát lún sâu đến mắt cá, trưa hè nóng chân không qua được. Hết lũng, đến ngòi Mụ Mun, ngòi rộng hơn 30m, có thể lội qua được, đi lên đến ruộng của thôn Phú Hội Tây, đi xuống hơn 620m thì đến cửa biển. Đi tiếp đến bờ ao Lão Sáu, bờ dài gần 55m, thuộc thôn Phú Hội Đông, năm 1743, một người trong thôn tên là lão Sáu đắp làm ao nuôi tôm cá, nay ao bị lở, nước cạn kiệt. Đi tiếp, đường đi toàn cát, rồi đến vùng đất ngập mặn, đến bờ ao Cha Giám, bờ dài 73m, thuộc địa phận thôn Mạn Đò (nay là thôn Tân Mỹ, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh), năm 1743 có người ở xã Trung An (nay thuộc xã Vạn Bình) tên là Cha Giám đắp bờ làm ao nuôi tôm cá. Hướng Tây bên đường là chợ cũ Mạn Đò, ngày xưa ở đây ngư dân sinh sống rất đông, lập chợ, sau vì chiến tranh nên dân cư thưa thớt. Đường đi đến Cầu Ván, cầu dài hơn 7m, cầu này do Cha Giám làm. Đường đi tiếp do Cha Giám đắp bờ mà thành, đến ngòi thôn Mạn Đò, ngòi rộng hơn 9m. Đi khoảng hơn 200m đến lũng Mạn Đò, lũng dài gần 530m, đường toàn cát lún, mùa hè khó đi. Đường đi tiếp khoảng gần 430m đến thôn Phường Mới (nay thôn Tân Mỹ, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh), lội vùng nước ngập mặn, đến ngòi Phường Mới, ngòi rộng 22m, có thể lội qua được. Đi lên hơn 380m, đến sông An Lương, đi xuống gần 660m thì đến cửa cảng Phường Mới. Đường đi tiếp, hai bên toàn đất khô, đến cầu sông An Lương, cầu dài 55m, phía Bắc sông là thôn Phường Mới, phía Nam sông là xã An Lương (nay là xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh). Nước sông An Lương trong và ngọt, theo nước biển lên xuống. Qua cầu, 73m đến chợ An Lương, có quán xá, khách nghỉ chân. Phía tây chợ có thờ các vị thần linh : Thiên Y A Na, thần Bạch Mã và Thành Hoàng. Đường đi đến lũng Cát Lâm, phía Tây và phía Đông là địa phận xã Tân An Tây và Tân An Đông, dân cư thưa thớt. Lũng dài khoảng hơn 200m, toàn cát, lại đi vào đường rừng dài hơn 200m, đến xứ Lỗ Sấu, là vũng nước trong, bốn mùa không khô, tương truyền xưa ở đây có cá sấu nên gọi Lỗ Sấu. sau đó, không còn sấu mà có nhiều cọp. Đường đi đến Gò Đất, gò dài gần 550m, đường bằng phẳng, đến Lũng Thị, lũng dài 365m, đường đi toàn sỏi đá, hai bên toàn cây thị. Tiếp đó, đi 456m đến điếm Quán Chùa, thuộc thôn Quán Chùa (nay thuộc thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh), dân cư trồng cây bông vải, ngô, làm ruộng, có quán xá, khách nghỉ chân. Đi một khoảng đến hành cung Quán Chùa, nơi quan quân dừng nghỉ, có người phục vụ. Đường đi đến láng Lão Đán,  đi 621m đến bãi Lái Thiêu, đi gần 2km đến sông Cầu Treo, cầu dài gần 50m, đi xuống thì đến cửa biển. Đi khoảng 450m đến giếng Đá Cũ, thuộc địa phận thôn Bàu Dịch (nay thôn Hà Già, xã Vạn Hưng), nước khá ngọt. Đường đi khoảng 700m qua vùng đất thấp ngập mặn, tiếp tục đi khoảng hơn 1,6km đến Láng Vàng (nước nhiễm mặn có màu vàng) rồi đến TRẠM HÒA HOÀNG (hay HÒA HUỲNH).

TRẠM HÒA HUỲNH : Theo ĐNNTC-KH, “Ở thôn Xuân Sơn, huyện Quảng Phước (nay thuộc xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh), phía nam đến trạm HÒA MỸ 17 dặm (khoảng hơn 7km) “. Theo HVNTDĐC, trạm có 17 suất. Khoảng đường đi dài hơn 720m là vùng bờ bãi thuộc địa phận thôn Xuân Mỹ, phía Đông là chân núi, phía Tây có nhà cửa dân cư, đến láng Củ Chi, láng dài 584m, có nhiều cây mã tiền, đến đường điếm Lễ Lâm, đường dài hơn 1km, trồng nhiều thuốc lá, ngô, lúa. Đường toàn đá sỏi, khó đi, tục gọi là Truông Sỏi. Rồi đến điếm Đồng Nai, thuộc địa phận xã Xuân Sơn (nay thôn Xuân Sơn, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh), có bán hàng, khách nghỉ chân. Đi tiếp gần 1km là đường bằng phẳng, có ruộng đồng, đến đường rừng Đồng Nai. Đường dài hơn 2km, hai bên rừng là đồng ruộng, đất trồng bông vải, thuốc lá, ngô. Xưa ở đây, rừng có nhiều hươu nai, rồi đến cầu Bàu Voi, thuộc địa phận thôn Mỹ Lộc (nay thuộc xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa). Cầu dài khoảng 12m, bàu rộng khoảng 5 m, dài 365m, xưa người ta dụ voi hoang về nuôi ở đây và cho tắm rửa ở bàu này. Đi hơn 1,36km đến điếm Quán Láng, vùng bến bãi thuộc địa phận thôn Hà Thanh (huyện Ninh Hòa), có quán hàng, khách nghỉ chân. Phía Đông có đường nhánh đến đồn cửa biển Hòn Khói (nay thuộc xã Ninh Diêm, huyện Ninh Hòa). Đi hơn 1km đến điếm Bánh Ít, đến đèo Bánh Ít. Đèo dài 650m, phía Bắc đèo  là vùng bến bãi thuộc thôn Hà Thanh, phía Nam là địa phận xã Phước Toàn (nay thuộc xã Ninh Đa, huyện Ninh Hòa). Đường núi lắm đá nhỏ khó đi, có miếu thờ Bà Thiên Y A Na. Đường đi tiếp dài 730m, phía đông là ruộng, có hòn núi đất, phía dưới là lỵ sở nha môn của tiền triều, dân cư thưa thớt, phía tây đất khô vùng gò đồi, xưa là nơi thuần dưỡng voi lạ, có chợ, tục gọi là Chợ Gò. Khoản đường tiếp theo dài 781m, hai bên ruộng đồng, dân cư đông đúc, đến cầu Tiền Đao. Cầu dài 20m. Phía Đông cầu cách 620m vẫn còn nền cũ công đường dinh Bình Hòa, vì đặt trại quân thủy tiền đao ở đây nên mới gọi là cầu Tiền Đao. Đi gần 340m đến thôn Vĩnh An (trước thuộc xã Ninh Hiệp, nay thuộc thị trấn huyện Ninh Hòa), phía Bắc dân cư, ruộng nương trù mật, phía Nam là dãy cát gần sông, rồi đến cầu Chính Đô, cầu dài hơn 76m. Phía Bắc cầu thuộc thôn Vĩnh An, phía Nam cầu thuộc xã Toàn Thạnh (nay là thôn Mỹ Thạnh, thuộc xã Ninh Giang, huyện Ninh Hòa). Nước sông trong và ngọt, chảy xuôi xuống đến cầu Chợ Dinh cũ, rồi phân ra làm ba nhánh, chảy ra cửa biển Nha Tù (Nha Phu). Đi 565m, có ngã ba : Nhánh phía Tây đến trạm Kỳ Mao, nhánh bên Đông đến bến Lão Bổi, nhánh hướng Nam đến Chợ Mai ở xã Toàn Thạnh, dân cư đông đúc, lỵ sở sinh trấn thủ tiền triều đóng ở đây, lại có Chợ Dinh. Đi vài cây số đến trạm cũ Toàn Thạnh, đi đến miếu Văn Thánh cũ. Miếu này đã được chuyển đến thờ tại Thành Diên Khánh, vùng Phú Lộc (thị trấn Diên Khánh), nay là Văn Miếu Diên Khánh trên nền cũ Văn Miếu Khánh Hòa. Đi gần 60m đến Chùa Thành cũ, chùa này do Cẩm Long hầu tạo lập nên thời Chúa Nguyễn, mặt trước có bức tường đá vôi, năm 1796, phá tường lấy đá xây Văn Miếu, nay chùa đã hư hỏng. Đi 106m đến chùa Kỳ Lân cũ, chùa này do bà chính thất của Cai bạ Cẩm Long hầu lập nên, nay đã hư hỏng, chỉ còn lại nền, hình hai con kỳ lân. Đi 330m, đoạn đường có dân cư đông đúc. Đi tiếp 1,3km đến cầu Giáng Hương, cầu dài hơn 18m, phía Nam cầu thuộc xã Thạch Thành, (nay là thôn, thuộc xã Ninh Quang, huyện Ninh Hòa), phía Bắc thuộc xã Toàn Thạnh, xưa có cây giáng hương mọc ở bờ sông.  Rồi đi khoảng đường 330m, hai bên ruộng vườn, đất khô, dân cư thưa thớt, đi thêm 88m ven đường sông Đập Đá, đến cầu xã Thuận An (nay là thôn Chấp Lễ, xã Ninh Thân, huyện Ninh Hòa), cầu dài 26m, tục gọi là cầu Đập Đá. Phía Nam cầu thuộc xã Phước Lộc (thuộc xã Ninh Quang), phía Bắc thuộc xã Thuận An. Đi 210m, hai bên đồng ruộng, đất khô xen lẫn rừng rậm, đến chân Núi Đất, dài 210m, thuộc xã Phước Lộc. Đi 564km, đến trạm HÒA MỸ mới lập.

NVB

(xem tiếp kỳ 2)

Bài cùng tác giả

 

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com